Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ dược của người dân quận cầu giấy và huyện từ liêm hà nội - Pdf 29

BỘ Y TÊ
TRƯÒNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘỈ
sv. NGUYỄN PHƯƠNG HẠNH
KHẢO SÁT NHU CẦU LựA CHỌN DỊCH v ụ
• • • •
DƯỢC CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN CÀU GIAY
VÀ HUYỆN TỪ LIÊM - HÀ NỘI
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ ĐẠI HỌC KHÓA 1996 - 2001)
Ngưòi hướng dẫn:
TS. LÊ VIẾT HÙNG
DS. LÊ THỊ UYỂN
Nơi thực hiện:
Quận Cầu Giấy - huyện Từ Liêm - Hà Nội
Bộ môn Quản lý kinh tế Dược
Thời gian thực hiện:
Tháng 3 - 5/2001
ị - " * ị
\ r :0> : /
, -
J ế
~ HÀ N ÔI-5/2001 Z 7
h1 . 3
‘Tôi JQU chân thành 6ày tỏ Còng 6iết ơn sâu sắc tói <zỹ. Lê Vừỉ ‘Hùng đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện kho á Cuận.
‘Tơi jận gửi íời cầm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong 6ộ môn Quản
[ý - %inh tê'(Dược cùng các thầy cô giáo trong trường, gŨL đình và 6ạn 6è đẵ
đọng viên và giúp ấỡ tôi hoàn thảnh íịịioấ Cuận.
Tôi jận gửi ữfi cầm ơn chân thành tói Trung tâm °{tế quận cầu Ọiâỳ,
Trung tâmy tê âuyện Tủ’ Lừm và tất cả những người đã tham, gia phỏng vấn
củng như trả Cời 6ộ câu hỏi trong quá trình fịíiẩo sất của tôi
'Ha Nội, ngày 20 thắng 5 năm 2001

Nhà nước
SDK
Số đăng ký
TN Tư nhân
TTBQ
Tiền thuốc bình quân
TTY Thuốc thiết yếu
TW
Trung ương
WHO / TCYTTG TỔ chức Y tế Thế giới
XNDP
Xí nghiệp Dược phẩm
XNK
Xuất nhập khẩu
YHCTDT
Y học cổ truyền dân tộc
YTTN Y tế tư nhân
MỤC LỤC
Trang
Phần I: Đặt vấn đề 1
Phần II: Tổng quan 2
2.1. Một số nét khái quát về ngành Dược Việt Nam trong cơ chế mới 2
2.2. Sự lựa chọn dịch vụ Dược của cộng đồng 12
2.2.1. Vài nét vê tình hình cung ứng thuốc hiện nay 13
2.2.2. M ột s ố tiêu chuẩn của cung ứng thuốc cho cộng đồng 16
2.2.3. Mô hình dịch vụ Dược của nước ta hiện nay 17
Phần III: Phương pháp và kết quả khảo sát 18
3.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 18
3.1.1. Đôi tượng nghiên cứu 18
3.1.2. Phương pháp nghiên cíãi 18

nhiều thành phần kinh tế được khuyên khích cùng tham gia vào hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng thuốc, tạo ra sức bật mới cho ngành Dược
Việt Nam với một thị trường thuốc phong phú, cơ bản đáp ứng nhu cầu thuốc
cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, giải quyết được tình
trạng khan hiếm thuốc của thời kỳ bao cấp. Bên cạnh đó, Bộ Y tê đã ban hành
Pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân nhằm huy động nhiều nguồn lực tham
gia dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ Dược bao gồm hệ thống hành nghề Dược
tư nhân cùng các doanh nghiệp Nhà nước và các công ty dược nước ngoài. Sự
phong phú của các loại hình dịch vụ Dược đặt ra yêu cầu nghiên cứu các ưu
nhược điểm của chúng cũng như đánh giá sự lựa chọn củavcộng đồng đối với
từng loại hình. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài:
" Khảo sát nhu cầu lựa chọn dịch vụ Dược của người dân quận Cầu
Giấy và huyện Từ Liêm - Hà Nội” nhằm các mục tiêu sau:
- Xác định các loại hình dịch vụ Dược được người dân lựa chọn trên địa bàn
nghiên cứu.
- Xác định các yếu tố thúc đẩy người dân lựa chọn các loại hình dịch vụ
Dược.
- Đánh giá, so sánh các ưu nhược điểm của từng loại hình và trên cơ sở đó
có những kiến nghị và đề xuất nhằm mục đích hoàn thiện mạng lưới cung ứng
thuốc cho cộng đồng.
1
PHẦN I I : TỔNG QUAN
2.1. Một số nét khái quát về ngành Dược Việt Nam trong cơ chê mới;
Sau 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kỉnh
tế - xã hội (1991-2000), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của
Đảng, nước ta đã đạt được nhiều những thành tựu quan trọng, về tình hình
chung, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và chuyển sang thời kỳ
mới đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung
quan liêu,bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, từ chỗ chủ yếu chỉ có hai thành phần là

TTBQ(USD) 0,5
1,0
2,2 2,5 3,2 4,2
4,6 5,2 5,5 5,0
5,4
(Nguồn: Cục QL Dược)
Việc gia tăng tiền thuốc ngoài sự tác động của một số yếu tố khách quan
như sự biến động về giá thuốc trong cơ chế thị trường, sự thay đổi tỷ giá VNĐ
và USD do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính hay do thu
nhập của dân cư tăng lên thì chủ yếu là do các nguyên nhân chủ quan sau:
2.1.1. Nguồn thuốc cung ứng ngày càng dồi dào bao gồm cả thuốc sản
xuất trong nước và thuốc nhập khẩu. Vào năm 1992, kết quả thống kê cho
thấy lĩnh vực sản xuất thuốc đã tăng gấp 3 lần và lĩnh vực xuất nhập khẩu
thuốc đã tăng gấp 10 lần trong vòng chưa đến 5 năm. Thị trường dược phẩm
Việt Nam được dự kiến sẽ tăng tnrởng nhanh chóng trong những năm tới và sẽ
trở thành một trong những tiềm năng to lớn cho sự phát triển của thị trường
dược phẩm thế giới [17].
❖ Về tình hình sản xuất thuốc trong nước, trước đây các cơ sở sản xuất
dược phẩm của ta đều là xí nghiệp bào chế thuốc mà nguyên liệu chủ yếu
được nhập từ nước ngoài. Nhà xưởng và trang thiết bị lạc hậu. Bên cạnh đó,
ngành Y tế không quản lý và điều tiết được về vấn đề nhập khẩu thuốc và
nguyên liệu làm thuốc. Song gần đây, vấn đề này đã được ổn định cùng với
sự đổi mới công nghệ đã khuyến khích các đơn vị không ngừng đầu tư phát
triển. Đến nay đã có 18 đơn vị sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn Thực hành sản
xuất thuốc tốt GMP- ASEAN trong đó 7 cơ sở do nước ngoài đầu tư, 7 cơ sở
trực thuộc TW, 3 cơ sở của tỉnh và 1 là công ty TNHH. Thuốc sản xuất
trong nước đã đáp ứng được khoảng 26- 30% nhu cầu về thuốc của nhân
3
dân (tuy nhiên con số này có bao gồm cả những thuốc phải dùng nguyên
liệu nước ngoài).

Tỷ lệ gia tăng (%) (so với 1995) 100
124,8
138,2 148,4
139,7
(Nguồn : Cục Quẩn lý Dược Việt Nơm)
Qua bảng 2 và bảng 3 ta nhận thấy: tốc độ sản xuất thuốc trong nước và
nhập khẩu thuốc đều tăng trong các năm vừa qua. Tổng giá trị nhập khẩu
thuốc trước năm 1998 có tăng cao hơn so với tốc độ sản xuất trong nước,
nhưng đến năm 1999, sau khi ngành Dược thực hiện đầu tư và phát triển, tổng
giá trị nhập đã giảm so với thuốc sản xuất trong nước. Chính vì vậy, phương
hướng thực hiện CSTQG trong giai đoạn II (2001- 2005) là " thực hiện qui
hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Dược theo hướng công nghiệp hoá, tập
trung và chuyên môn hoá, ngành Dược phấn đấu sản xuất thuốc trong nước
4
phải đáp ứng được 50- 60% nhu cầu thuốc phòng và chữa bệnh", giảm dần
lượng thuốc nhập khẩu trong tỷ trọng tiêu dùng thuốc của người dân [5]„
Mặc dù nền kinh tê cả nước còn gặp nhiều khó khăn, nhịp độ tăng trưởng
kinh tế chưa ổn định nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc vẫn tăng
trưởng đều đặn. So sánh các chỉ tiêu của hai năm gần đây cho thấy: về giá trị
tổng sản lượng năm 2000 tăng hơn năm 1999 là 33,99%; doanh thu sản xuất
tăng 25,05%. Tổng giá trị xuất khẩu tăng 79%; nhập khẩu tăng 10,15% [6] đã
cho thấy những bước tiến đáng kể của ngành Dược Việt Nam.
2.1.2. Sự gia tăng vê chủng loại thuốc:
Theo số liệu thống kê, năm 1993 chỉ có 775 mặt hàng thuốc trong nước
được cấp giấy phép lưu hành nhưng đến năm 1995, ở nước ta đã có khoảng
6000 thuốc được đăng ký trong đó có: 3400 thuốc trong nước với khoảng 150
hoạt chất và 2600 thuốc nhập khẩu với khoảng 600 hoạt chất.Và tính đến ngày
31/12/2000, số thuốc được cấp phép còn hiệu lực lên đến 9051 mặt hàng trong
đó thuốc trong nước: 5659 mặt hàng và 3392 thuốc nhập khẩu. Chủng loại
thuốc phong phú, đa dạng cùng với việc thực hiện các chiến lược sản phẩm,

có tiêu chuẩn để kiểm tra, đánh giá chất lượng, thiếu các chất chuẩn, chất đối
chiếu đặc biệt là các thuốc nhiều thành phần và các thuốc được nhập mà chưa
có SDK. Con số này đưa ra vấn đề về việc quản lý và kiểm nghiệm thuốc ở
Việt Nam. Ngoài ra các thuốc không đạt tiêu chuẩn thường được đem về tiêu
thụ ở các vùng nông thôn(5,01%), miền núi, vùng sâu,vùng xa( 4,23%) là
những nơi trình độ dân trí chưa cao và không tập trung nhiều máy móc, trang
thiết bị hiện đại phù hợp với công tác kiểm nghiệm [7].
2.1.3. Sự phát triển của màng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng, đặc
biệt là hệ thống hành nghề Dược tư nhân.
Theo tài liệu [4J, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau tham gia sản xuất và kinh doanh thuốc, đặc biệt là các
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân:
6
Bảng 4 : Sô lượng các doanh nghiệp dược từ 1996 đến 1999
Loai hình
Số lượng qua các năm
Tỷ lê (%) tăng
doanh nghiệp
1996 1997
1998 1999
1999/1996
DN trung ương 17
18 18
19 111,7
cty, XN dược địa phương
118 126 132
126
106,7
Dự án đầu tư đã được cấp giấy phép
18 20

4280 18,336
2,28
Như vậy, hệ thống hành nghề Dược tư nhân đã đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc cung ứng thuốc cho cộng đồng.Vậy, hệ thống này bao gồm
những loại hình nào? Theo Pháp lệnh hành nghề Y dược tư nhân cùng các
Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành thì hiện nay ở Việt Nam có các loại
hình HN DTN với số lượng như sau:
7
Bảng 5 : Sô lượng các loại hình HN DTN1998-1999
Số
TT
Loại hình
Số lượng
Số lượng tăng
Tỷlệ(%)
(năm 1999)
1998 1999
1 Công ty cổ phần
03 06
03 1
! 0,04
2
Công ty TNHH 156
234 78
1,41
3
Doanh nghiện tư nhân
10 15
5
0,09

nhất của cả nước mà từ đây, thuốc được phân phối đi các tỉnh thành khác.
8
❖ Loại hình DNTN cho đến hết năm 1999, trong cả nước chỉ có 15 DNTN,
rải rác ở 10 tỉnh trong cả nước nhưng tập trang chủ yếu ở miền Nam song loai
hình này không được ưu tiên phát triển nhiều do các điều kiên về vốn và nguy
cơ rủi ro trong kinh doanh cao hơn so với loại hình Công ty TNHH [2],
❖ Hai loại hình bán lẻ thuốc phục vụ nhân dân chủ yếu là nhà thuốc tư
nhân và đại lý của các doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của 2 loại
hình này đã góp nhần làm giảm gánh nặng cho hệ thống quốc doanh. Tuy
nhiên, có một nhược điểm cần nhanh chóng khắc phục là sự phân bố các nhà
thuốc không đổng đều, thường tập trung nhiều ở thành phố, thị xã, thị trấn, nơi
đông dân, có mức sống cao, giao thông buôn bán đi lại thuận lợi mà cao điểm
là Hà Nội(1403- chiếm 22,09%) và TP Hồ Chí Minh(2139- chiếm 33,68%),
còn lại thưa thớt ở vùng sâu, vùng xa [2]. Sự gia tăng số lượng các nhà thuốc
chủ yếu là do vấn đề lợi nhuận chi phối và điều này đã làm nảy sinh một vấn
đề khá bức xúc trong giai đoạn hiện nay. Đó là tính không công bằng trong
cung ứng và sử dụng thuốc của người dân giữa các vùng được thể hiện qua
một số con số thống kê sau:
Bảng 6 : Bán kính bình quân có điểm bán thuốc
Khu vực
Bán kính bình quân( km)
Hà Nội 0,42
TP HỒ Chí Minh 0,52
Kon Tum
10,27
Tây Nguyên
12,86
Lai Châu 15,08
Đắc Lắc 17,8
Theo khuyến cáo của TCYTTG, các điểm bán thuốc phải bố trí sao để

thuốc do nhà nước chi tính theo đầu người chỉ xấp xỉ đạt 0,67ƯSD(chiếm tỷ lệ
11,55% so với tiền thuốc bình quân đầu người- số liệu so sánh với năm 1999 -
còn rất thấp) do đó chi tiêu về thuốc giữa các vùng phụ thuộc vào mức thu
nhập của từng địa phương [1]. Đây cũng là một trong những thách thức đặt ra
cho ngành Y tế trong giai đoạn tới. Chính vì vậy, trong định hướng phát triển
sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân 2001- 2010, Đảng ta chủ
trương: "Nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong tiếp cận và sử dụng các
dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Nâng cao chất lượng CSSK ở
10
tất cả các tuyến Đổi mới cơ chế, chính sách viện phí, mở rộng y tế tự
nguyện, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Có chính sách trợ giúp cho người
nghèo được khám chữa bệnh" và trong phương hướng phát triển kế hoạch 5
năm 2001- 2005 là cố gắng phấn đấu "bảo đảm sự bình đẳng thụ hưởng các
dich vụ về y tế trong các tầng lớp dân cư
Qua phân tích trên, chúng ta thấy mặc dù mới bắt đầu đi vào hoạt động
được khoảng 10 năm nhưng hệ thống hành nghề Dược tư nhân đã phát triển
nhanh chóng, từng bước khẳng định vai trò của mình trong một cơ chế thị
trường đầy năng động. Hệ thống HNDTN đã có nhiều những đóng góp đáng
kể sau:
* Tăng thêm các điểm bán thuốc, mở rộng mạng lưới bán lẻ thuốc, tạo
thuận lợi, dễ dàng cho người dân khi cần mua thuốc, chiếm lĩnh phần lớn thị
trường bán lẻ.
* Đã đóng góp thêm được một lượng sản phẩm nhất định phục vụ việc
CSSK nhân dân. Số cơ sở sản xuất thuốc tư nhân là 192 đơn vị, lớn hơn số cơ
sở sản xuất của Nhà nước (103) tuy vậy về quy mô còn nhỏ hơn nhiều. Số mặt
hàng được đăng ký sản xuất, lưu hành là 662 sản phẩm, bằng 16% so với sản
phẩm của DNNN được phép lưu hành (4146). Tính theo giá trị sản lượng
chiếm khoảng 5-7% giá trị tổng sản lượng toàn ngành. Điều hạn chế là chất
lượng sản phẩm chưa cao, phần lớn là sản phẩm đông dược. Tuy nhiên, trong
tương lai, lượng thuốc này sẽ gia tăng khi các dự án đầu tư được cấp phép đi

2. 2. Sự iựa chọn dịch vụ Dược của cộng đồng:
Sức khoẻ của bất cứ cộng đồng nào cũng phụ thuộc vào sự tương tác và cân
bằng giữa nhu cầu của cộng đồng và nguồn lực y tế sẩn có, cũng như sự lựa
chọn và ứng dụng các can thiệp sức khoẻ và các can thiệp có liên quan đến sức
khoẻ.
12
(các nhà chuyên môn
nhận được từ các ban
ngành khác nhau và
từ công đồng)
NHƯ CẦU
VỀ
SỨC KHOẺ
NGUỖN Lực
YTẾ
(sẵn có từ các
dịch vụ sức khoẻ,
các ngành khác,
từ công đồng)
CAN THIỆP
SỨC KHOẺ
(có bao phủ tất cả?
có tác dụng?
giá có phải chăng?
có hiệu quả?
có chấp nhận được?
Hình 1 : Đánh giá các can thiệp sức khoẻ [11]
Chăm sóc sức khoẻ hay các nhu cầu về sức khoẻ liên quan đến nhiều nhân
tố. Những nhân tố đó bao gồm các nhân tố về kinh tế xã hội, lối sống, khả
năng tiếp cận với thuốc, khả năng quản lý người bệnh thông qua quá trìng tự

cơ sở là cầu nối giữa ngành y tế với các tổ chức chính quyền, đoàn thể, xã hội
và các tổ chức kinh tế địa phương và do đó, y tế cơ sở có vai trò to lớn trong
việc xã hội hoá công tác CSSK nhân dân [8]. Chính vì vậy mà chủ trương "
Hoàn chỉnh quy hoạch, củng cố và nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, có bác sĩ
làm việc ở tất cả các trạm y tế xã đổng bằng và trung du, phần lớn xã miền
núi" và chính sách " đồng bộ cả trong đào tạo và phân phối cán bộ Dược "
đang được đặt ra cấp bách.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Bộ Y tế, tuyến y tế cơ sở của nước ta có rất
nhiều vấn đề phải quan tâm.
* Các điểm dịch vụ y tế công cộng thường không có đủ thuốc phục vụ nhân
dân và đó là lý do khiến ngưòi dân tìm đến các điểm bán thuốc tư nhân.
14
* Vấn đề vi phạm quy chế chuyên môn ở các điểm bán thuốc tư nhân lại rất
phổ biến. Nhiều cơ sở không có đăng ký kinh doanh, thậm chí người bán
không có chuyên môn, thuốc có thể cùng bán với các loại hàng hoá khác,
nhiều khi có thuốc giả, thuốc kém phẩm chất. Ngoài ra vì mục đích kinh
doanh nên những người bán thuốc ở đây nhiều khi không quan tâm đến việc
lạm dụng thuốc hay điều trị không đúng bệnh mà thường chỉ chú ý chọn thuốc
theo thị hiếu của người dân [8]. Do đó nhiệm vụ góp phần nâng cao nhận thức
của người dân về cách sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đã không thực hiện được.
Trong khi đó, một vài nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một thói quen của
con người là tìm kiếm những lời khuyên của các dược sĩ và nhĩíng người bán
thuốc về cách sử dụng thuốc nói chung. Chính vì vậy mà người dược sĩ cần
phải nhìn nhận lại vai trò của mình, đặc biệt là trong vấn đề tự CSSK, tự cấp
phát và sử dụng thuốc của người dân. Họ không chỉ đóng vai trò những người
cung cấp thuốc mà còn đóng vai trò của:
- Những nhà tư vấn để cung cấp những thông tin quan trọng về thuốc cho
bệnh nhân để thoả mãn yêu cầu của họ. Người dược sĩ phải có khả năng giúp
người bệnh cảm thấy phù hợp và có trách nhiệm đối với vấn đề tự cấp thuốc và
khi cần thiết phải tham khảo những đơn thuốc bệnh nhân đã sử dụng.

Điều này có liên quan tới việc xác định nhu cầu thuốc dựa trên mô hình
bệnh tật và các phác đồ điều trị chuẩn.
- Có sẵn và đủ các loại thuốc thiết yếu.
- Có đủ số lượng thuốc đáp ứng yêu cầu người mua.
* Chất lượng thuốc đảm bảo và không bán các thuốc: chưa có số đăng ký
hoặc chưa được phép nhập, sản xuất; thuốc giả, kém chất lượng, thuốc quá hạn
dùng.
* Giá cả hợp lý và có niêm yết giá công khai: Có các loại thuốc cùng chủng
loại nhưng nguồn gốc khác nhau để phù hợp với khả năng tài chính của người
mua.
16
* Hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.
* Kinh tế: đảm bảo giá thành điều trị, giá thuốc phù hợp khả năng chi trả
của từng đối tượng khác nhau; tiết kiệm chi phí cho cộng đồng và cá thể. Bên
cạnh đó cũng đảm bảo thu nhập và lãi hợp lý cho người bán thuốc.
Các tiêu chuẩn trên cũng phù hợp với quan điểm về Marketing Dược của
Mickey c. Smith như sau: " Marketing dược thực chất là tổng hợp các chính
sách chiến lược marketing của thuốc và nhằm thoả mãn nhu cầu của bệnh
nhân, nhằm phục vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Ngoài các mục tiêu, chức
năng của Marketing thông thường, do đặc thù riêng của ngành yêu cầu
marketing dược có nhiệm vụ: thuốc được bán ra đúng loại thuốc, đúng giá,
đúng số lượng, đúng lúc và đúng nơi".
2.2.3. Mô hình dịch vụ Dược của nước ta hiện nay:
Theo tài liệu [13], ở nước ta hiện nay có các loại hình dịch vụ Dược chính
sau đây:
- Các DNNN làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thuốc: các Cty DP, Xí
nghiệp DP TW, địa phương.
- Các Cty TNHH, Cty cổ phần, Cty nước ngoài/liên doanh có bán thuốc.
- Các hiệu thuốc trực thuộc các Cty DP, quầy của các hiệu thuốc đặt tại các
xã, phường.

số trong quần thể nghiên cứu tại một thời điểm. Trong khoá luận này, chúng
tôi tiến hành khảo sát sự lựa chọn/hành vi của con người và sự hiểu biết, thái
độ, niềm tin và các quan điểm có thể giúp giải thích hành vi đó. Ngoài ra,
chúng tôi có tiến hành khảo sát về một số các đặc điểm về mặt kinh tế- xã hội
của con người như tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hoá có thể giúp đánh giá
sự khác nhau trong hành vi, sự hiểu biết, niềm tin của họ.
18
* Phương pháp điều tra:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp thu thập số liệu chủ
yếu bằng cách phỏng vấn trực tiếp có sử dụng bộ câu hỏi với danh mục các
câu hỏỉ cố đinh (xem phụ lục 1). Ngoài ra có thể sử dụng ngay bộ câu hỏi in
sẵn đó( hay bộ câu hỏi tự điền) gửi tới đối tương nghiên cứu và họ trả ỉờí bằng
cách tự điền vào. Có hai cách được sử dụng để gửí bộ câu hỏi đến đốỉ tượng
nghiên cứu:
- Phát tận tay các bộ câu hỏi cho người trả lời và sau 3-5 ngày tới thu lại.
- Nhờ những người có uy tín trong tổ dân phố, thôn/xóm (VD: bí thư, tổ
trưởng tổ dân phố, trưởng thôn/xóm ) gửi phiếu đến các hộ gia đình. Tuy
nhiên, trong nghiẽn cứu này, cách này ít được áp dụng.
3.1.3. Xác định cỡ mẫu: ( cho địa bàn nghiên cứu chủ yếu là quận Cầu
Giấy). Áp dụng công thức sau:
n = [15]
d
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu cần có
P: tỷ lệ số người có sử dụng thuốc trong vòng 4 tuần qua. Tỷ lệ này được
xác định qua 1 nghiên cứu thử trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức và có
tham khảo 1 nghiên cứu trước đó. Kết quả thu được p = 0,8 (kết quả nhận
được từ 24/30, trong đó 24 là số người có sử dụng thuốc trong vòng 4 tuần
qua; 30 là số người tiến hành khảo sát thử).
d: khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu nghiên cứu và tỷ lệ

Tương tự, đối với huyện Từ Liêm chúng tôi cũng tiến hành như vậy.
+ Trên địa bàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn. Chọn ngẫu nhiên 2 xã trong
huyện.
+ Trên địa bàn mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 3 thôn/ hoặc xóm (ta có 6
thôn/xóm được chọn).
+ Đối với mỗi thôn/xóm, số phiếu phát ra là 20 - 25 phiếu cho các hộ gia
đình.
* Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn có những ưu điểm là:
- Không cần thiết phải có khung mẫu gồm toàn bộ đơn vị mẫu của quần thể
nghiên cứu, chỉ cần có khung mẫu của các cụm là đủ.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status