LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
LỜI MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sinh sống ở
khu vực nông thôn và 70% lao động làm việc ở trong ngành sản xuất nông
nghiệp. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế bắt đầu từ chỉ thị 100 của Ban Bí
thư, Nghị quyết X của Bộ Chính Trị đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát
triển nền kinh tế nước ta. Nông nghiệp nước ta trong những năm qua đã đạt
được rất nhiều thành tựu đáng kể. Chúng ta đã từ một nước thiếu lương thực
triền miên, giờ đây chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai
trên thế giới. Tuy nhiên, trong ngành nông nghiệp sản xuất vẫn chủ yếu là
trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản chưa phát triển, mức sống giữa nông thôn và
thành thị ngày càng chênh lệch. Điều đó, chứng tỏ nông nghiệp -nông thôn
nước ta còn nhiều khó khăn. Để giải quyết được vấn đề đó, thì một trong
những biện pháp mang tính cấp thiết hiện nay là chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp- nông thôn nói chung và chuyển dịch cơ cấu cây trồng nói riêng.
Từ Liêm- Hà Nội là một trong 5 huyện ngoại thành Hà Nội, có vị trí địa lý
thuận lợi để phát triển các mặt kinh tế - văn hoá - xã hội. Trong những năm
vừa qua, mặc dù tốc độ đô thị hoá diễn ra tương đối nhanh chóng, song sản
xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện
Từ Liêm. Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp còn những hạn chế, chưa phát huy
tốt các tiềm năng vốn có của huyện. Do chưa xác định được hệ thống trồng
trọt hợp lý, có hiệu quả cao. Vấn đề đặt ra cho sản xuất nông nghiệp của
huyện Từ Liêm đặc biệt là ngành trồng trọt trong những năm tới là nghiên
cứu chuyển dịch cây trồng một cách hợp lý, hiệu quả cao. Mặt khác, đất nông
nghiệp của huyện Từ Liêm trong một vài năm tới sẽ mất đi hàng nghìn ha
cho công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá (CNH-HĐH) nông nghiệp nông
thôn và đô thị hoá. Do đó, sẽ có hàng vạn lao động mất đi tư liệu sản xuất,
không có việc làm. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở huyện Từ Liêm
một cách có hiệu quả và hợp lý lại bức xúc và cần thiết hơn bao giờ hết.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
Với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, nhưng do thời gian và trình độ có hạn
nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ
bảo, bổ sung các ý kiến quý báu của thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện
hơn.
Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2003
Sinh viên
Nguyễn Đức Thịnh
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU CÂY
TRỒNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG
I. KHÁI NIỆM ĐẶC TRƯNG CƠ CẤU CÂY TRỒNG
1. Khái niệm cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng
1.1. Cơ cấu cây trồng
Thuật ngữ: “cơ cấu” là một phạm trù, biểu hiện cấu trúc bên trong, mối
liên kết các bộ phận hợp thành. Nội dung của cơ cấu phản ánh vai trò, vị trí
của từng bộ phận hợp thành và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng
trong tổng thể. Một cơ cấu cụ thể của sự vật hiện tượng không phải là bất
biến, mà nó được thay đổi phù hợp với những điều kiện lịch sử nhất định hay
nói cách khác nó phù hợp với điều kiện khách quan.
Cơ cấu cây trồng là một phạm trù khoa học biểu hiện trình độ tổ chức và
quản lý sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, cơ cấu cây trồng cũng là một chỉ
tiêu quan trọng của chiến lược nông sản hàng hoá.
Một quan niệm khác, định nghĩa cơ cấu cây trồng là tổng thể các mối quan
hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định, chúng tác động qua lại lẫn
nhau trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định, tạo thành một
hệ thống kinh tế nông thôn, một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ
thống nền kinh tế quôc dân. Cơ cấu cây trồng còn là một bộ phận chủ yếu của
cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta.
Trên đây, là hai khái niệm cơ bản về cơ cấu cây trồng nhưng nó chỉ được
triển về cơ cấu các bộ phận hợp thành tổng thể đó trong một khoảng thời gian
nhất định. Quá trình phát triển về cơ cấu đó bao gồm sự thay đổi những mối
quan hệ giữa các bộ phận hợp thành trong quá trình phát triển của tổng thể.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu cây trồng là quá trình phát triển hay quá trình
thay đổi về thành phần các loại cây trồng trong một cơ sở hay một vùng nhất
định.
Một số khái niệm hình thành trong quá trình chuyển dịch cơ cấu là điều
chỉnh cơ cấu: là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi một số mặt,
một số yếu tố của cơ cấu làm cho nó thích ứng với điều kiện khách quan từng
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
thời kỳ, không tạo ra sự thay đổi đột biến tức thời. Cải tổ cơ cấu là quá trình
chuyển dịch mang tính thay đổi về mặt chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu,
nhanh chóng tạo ra sự đột biến.
2. Đặc trưng của cơ cấu cây trồng
2.1. Cơ cấu cây trồng mang tính khách quan
Sự phát triển của cơ cấu cây trồng mang tính khách quan cũng như cơ cấu
kinh tế nói chung, tuỳ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân
công lao động xã hội. Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung
và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo mối quan hệ
nhất định. Cơ cấu cây trồng và xu hướng biến đổi của nó phụ thuộc vào điều
kiện khách quan, như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội nhất định
của từng vùng, từng địa phương, từng nước chứ không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người. Tuy nhiên, vai trò của con người vô cùng quan
trọng. Con người có thể tác động vào cơ cấu cây trồng làm cho nó chuyển
dịch phù hợp với những điều kiện khách quan để mang lại hiệu quả và lợi ích
cao hơn, và quá trình đó diễn ra một cách nhanh hơn khi có sự tác động của
con người.
2.2. Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử, xã hội nhất định
Cơ cấu cây trồng không phải tự nhiên sinh ra cũng không phải tự nhiên
mất đi mà nó được hình thành do những điều kiện tự nhiên cụ thể, sản xuất
sản xuất và tiêu dùng thông suốt. Nghĩa là, quá trình tiêu thụ sản phẩm được
thuận lợi hay khó khăn.
3. Ý nghĩa của việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý
Cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng mà trước hết phải phù hợp với
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương, từng nước.
Hơn nữa, nó phải đáp ứng đúng nhu cầu về lương thực, thực phẩm của thị
trường. Đồng thời, nó phải phù hợp với quan điểm tiên tiến về phát triển nền
nông nghiệp toàn diện trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của đất nước.
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
chuyển đổi nông nghiệp từ độc canh cây lương thực sang nền nông nghiệp đa
dạng có nhiều nông sản hàng hóa, phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu,
làm tiền đề vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
nông nghiệp, nông thôn. Cơ cấu cây trồng là căn cứ để xây dựng các kế hoạch
đầu tư vốn, sử dụng lao động và các loại tư liệu nông nghiệp cũng như áp
dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất nông nghiệp.
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý theo hướng đa dạng hoá cơ cấu cây trồng
sẽ tạo điều kiện cho người nông dân giảm được rủi ro xuất phát từ nền kinh tế
thị trường với những cơn sốc về giá cả và sự thay đổi nhanh chóng của người
tiêu dùng. Mặt khác, xác định cây trồng hợp lý với việc luân canh cây trồng,
trồng xen hay gối vụ tạo điều kiện khả năng chi phí các yếu tố đầu vào như
phân công lao động, vốn…Đồng thời, nó góp phần cải tạo độ phì nhiêu của
đất đai ngày càng tốt lên, góp phần bảo vệ môi trường ngày một tốt hơn.
Hiện nay, ở nước ta với gần 80% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn,
gần 70% lao động nông nghiệp. Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý góp phần
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, lực lượng lao động dồi dào ở
nông thôn và không thể thu hút ngay vào các ngành sản xuất khác như công
nghiệp, dịch vụ. Do vậy, đây là một quá trình rất khó khăn đối với lực lượng
lao động nông thôn dư thừa này, có thể dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp cho xã
hội. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu cây trồng có khả năng tạo ra nhiều việc làm
trong sự phân biệt về cơ cấu cây trồng giữa các vùng trong cả nước đặc biệt là
giữa đồng bằng với miền núi, hay là bản thân ngay trong cùng một lãnh thổ.
Do đó, phải dựa vào cơ sở của các phương án phân vùng quy hoạch nông
nghiệp nhất là việc hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, hình thành
các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao. Cần phải
nhận thức rằng, không thể dựa vào quan niệm sản xuất hàng hoá nhỏ, phân
tán, manh mún, để bố trí cây trồng một cách tràn lan, bất hợp lý mà phải dựa
vào khai thác lợi thế từng vùng, từng địa phương để bố trí cây trồng hợp lý,
lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm thước đo để đánh giá.
-Vị trí địa lý của vùng, lãnh thổ
Vị trí địa lý của vùng là nơi chốn của vùng, lãnh thổ đó trong mối quan hệ
với các vùng, lãnh thổ khác. Mỗi vùng lãnh thổ phù hợp với một giống cây
trồng nhất định và vị trí địa lý của vùng, lãnh thổ cùng với một số yếu tố
thuộc về kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với
mối quan hệ giữa vùng lãnh thổ đó với các vùng lãnh thổ khác.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
Xác định cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng của một vùng
lãnh thổ phải dựa vào thế mạnh của từng vùng, hay lợi thế so sánh của từng
vùng. Đồng thời, phải phù hợp với quan điểm về chuyên môn hoá và đa dạng
hoá sản xuất nông nghiệp của cả nước. Vị trí địa lý là một trong những yếu tố
quan trọng quyết định thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, từng nước,
thông qua mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ về cơ sở hạ tầng, thị trường
đầu ra
-Khí hậu
Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng để xác định cơ cấu cây
trồng. Đối với việc bố trí cây trồng hàng năm, việc quan trọng là có thể xem
xét trồng cây gì, mấy vụ trong một năm. Ví dụ như Miền Bắc và Miền Nam
khác nhau cũng tạo ra cây trồng và cơ cấu cây trồng cũng rất khác nhau. Điều
này, phụ thuộc vào nhu cầu nhiệt lượng của cây trồng và tổng nhiệt lượng
hàng năm của vùng đó. Các cây trồng hàng năm ở xứ nóng có thời gian sinh
dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu, đất đai cũng như các nguồn tài lực, vật
lực khác của vùng.
Mỗi loại cây trồng có đặc điểm sinh học riêng. Đó là yếu tố khách quan
mà con người không thể xoá bỏ được mà chỉ có thể tác động vào cây trồng đó
phù hợp đặc điểm sinh học của từng loại cây trồng nhằm đem lại lợi ích cho
bản thân con người. Với trình độ phát triển của công nghệ sinh học hiện đại
con người có khả năng thay đổi bản chất bên trong của chúng theo hướng mà
mình mong muốn bằng các biện pháp như: lai tạo, chọn lọc, gây đột biến
gen
Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng một hệ sinh thái trong nông
nghiệp. Như vậy, ngoài các thành phần chính là các cây trồng, vi sinh vật
các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật.
Chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Vấn đề là phải tạo dựng và duy trì mối cân bằng sinh học trong hệ sinh thái
theo hướng hạn chế các mặt có hại, phát huy các mặt có lợi đối với các lợi ích
của con người. Vì vậy, khi bố trí cây trồng cần phải có mối quan hệ giữa các
đặc điểm sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp.
1.2. Nhóm nhân tố kinh tế- xã hội
Nó bao gồm các nhân tố như thị trường trong và ngoài nước, vốn, cơ sở hạ
tầng, hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước, kinh nghiệm tập quán truyền
thống sản xuất của dân cư, dân số và lao động Nhóm nhân tố này luôn có
tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi cơ cấu nông nghiệp nói chung
và cơ cấu cây trồng nói riêng. Nói chung, các nhân tố trên đều quan trọng và
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
có mối quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, nhưng khách quan mà nói nhân tố
thị trường có ảnh hưởng quyết định sự phát triển kinh tế nói chung và sự hình
thành biến đổi cơ cấu kinh tế. Bởi vì, nó chỉ tồn tại và vận động thông qua
hoạt động của con người. Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất phải
sản xuất cái mà thị trường cần, những sản phẩm mà thị trường cần chứ không
phải là cái mà người sản xuất có. Nếu không tuân theo những quy luật của thị
triển nông nghiệp trong từng thời kỳ.
1.3.Nhóm nhân tố về tổ chức, kỹ thuật
Nhóm nhân tố này gồm: Các hình thức tổ chức sản xuất, sự phát triển của
KHKT và việc ứng dụng KHKT vào sản xuất.
Việc ứng dụng những tiến bộ công nghệ vào sản xuất góp phần hoàn thiện
các phương thức sản xuất, sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội
và trong ngành trồng trọt. Đặc biệt, với sự phát triển nhanh như vũ bão của
KHCN, thì việc ứng dụng các thành tựu của nó vào đời sống và sản xuất ngày
càng nhiều và hiệu quả, nhất là công nghệ sinh học đưa các giống mới có
năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, thay thế dần lao động thủ công
bằng máy móc, giải phóng sức lao động, tăng năng suất lao động và hiệu quả
kinh tế.
Mặc dù, Người sản suất có tính độc lập và tự chủ trong việc sản xuất nông
sản hàng hoá, nhưng để đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn thì người sản
xuất phải có sự hợp tác trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Từng
hộ nông dân riêng lẻ không thể thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng một
cách có hiệu quả vì sản xuất nông nghiệp có đặc điểm riêng gắn liền với đất
đai, điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh học của các loại cây trồng…Điều này,
đòi hỏi việc chuyển đổi cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm phải gắn liền với
quá trình mở rộng các mối quan hệ hợp tác, liên kết, dồn đồng, đổi thửa
Mặt khác, sản xuất nông nghiệp có tính sinh lời thấp, rủi ro lớn nên muốn
chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả thì Nhà nước phải quy hoạch thành
các vùng chuyên môn hoá, vùng sản xuất hàng hoá gắn liền với việc khai thác
các lợi thế so sánh của vùng và luôn luôn đáp ứng nhu cầu thị trường. Bài học
đắt giá về cây Cà phê, cây Mía ở nước ta đã chỉ ra là người nông dân Việt
Nam vẫn sản xuất một cách tuỳ tiện, khi giá cao thì cung nhiều. Từ đó, dẫn
đến cung vượt cầu, làm cho lợi nhuận giảm, thậm chí còn lỗ. Vì vậy, người
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
nông dân phải chịu sự quy hoạch vùng của Nhà nước để có thể chuyển đổi cơ
cấu cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
nhàn cư vi bất thiện”). Đây là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến
chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nước ta nói chung và Từ Liêm nói riêng. Vì
vậy, phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng làm sao cho hiệu quả cao nhất trên một
đơn vị diện tích, khi mà đất đai ngày càng thu hẹp.
2. Xu hướng có tính quy luật của chuyển dịch cơ cấu cây trồng
2.1. Xu hướng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá
Sản xuất hàng hoá là xu hướng vận động tất yếu của nền kinh tế nói chung
và nền nông nghiệp nói riêng, trong đó chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải
tuân thủ xu hướng vận động này. Trong quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế
hàng hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì phát triển nông nghiệp có
quan hệ chặt chẽ với công cuộc CNH-HĐH. Nhờ có công nghiệp hoá cho
phép nông nghiệp được thực hiện theo phương pháp sản xuất và quản lý mang
tính công nghiệp, nhờ có hiện đại hoá mà vùng nông thôn có thể tiến kịp
thành thị và sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao.
Phát triển sản xuất hàng hoá tạo nên sự năng động trong sản xuất kinh
doanh, đặt ra yêu cầu cải tiến nhanh về kỹ thuật canh tác, công nghệ sản xuất,
nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Phát triển sản xuất hàng hoá làm cho sự phân công lao động xã hội ngày càng
phát triển sâu sắc, chuyên hoá cao, hợp tác hoá, mối liên hệ giữa các vùng,
các ngành ngày càng chặt chẽ hơn và kết quả là đẩy mạnh được quá trình xã
hội hoá sản xuất và lao động. Sức sản xuất về hàng hoá có quy mô lớn, có ưu
thế về trình độ kỹ thuật và khả năng thoả mãn sức mua của xã hội.
Xu hướng phát triển cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá. Xu
hướng này phản ánh quy luật cung- cầu trong xã hội, có thể thấy rõ trên các
khía cạnh sau:
Một là, nhu cầu ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm từ
cây lương thực, cây thực phẩm và nhiều loại cây trồng khác.
Hai là, thị trường nông sản ngày càng mang tính xã hội hoá và quốc tế
hoá.
Ba là, CNH-HĐH có quan hệ tương tác mật thiết với nông nghiệp.
gian tới Việt Nam cần phải giải quyết một số vấn đề về bảo vệ môi trường và
tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
IV. CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
CÂY TRỒNG
1.Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực
hiện có kết quả cao nhất những nhiệm vụ kinh tế - xã hội nhất định với chi phí
nhỏ nhất.
2.Khái niệm về hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng là kết quả so sánh giữa các chỉ tiêu
kết quả và chỉ tiêu hao phí, hoặc thước đo trình độ tổ chức sản xuất và mức độ
thực hiện các nhiệm vụ cụ thể: của hoạt động sản xuất trồng trọt.
3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chuyển dịch
Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, hiệu quả kinh tế phải được
tính toán một cách thích hợp. Vì nói đến cơ cấu cây trồng là nói đến việc bố
trí các loại cây trồng trên từng loại đất cụ thể. Mỗi loại cây trồng đều ứng với
một diện tích gieo trồng nhiều khi quyết định quy mô, số lượng và cơ cấu cây
trồng của ngành trồng trọt. Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải đảm
bảo được giá trị mục tiêu quan trọng: thu nhập và lợi nhuận của cơ cấu cây
trồng mới tất yếu phải lớn hơn thu nhập và lợi nhuận của cây trồng cũ. Mặt
khác, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của chuyển dịch cơ cấu cây trồng có thể
dựa vào một số chỉ tiêu như: năng suất đất đai, hiệu quả vốn đầu tư, tổng sản
lượng, giá thành và thu nhập, mức lãi của các sản phẩm sản xuất ra, năng suất
lao động Tuy nhiên, việc đánh giá này rất phức tạp và cần phải có thời gian
và công sức, nó chỉ đánh giá được một cách tương đối.
+Năng suất đất đai: là số lần gieo trồng được trên một đơn vị diện tích
trong một năm, hệ số gieo trồng càng lớn biểu hiện năng suất đất đai đạt cao.
+Năng suất cây trồng chính: Là sản lượng mà loại cây trồng đem lại tính
trên một đơn vị diện tích gieo trồng.
nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, theo nhóm tác
giả PL. Pluekent, EJ. Rice, Bursill, HH. Fisher thì: “ Nghiên cứu hệ canh tác
trên đồng ruộng của nông dân là cần thiết và cấp bách. Muốn đạt hiệu quả cao
nhất thì phần nghiên cứu phải được tiến hành trên đồng ruộng của nông dân
chứ không phải trên các trại thí nghiệm”.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
Việc nghiên cứu hệ thống canh tác được tiến hành theo nhiều chiều hướng
với nhiều nội dung khác nhau, một trong những nội dung nó là vấn đề tăng
vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo thêm nhiều công ăn việc làm
tăng thu nhập ở một số nước phải đối phó với tình trạng thiếu đất, thừa lao
động nhất là các nước đang phát triển trong đó có nước ta.
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở các nước châu Á đã đạt được
nhiều thành tích đáng kể. Theo OShia, ở các nước Châu Á năm 1950 đã đạt
được nhiều thành tích đáng kể, tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp chiếm 20%
tổng sản phẩm xã hội thì đến năm 1980 giảm xuống còn 6% tỷ trọng lao động
trong nông nghiệp ở thời điểm tương ứng là 34,9%, xuống còn 13,7%. Khu
vực Đông Nam Á giảm chậm hơn, tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp từ 43,7%
(1950) xuống 25,7% (1980) và tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 72,1% xuống
còn 55,9% ở thời điểm tương ứng.
Kinh nghiệm của Inđônêxia: bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp như kết
hợp trồng trọt, chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thuỷ hải sản, dùng các giống
cây trồng có năng suất cao, đa dạng hoá cây trồng thích hợp trên từng loại đất
trong vòng 9 năm (1975 - 1984) đã có được những thay đổi đáng kể trong đó,
thay đổi mạnh về cơ cấu cây trồng theo chiều hướng tích cực, cụ thể là trước
năm 1975 có 64% diện tích bỏ hoang hoá sau một vụ lúa chỉ còn 32% diện
tích là hai vụ lúa, 69% diện tích đã làm hai hoặc ba vụ.
Kinh nghiệm của Thái Lan: trước năm 1970 hệ canh tác hai vụ một
năm( một vụ lúa nước, một vụ màu hoặc lúa cạn) là phổ biến. Đến năm 1971
vấn đề tăng vụ được nông dân áp dụng một cách mạnh mẽ, tỷ lệ diện tích
trồng ba vụ trong năm tăng nhanh chiếm tới 68% và đến năm 1973 là 85%.
hợp lý. Chúng ta chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên cơ sở chuyên môn hoá,
hình thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất, trên cơ sở đa dạng hoá và phát
triển tổng hợp, phù hợp với lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương
trước hết, là lợi thế về điều kiện tự nhiên ( thời tiết, khí hậu, đất đai ), kinh tế
và xã hội…
Để cơ cấu cây trồng mới, có tổng giá trị sản lượng cao hơn cơ cấu cây
trồng cũ, có hai phương hướng cơ bản là: tăng năng suất cây trồng hoặc tăng
vụ trong một năm. Ở nước ta việc nghiên cứu thực nghiệm và đưa vào sản
xuất một số giống lúa mới ngắn ngày, năng suất cao, đã mở ra một khả năng
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
mới: tăng vụ đông, làm cho diện tích cây trồng cũng như sản lượng cây trồng
trong một năm tăng lên đáng kể.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có một ý nghĩa quốc gia và quốc tế trong việc
phát triển cây lương thực chủ yếu là lúa gạo để xuất khẩu, trong khi đó vùng
Đồng Bằng Sông Hồng lại có ý nghĩa trong việc phát triển cây trồng xuất
khẩu vụ đông đặc biệt là các loại rau đậu cao cấp còn việc nuôi trồng thuỷ hải
sản có thể tìm thấy khả năng to lớn này ở các tỉnh Duyên Hải Miền Trung.
Mặt khác, vùng trung du và miền núi của cả hai miền đất nước lại hướng vào
phát triển xuất khẩu một số cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây ăn quả,
rừng, những đặc sản từ rừng: cà phê, hồ tiêu, cao su, chè, lạc, đậu tương, cam,
dứa chuối, cây dược liệu
Theo giáo sư viện sỹ Đào Thế Tuấn, có hai hướng sử dụng tốt nguồn khí
hậu của mùa đông ở vùng đồng bằng và các tỉnh phía Bắc là: trồng các cây có
nguồn gốc xứ lạnh như: khoai tây, cải bắp, xu hào hoặc chọn các cây xứ
nóng ngắn ngày như: ngô, đậu tương chịu được lạnh để trồng các vụ đông.
Cây vụ đông không những làm tăng hiệu quả kinh tế, tăng tổng sản lượng của
cơ cấu cây trồng mà nó còn có tác dụng bảo vệ và bồi dưỡng đất.
Tác giả Lê Trọng Cúc cho rằng xen giữa cây lương thực và cây họ đậu cho
sản lượng tổng hợp cao hơn và cải tạo đất đai tốt.
Tác giả Phạm Chí Thành cho rằng khi nghiên cứu đất đồi gò tỉnh Hà Tây
-Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải phù hợp với đặc điểm của từng
vùng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của từng vùng trên cơ sở
khai thác những lợi thế so sánh của vùng nước đó để phát huy tối đa sức mạnh
tổng hợp của từng vùng, từng địa phương, từng nước, sử dụng nhân lực, vật
lực một cách có hiệu quả cao. Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp
nhiệt đới gió mùa so với một số nước trên thế giới có đặc thù riêng, rất đa
dạng và phong phú. Phát triển không chỉ tập trung cho một ngành nào đó, lại
càng không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa sản xuất và lưu
thông. Nếu chỉ tập trung cho trồng trọt mà xem nhẹ chăn nuôi thì quá trình
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sẽ khập khiễng và không phát triển. Vì vậy,
trong những năm tới chúng ta cần chuyển dịch cơ cấu cây trồng đi vào những
loại cây ăn quả, cây dựợc liệu có giá trị kinh tế cao. Đồng thời, phát triển
chăn nuôi và đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA KTNN& PTNT
-Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nói riêng và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
là một quá trình mang tính khách quan, tính lịch sử và tính biến đổi và liên hệ
biện chứng của các yếu tố cây trồng, con người, tự nhiên theo hướng ngày
càng hoàn thiện, hiệu quả. Cơ cấu cây trồng cũ không phù hợp dần chuyển
thành cơ cấu cây trồng mới phù hợp hơn và cứ như vậy thành một quá trình
vận động liên tục. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở một vùng hoặc
một tiểu vùng sinh thái diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó phải kể đến sự tác động trực tiếp và rất quan trọng của chủ thể lãnh
đạo, và quản lý. Những chủ thể đó hoàn toàn có thể chủ động cho quá trình
chuyển dịch diễn ra nhanh hơn theo hướng có lợi cho con người.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cơ cấu cây
trồng ở mỗi vùng sinh thái khác nhau đã giúp cho người nông dân Việt Nam
sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên (đất đai, khí hậu )
cũng như các nguồn lực về kinh tế xã hội (vốn, lao động ) là tăng hiệu quả
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY
Từ Liêm nằm trong khu vực có nền nhiệt độ khá cao và khá đồng đều.
Nhiệt độ trung bình năm đạt 23 - 24
0
C, tổng nhiệt độ hàng năm là 8500 -
8700
o
C. Hai tháng 6 và 7 là nóng nhất, nhiệt độ trung bình cao nhất rơi vào
tháng 7 với nhiệt độ xấp xỉ 29
0
C nhưng nhiệt độ tối cao trung bình lại rơi vào
tháng 6 với nhiệt độ 32 - 33
0
C. Nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 17
0
C,
tháng lạnh nhất là 1, nhiệt độ tới thấp trung bình là 13
0
C. Nhiệt độ tới thấp
tuyệt đối tới 2,7
0
C. Biên độ nhiệt trong năm khoảng 12
0
C - 13
0
C, Biên độ giao
động ngày đêm khoảng 6
0
C - 7
0
C, ẩm độ trung bình tương đối hàng năm là
của các địa bàn nêu trên.
Chế độ thuỷ văn của hệ thống sông trên địa bàn huyện Từ Liêm có hai
mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ trùng vào mùa mưa, thường kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 10 vào thời điểm xuất hiện các đợt lũ nước cao trung bình
từ 9 - 12 (m) (cá biệt năm 1971 mức nước lên đến 14,113 (m).
Từ Việt Trì xuôi xuống hạ lưu, lũ Sông Hồng bị chi phối bởi 3 Lũ hợp lưu
trong đó Sông Đà chiếm 41 - 61%, Sông Lô: 20 - 34%, sông Thao 15 - 20%.
Vào những năm có lũ trùng nhau của 2 hay 3 sông thì sẽ xuất hiện ngọn lũ lớn
trên Sông Hồng, đe doạ nghiêm trọng đời sống và sản xuất của Từ Liêm cũng
như toàn vùng Đồng Bằng Sông Hồng.
Mùa cạn Sông Hồng từ tháng 11 đến tháng 5 cạn nhất là tháng 3 (26%
tổng lưu lượng cả năm). Mực nước sông thấp làm song hẹp, vùng đất bán
ngập ngoài đê điều đều đạt năng suất khá cao với suất đầu tư không cao nhờ
phù sa sau lũ.
Chất lượng nguồn nước
Tổng lượng phù sa Sông Hồng rất lớn (94,46.10
6
tấn / năm). Hàm lượng
phù sa đo tại Sơn Tây trung bình năm là 1.31kg/m
3
nước (mùa lũ: 3,0 - 3,5
kg/m
3
, mùa cạn 0,5kg/m
3
).