Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ HOA
CÁI TÔI TÁC GIẢ TRONG NHẬT KÝ
ĐẶNG THÙY TRÂM VÀ MÃI MÃI TUỔI 20
CỦA NGUYỄN VĂN THẠC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Giáo sƣ Phong Lê Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
iii
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn :
- Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại họctrƣờng Đại
học Sƣ Phạm - Đại học Thái Nguyên.
- Các thầy, cô giáo ở Viện Văn học, trƣờng Đại học Sƣ phạm I Hà Nội,trƣờng
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, trƣờng Đại học Sƣ Phạm Thái
Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khoá học.
Đặc biệt tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sƣ Phong Lê, ngƣời
đã động viên, chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình viết luận
văn. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hoa
1.1.2. Cái tôi tác giả trong văn học 12
1.2. Giá trị văn học của hai cuốn nhật ký 16
1.3. Khái quát về hai tác giả, lƣợc kể hành trình hai cuốn nhật ký trong hơn
30 năm 18
1.3.1. Khái quát về hai tác giả 18
1.3.2. Lƣợc kể về hành trình hai cuốn nhật ký 21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
v
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁI TÔI TÁC GIẢ TRONG NHẬT KÝ ĐẶNG
THÙY TRÂM VÀ MÃI MÃI TUỔI HAI MƢƠI CỦA NGUYỄN VĂN THẠC 27
2.1. Cái nhìn yêu đời, lạc quan 27
2.2. Niềm khao khát lý tƣởng, ƣớc mơ thực hiện lý tƣởng và sự suy tƣ về đất
nƣớc và con ngƣời 37
2.3. Những suy tƣ trăn trở đời thƣờng 48
2.4. Bức chân dung tinh thần trung thực và toàn diện về một thế hệ trẻ của
Việt Nam trong chiến tranh 53
CHƢƠNG 3: BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TÁC GIẢ TRONG NHẬT KÝ ĐẶNG
THÙY TRÂM VÀ MÃI MÃI TUỔI HAI MƢƠI CỦA NGUYỄN VĂN THẠC 59
3.1. Nhân vật 59
3.1.1. Một nữ trí thức tiêu biểu trong tƣ duy và hành động 60
3.1.2. Một thanh niên khao khát lý tƣởng và có hoài bão văn chƣơng 63
3.2. Giọng điệu 66
3.2.1. Giọng thƣơng cảm 67
3.2.2. Giọng thức tỉnh 69
3.2.3. Giọng triết lý 72
3.2.4. Giọng trữ tình 78
3.2.5. Giọng trăng trối 81
KẾT LUẬN 84
ác liệt. Những giá trị tinh thần, vẻ đẹp tâm hồn tƣởng chừng nhƣ đã bị nhạt
nhòa trong nhịp sống hối hả của con ngƣời hiện đại ngày nay, nhƣng dƣờng
nhƣ nó vẫn luôn tồn tại, và đƣợc xã hội tôn vinh nhiều đến nhƣ thế. Mãi mãi
tuổi 20 và Nhật ký Đặng Thùy Trâm không chỉ cuốn hút những thế hệ từng mặc
áo lính, cấm súng ra mặt trận để chiến đấu và bảo vệ tổ quốc mà nó còn thu hút
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
rất nhiều những ngƣời trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, chƣa từng nếm trải
trận mạc, máu và lửa, mất mát và hi sinh. Lý giải cho sức lan truyền kỳ diệu và
mạnh mẽ của những cuốn sách không gì khác đó là sự chân thật tự nhiên nhƣ
cuộc sống vốn có, sự chân thật vốn có đó đã đƣợc thể hiện thành công trong
những trang viết đầy chất lý tƣởng và tình ngƣời.
1.3.Thêm vào đó, có thể thấy rằng, từ đầu thế kỷ XX đến nay văn học Việt
Nam phát triển một cách nhanh chóng theo hƣớng đa dạng hóa. Thể ký nhờ đó mà
cũng dần không còn xa lạ với bạn đọc. Trong dòng chảy văn học ấy, với thể loại
ký, đặc biệt là nhật ký trong và sau chiến tranh, chúng tôi đặc biệt chú ý đến hai
cuốn nhật ký, đó là Nhật ký Đặng Thùy Trâm của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm
và Mãi mãi tuổi hai mƣơi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc.
Hai cuốn nhật ký đều đƣợc viết bởi những ngƣời lính tham gia trong
chiến tranh những năm chống Mỹ ác liệt. Mặc dù đƣợc viết trong chiến tranh,
phản ánh chân thực về chiến tranh chống Mỹ nhƣng nó không xuất hiện ngay
trong thời điểm đó mà lại trải qua hành trình hơn 30 năm sau khi chiến tranh
kết thúc mới xuất hiện và trở thành một hiện tƣợng đặc biệt.
Nhật ký Đặng Thùy Trâm (NXB Hội nhà văn, 2005) là cuốn nhật ký của
nữ bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đƣợc chị viết trong 3 năm (từ 8/4/1968 đến
20/6/1970). Cuốn nhật ký đã theo chị khắp những năm tháng mƣa bom lửa đạn
ấy, ngay cả trong phút giây cuối cùng của cuộc đời mình trên chiến trƣờng Đức
Phổ - Quảng Ngãi năm 1970. Cuốn nhật ký này đã đƣợc một sĩ quan quân báo
2/5/2005 có đoạn: “Và có thật chị ấy đã tốt nghiệp về chính trị cũng nhƣ đã tốt
nghiệp về y khoa? Chị ấy lấy đâu ra khả năng để cảm thụ cái đẹp? Chúng tôi
muốn biết vì sao Thùy có thể kiên định đến thế, vì sao chị lại trở thành dũng
cảm đến thế, bao nhiêu năm rồi chúng tôi chứ đƣợc hỏi bà những câu hỏi ấy, đó
là những bài học cho tất cả chúng tôi”.
Còn cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mƣơi cũng là một cuốn nhật ký đƣợc
viết trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam do Nguyễn Văn
Thạc, sinh viên xuất sắc của khoa Toán-Cơ trƣờng Đại học Tổng hợp Hà
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Nội,viết. Anh đã từng đạt giải nhất cuộc thi học sinh giỏi văn lớp 10 toàn miền
Bắc năm học 1969-1970.
Theo chủ trƣơng chung, ngƣời thanh niên Hà thành đã từ giã trƣờng Đại
học với tƣơng lai đầy hứa hẹn để lên đƣờng làm nhiệm vụ của một ngƣời con
đối với Tổ quốc. Anh nhập ngũ cuối năm 1971 và chỉ với chƣa đầy 20 tuổi đời,
10 tháng tuổi quân, Nguyễn Văn Thạc đã anh dũng hi sinh trên chiến trƣờng
Thành Cổ - Quảng Trị. Trong những tháng ngày hành quân ra chiến trƣờng,
mặc dù gian khổ vất vả nhƣng anh đã ghi chép đƣợc những điều tai nghe mắt
thấy, những cảm nhận về con ngƣời, cuộc sống, chiến tranh và đặc biệt là
những dự cảm về ngày 30/4/1975 trong cuốn sổ tay nhỏ của mình mang tên
Chuyện đời mà sau này xuất bản có tên Mãi mãi tuổi hai mƣơi.
Tƣởng rằng cuốn nhật ký sẽ mãi là những kỷ niệm trên đƣờng hành quân
của Thạc mà chỉ có riêng anh biết. Nhƣng chiến tranh lùi xa 30 năm, gia đình
liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đọc lại những dòng nhật ký ấy và thấy rằng nó có thể
góp phần phản ánh chân thực cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân ta, đồng
thời thấy đƣợc chân dung tinh thần của một thế hệ thanh niên giác ngộ lí tƣởng
Cách mạng, sẵn sàng hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc cho nên đã gửi
bản thảo cuốn nhật ký cho Nhà xuất bản Thanh Niên để in nhân dịp kỷ niệm 30
Nhật ký Đặng Thùy Trâmlần đầu tiên đƣợc xuất hiện trƣớc công chúng là trong
bài nói ởhội thảo thƣờng niên về chiến tranh Việt Nam đƣợc tổ chức tại Trung
tâm Việt Nam của trƣờng đại học Texas – Mỹdo hai anh em Fred và Rob cung
cấp. Họ đã lƣu giữ cuốn nhật ký suốt hơn 30 năm để rồi những gì viết trong
cuốn nhật ký thôi thúc họ, cảm hóa họ và làm cho hai anh em Fred trân trọng
lƣu giữ và mong muốn trả nó trở về với ngƣời chủ của cuốn nhật ký. Còn Mãi
mãi tuổi hai mƣơi của Nguyễn Văn Thạc, là nhờ vào ngƣời anh trai của liệt sỹ
lần ngƣời anh trai của liệt sĩ- ông Nguyễn Văn Thục-thấy rằng cuốn nhật ký có
thể góp phần phản ánh thực tế chiến tranh thời kỳ chống Mỹ đồng thời góp
phần làm cho thế hệ trẻ hôm nay có một cái nhìn chân thực về chiến tranh để từ
đó trân trọng,nên rất cần đƣợc in ra
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Chúng tôi cũng thấy một số bài phê bình nghiên cứu viết về hai cuốn
nhật ký trên các bài báo và một số cuốn sách.
Trong bài Sống mãi những trang nhật ký sau khoảng lặng 30 năm in
trong cuốn Cảm thức tân xuân – Giáo sƣ Phong Lê viết: “Đây là hai cuốn nhật
ký ngƣời viết chỉ viết cho riêng mình, và giá có một mong mỏi xa xôi nếu mình
còn sống hoặc nếu cuốn nhật ký còn lƣu giữ đƣợc thì cũng chỉ là cho ngƣời
thân của mình. Nhƣ vậy là nó đƣợc viết với sự trung thực tuyệt đối với bản
thân, và tuyệt không bị chi phối bởi bất cứ áp lực nào khác – áp lực của sự in
ra, sự phổ biến ”[18,tr.179].Giáo sƣ Phong Lê cũng đã nhắc tới việc cuốn nhật
ký đƣợc viết ra chân thực, không bị sự gò bó nào trong cách viết.
Trong lời cuối cuốn 35 năm và 7 ngàynhà văn Lê Minh Khuê nhận xét
cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm xuất hiện đã gây nên một hiện tƣợng xã hội đặc
biệt: “ Sau hơn 30 năm chiến tranh kết thúc, việc công bố nhật ký của các liệt
sĩ lại gây nên một cơn sốt đọc sách, gây nên trong tâm hồn mỗi ngƣời, nhất là
thế hệ trẻ sự xáo trộn theo chiều hƣớng tốt đẹp”[27,tr. 183].
Báo chí những năm 2005 lấy hiện tƣợng này làm đề tài, có rất nhiều tờ
báo, bài báo nói về sự xuất hiện của hai cuốn sách. Trên báo Tuổi trẻ thành phố
Hồ Chí Minh ra ngày 21/5/2005:“Bạn sẽ đọc vào trang sách và bạn thấy mình
đang đọc một trái tim, đọc một tâm hồn Một tình yêu lí tƣởng tiêu biểu của
thanh niên thời chiến tranh ấy. Chàng trai ra trận, cô gái đi học xa, tình yêu
vƣợt không gian và thời gian chín lên trong tình cảm nhớ thƣơng mong ngóng
đợi chờ hi vọng của hai ngƣời ”
Sự xuất hiện của hai cuốn nhật ký đã gây chú ý cho rất nhiều độc giả
trong và ngoài nƣớc, ở Việt Nam nó đã gây ra một cơn sốt đọc sách. Nhƣ đã
nói, có rất nhiều bài báo, bài phê bình viết về hiện tƣợng văn học này. Và có lẽ
công chúng văn học không rời mắt khỏi hai cuốn nhật ký kể từ năm 2005 đến
nay. Không chỉ là đề tài để các nhà phê bình nghiên cứu văn học tìm hiểu, mà
hai cuốn nhật ký cùng với số phận khá đặc biệt của nó tạo sức hút lớn đối vói
độc giả và khi nó đƣợc chuyển thể thành phim thì sức hấp dẫn còn tăng lên gấp
bội. Hai cuốn nhật ký đã khơi nguồn cảm hứng cho các đạo diễn để rồi hai bộ
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
phim đƣợc chuyển thể từ nội dung hai cuốn nhật ký ấy đã ra đời. Đạo diễn
Đặng Nhật Minh đã rất thành công khi dàn dựng bộ phim Đừng đốt dựa trên
cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, sau khi công chiếu đã thu hút hàng vạn lƣợt
khán giả theo dõi. Còn Mãi mãi tuổi hai mƣơi có nhắc nhiều đến Hoàng Nhuận
Cầm và chính nhà thơ đã dàn dựng thành công bộ phim Mùi cỏ cháy dựa trên
những ghi chép chân thực của Nguyễn Văn Thạc.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi mới tìm đƣợc những
đánh giá, nhận xét, những bài phê bình riêng lẻ về hai cuốn nhật ký này.
Điểm chung của các ý kiến là họ đều đi sâu vào khẳng định chất thực của
chúng; rằng hai cuốn nhật ký dù đƣợc chúng tôi coi là những văn bản tác
phẩm văn học, song đƣợc viết không nhằm mục đích sáng tạo nghệ thuật,
quan; Niềm khao khát lý tƣởng, ƣớc mơ thực hiện lý tƣởng, sự suy tƣ về đất
nƣớc và con ngƣời; Những suy tƣ trăn trở đời thƣờng.
Dựa trên cơ sở lý luận về cái tôi tác giả luận văn mong góp phần làm
sáng tỏ hơn những biểu hiện của cái tôi tác giả qua một số những yếu tố, tín
hiệu nghệ thuật của hai cuốn nhật ký nhƣ nhân vật, giọng điệu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi có sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nghiên
cứu sau:
Phƣơng pháp lịch sử - xã hội
Phƣơng pháp tiểu sử
Phƣơng pháptiếp cận thi pháp học
Phƣơng pháp hệ thống
Phƣơng pháp thống kê, khảo sát
Phƣơng pháp phân tích tổng hợp
Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh
6. Đóng góp của luận văn
Nhật ký chiến tranh là một thể loại khá mới mẻ. Cũng vì lẽ đó mà những
đóng góp của nó với dòng văn học viết về đề tài chiến tranh còn chƣa đƣợc
đánh giá đúng mực. Nghiêncứu hai cuốn nhật ký này, luận văn mong
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
muốnmang lại sự mới mẻ và những đóng góp của nhật ký trong đời sống văn
học Việt Nam.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, luận văn có cấu trúc gồm
3 chƣơng:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN. KHÁI QUÁT VỀ HAI TÁC GIẢ VÀ
LƢỢC KỂ VỀ HÀNH TRÌNH CỦA HAI CUỐN NHẬT KÝ TRONG HƠN 30 NĂM
ngƣời đọc.
Tác giả là một khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trong nghiên cứu và phê
bình văn học. Tác giả thƣờng đƣợc hiểu là ngƣời sáng tạo ra tác phẩm văn học.
Đó có thể là một cá nhân hoặc một tập thể sáng tạo nhằm thể hiện tâm tƣ, tình
cảm, thái độ của mình trƣớc thực tại.
Trong Từ điển thuật ngữ văn họcđã định nghĩa tác giả:“Nhìn bề ngoài,
tác giả là những ngƣời làm ra văn bản ngôn từ, bài thơ, bài báo, tác phẩm văn
học. Về thực chất, tác giả văn học là ngƣời làm ra cái mới, ngƣời sáng tạo ra
các giá trị văn học mới. Sự bắt chƣớc, mô phỏng, theo đuổi thời thƣợng hoặc
sáng tác không có bản sắc không làm nên tác giả văn học đích thực”[8, tr 190].
Tác giả văn học nhƣ vậy phải là những ngƣời có tƣ cách, có tài năng và
có ý thức đầy đủ, sâu sắc về nghề nghiệp, phải coi sáng tạo nghệ thuật là máu
thịt, là tâm huyết của đời mình. Nhƣ vậy tác giả mới thực sự trở thành tác giả
của các sáng tác bất hủ, có sức sống không chỉ vói một thời mà với muôn đời.
Tác phẩm văn học do quá trình tiếp nhận ở ngƣời đọc, có thể tham gia
vào các môi trƣờng xã hội khác nhau, thuộc các giai đoạn lịch sử khác nhau.
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Cũng từ đó tác phẩm nghệ thuật có sinh mệnh và có một đời sống lịch sử riêng.
Hệ quả tất yếu của điều đó là: đời sống lịch sử của tác phẩm văn học là sự vận
động, chảy trôi không ngừng trong cảm quan của mỗi thế hệ bạn đọc cũng nhƣ
trong sự thăng trầm của lịch sử. Tác phẩm nghệ thuật đó khi đến tay ngƣời đọc
cũng có nghĩa là nó đƣợc trả về với đời sống hiện thực, chịu sự kiểm nghiệm
của công luận và thời gian. Một tác phẩm văn học thực sự có sức sống khi nó
đƣợc tiếp nhận ở nhiều bình diện khác nhau.
Một tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là tấm gƣơng phản ánh
đời sống và nhận thức cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của ngƣời nghệ
sĩ. Việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tác giả, đến quá trình sáng tạo của
cảm xúc, cảm quan về thế giới thực tại, trí tƣởng tƣợng, năng lực hƣ cấu, sự lựa
chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng thủ pháp nghệ thuật, cách sử dụng ngôn từ
đều đƣợm màu sắc chủ quan của ngƣời sáng tạo ra thế giới nghệ thuật của tác
phẩm. Dấu ấn của chủ thể sáng tạo để lại trong tác phẩm thể hiện rõ nét trong
cái tôi tác giả.
Tác phẩm văn chƣơng – chỉnh thể nghệ thuật – trong sự vận động của nó
đã biểu lộ sự nhìn nhận đánh giá cuộc sống của ngƣời nghệ sĩ. Sự nhìn nhận,
đánh giá đó đối với hiện thực thể hiện cá tính sáng tạo của tác giả.
Cái tôi tác giả trong tác phẩm văn học tồn tại với tƣ cách là một trong
những yếu tố quyết định của phong cách cá nhân nhà văn, của phong cách tác
phẩm nghệ thuật.
Qua sự tự thể hiện mình trong tác phẩm văn học, các nhà văn đã khẳng
định phong cách nghệ thuật của mình. Dĩ nhiên khi xác định con đƣờng đi theo
nghệ thuật, các nhà văn không bao giờ muốn sáng tạo ra những tác phẩm nghèo
nàn nhạt nhẽo bởi “Cái bình thƣờng là cái chết của nghệ thuật” (Victo Huygo).
Trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, cá tính riêng biệt bao
giờ cũng đƣợc đề cao. Không ai muốn mình giống ngƣời khác và cũng không
ai muốn ngƣời khác giống mình. Nhà văn chân chính thực sự sẽ tìm mọi cách,
bằng tài năng của mình, để tạo cho mình một phong cách cá nhân riêng biệt mà
không thể tìm thấy ở bất kỳ một ngòi bút nào khác.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Nhà văn Nga thế kỷ XIX Lep Tônxtoi trong Toàn tập tác phẩm đã nói:
“ Khi chúng ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ thuật của một tác giả
mới thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là nhƣ sau
“Nào anh ta là con ngƣời nhƣ thế nào đây? Anh có gì khác với tất cả những
ngƣời mà tôi biết, và anh có thể nói cho tôi một điều gì mới về việc cần phải
nhìn cuộc sống của chúng ta nhƣ thế nào?”( ) Nếu nhƣ đó là một nhà văn cũ
tâm thì đối với ký, ngƣời đọc nắm bắt một cách trực tiếp. Chủ thể của lời nói
nghệ thuật trong tác phẩm ký chính là bản thân ngƣời viết. Chính vì lẽ đó ngƣời
kể chuyện trong ký thƣờng lộ diện trực tiếp trong hình thức ngƣời kể chuyện
xƣng “tôi”.
Với đặc trƣng riêng của thể loại, ký bộc lộ trực tiếp cái tôi tác giả. Nếu
cái tôi của nhà tiểu thuyết đƣợc ẩn vào trong những hình tƣợng nhân vật, vào
cách đánh giá, cách nhìn đối với cuộc sống, đƣợc toát ra từ sự tƣơng quan giữa
nhiều cái nhìn, nhiều quan niệm, từ sự phức điệu đa thanh đặc trƣng cho tiểu
thuyết, và ở thơ cái tôi tác giả phải bộc lộ qua thao tác chuyển hóa thế giới nội
tâm vào nhân vật trữ tình thì ở ký cái tôi tác giả là cái tôi tự biểu hiện.
Bằng cái tôi đó, tác giả đã trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp đến
đời sống thực của họ – những gì mà nhà văn đã sống, đã trải qua, đã thấy, đã
cảm bằng đôi mắt, bằng trái tim, bằng sự suy nghiệm của chính bản thân mình.
Không thể phủ nhận hƣ cấu nghệ thuật trong ký song xét cho cùng, những vấn
đề chứa đựng trong tác phẩm ký phải giống nhƣ một thƣớc phim tƣ liệu tạo ra
khoái cảm đặc biệt đối với ngƣời đọc bằng những thông tin thực sự chính xác.
Cái tôi trong tác phẩm ký văn học chính là cái tôi thẩm mỹ. Cái tôi ấy
gắn liền với thế giới quan thẩm mỹ của tác giả. Ở đó mỗi con số, mỗi sự kiện,
mỗi chi tiết, mỗi nhân vật tự bản thân nó đã bộc lộ cái nhìn, sự đánh giá và luận
giải của tác giả về thế giới thực tại bởi nó đã qua sự chọn lọc, nó đƣợc mài giũa
bằng giác quan nghệ thuật tinh tế của tác giả.
Trong thể ký, cái tôi là hình thức trực tiếp của hình tƣợng tác giả, đồng
thời vừa nhƣ một phƣơng thức trần thuật quan trọng với tƣ cách chức năng
nghệ thuật cái tôi đi – nghe – kể – tả – suy ngẫm – ngợi ca – phê phán – đề
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
nghị… do vậy, cái tôi tác giả cũng là một yếu tố liên kết tác phẩm. Để có cái tôi
nhập vai đó đòi hỏi ngƣời viết ký phải có tri thức, phải có bản lĩnh văn hóa hay
những dòng suy nghĩ đƣợc ghi vội nơi chiến trƣờng ác liệt.
Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong bài viết Trang sách cuộc đời
anh đăng trên báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh, 21/5/2005 đã nhận xét: “Anh ghi
cho mình và chỉ cho mình thôi. Cuốn sổ này anh gọi Chuyện đời. Bây giờ bạn
đọc nó sẽ thấy nó vừa là nhật ký, vừa nhƣ một cuốn sổ tự tu dƣỡng, lại vừa nhƣ
những ghi chép sáng tác văn học”. Phong Điệp trong bài viết Sức sống thần kỳ
của một cuốn nhật ký(Báo Văn nghệ trẻ, 15/5/2005) cũng đã coi những trang
viết trên đƣờng hành quân “không đơn thuần là nhật ký riêng tƣ mà nó có giá
trị văn học đích thực”.
Khi tiếp xúc với Nhậtký Đặng Thùy Trâm chắc hẳn ai trong chúng ta
cũng hình dung ra đây là những dòng tâm sự của một tâm hồn lãng mạn bởi
chất trữ tình và bi tráng của nữ bác sĩ – chiến sĩ cảm nhận giữa chiến trƣờng về
những gian khổ trong chiến tranh. Nhà nghiên cứu Vƣơng Trí Nhàn đã nhận
xét: “ Cuốn nhật ký có số phận kỳ lạ nhất; cuốn nhật ký mà ngƣời con gái
cƣơng nghị, thủy chung, trong sáng đến thánh thiện đã viết với bao buồn vui
cay đắng, đớn đau và nƣớc mắt; cuốn nhật ký mà ngƣời con gái 27 tuổi đã trút
vào đó cả nỗi nhớ cháy bỏng khôn nguôi về gia đình, về những ngõ phố của Hà
Nội yên ấm, cả cơn đau xé ruột khi mỗi ngày trôi qua một đồng đội thân
thƣơng lại ngã xuống ”. Quả thực cuốn sổ nhỏ bé có sức hút ghê gớm khiến
cho Fred gìn giữ suốt 35 năm và luôn đau đáu nỗi niềm đi tìm gia đình ngƣời con
gái đó để trả lại. Giả thiết nếu những cuốn sách kia không có giá trị, không thu
hút ngƣời đọc thì chắc hẳn nó sẽ nằm sâu trong đống tro tàn đổ nát của chiến
tranh rồi. Nhƣng không, cuốn sổ nhỏ có sức hút ghê gớm đối với những ngƣời
lính bên kia chiến tuyến, khiến cho họ không thể làm theo mệnh lệnh, trái lại
đƣợc lƣu giữ một cách cẩn thận. Bản thân Fred đã nhận ra rằng những trang viết
“có số phận kỳ lạ” này đã thấm đẫm tình yêu thƣơng và lòng nhiệt thành rực
cháy nhƣ lửa vậy. Cuốn sách là đại diện cho đời sống tinh thần và lý tƣởng của
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Với kết quả học tập, thi tốt nghiệp loại ƣu, bác sĩ trẻ Thùy Trâm có thể,
hoặc nhận lời ở lại trƣờng làm cán bộ giảng dạy hoặc nhận công tác tại một
bệnh viên hoặc cơ quan nào đó ở ngay Hà Nội vì bố mẹ đều là cán bộ có uy tín,
có nhiều quan hệ trong ngành Y tế. Nhƣng thay vì ở lại miền Bắc, sau khi tốt
nghiệp chị đã xung phong vào Nam ngay. Năm 1966, Thùy Trâm xung phong
vào công tác ở chiến trƣờng B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3
năm 1967chị vào đến Quảng Ngãi và đƣợc phân công về phụ trách bệnh viện
huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhƣng chủ yếu điều trị cho các thƣơng
bệnh binh. Tại đây, Đặng Thùy Trâm đã không ngại khó khăn gian khổ tận tình
cứu chữa cho rất nhiều đồng chí bị thƣơng. Với lòng nhiệt tình, tận tụy sống hết
lòng vì Tổ quốc, sự nỗ lực cố gắng không ngừng chịđƣợc kết nạp vào Đảng
Cộng Sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba
Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chƣa đầy
28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
Hài cốt của chị đƣợc nhân dân địa phƣơng mai táng tại nơi hy sinh và
luôn hƣơng khói. Sau chiến tranh, mộ của chị đƣợc đồng đội đƣa về Nghĩa
trang liệt sĩ xã Phổ Cƣờng. Năm 1990, gia đình đã đƣa hài cốt của chị về Nghĩa
trang liệt sĩ xã Xuân Phƣơng, Từ Liêm, Hà Nội.
Chị đồng thời là tác giả hai tập nhật ký đƣợc viết từ ngày 8 tháng 4
năm 1968, khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970,
2 ngày trƣớc khi hy sinh. Hai tập nhật ký này đƣợc Frederic Whitehurst, cựu sĩ
quan quân báo Hoa Kỳ, lƣu giữ cho đến ngày đƣợc trả lại cho gia đình tác giả
vào cuối tháng 4.2005. Nhật ký của chị sau đó đƣợc nhà phê bình văn
học Vƣơng Trí Nhàn biên tập thành quyển sách mang tên Nhật ký Đặng Thùy
Trâm và trở thành một hiện tƣợng văn học với hơn 400.000 bản đƣợc bán trong
lần in đầu tiên. Cuốn sách đã đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng và đƣợc báo chí
Vừa học năm thứ nhất, anhvừa tự học thêm để hoàn thành chƣơng trình năm
thứ 2 và đƣợc nhà trƣờng đồng ý cho lên học thẳng năm thứ 3.