BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
o0o
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2014
B
Học viên
Nguyễn Thị Thùy Dương
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
LỜI NÓI ĐẦU 1
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh 27
2.2.1 Hoạt động huy động vốn 27
2.2.2 Hoạt động tín dụng 28
2.2.3 Tổng tài sản – Tổng lợi nhuận 29
2.3 Thực trạng về rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Á Châu 31
2.3.1 Thực trạng về hoạt động tín dụng tại NH TMCP Á Châu 31
2.3.1.1 Đánh giá chung về hoạt động tín dụng 31
2.3.1.2 Tăng trưởng dư nợ tín dụng 32
2.3.1.3 Tăng trưởng thu nhập từ tín dụng 35
2.3.1.4 Chất lượng tín dụng 36
2.3.2 Một số trường hợp rủi ro tín dụng tiêu biểu tại NH TMCP Á Châu 38
2.3.2.1 Công ty Cổ Phần Thủy Sản Bình An (Bianfishco) 38
2.3.2.2 Công ty TNHH Thương mại - Chế biến Thực phẩm Phú An Sinh… 39
2.3.2 Thực trạng các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại NH TMCP Á
Châu …………………………………………………………………………… 40
2.3.2.1 Các yếu tố từ nền kinh tế………………………………………… ….40
2.3.2.2 Các yếu tố từ khách hàng vay……………………………….……… 40
2.3.2.3 Các yếu tố từ ngân hàng…………………………………………….…41
2.4 Kiểm định sự tác động của các yếu tố đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Á Châu 42
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu 42
2.4.1.1 Mô hình nghiên cứu 42
2.4.1.2 Thiết kế nghiên cứu 43
2.4.1.3 Phương pháp chọn mẫu và kích thước mẫu 44
2.4.1.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 45
2.4.1.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 45
2.4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 46
2.4.2.1 Cơ cấu mẫu theo ngành nghề kinh doanh 46
2.4.2.2 Cơ cấu mẫu theo kinh nghiệm làm việc/hoạt động kinh doanh ngành
nghề chính 47
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. ACB – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
2. CIC –
Trung tâm thông tin tín dụng
3. CN – Chi nhánh
4. KH – Khách hàng
5. KHCN – Khách hàng cá nhân
6. KHDN – Khách hàng doanh nghiệp
7. NH – Ngân hàng
8. NHNN – Ngân hàng Nhà nước
9. NHTM – Ngân hàng thương mại
10. NH TMCP – Ngân hàng thương mại cổ phần
11. RRTD – Rủi ro tín dụng
12. PGD – Phòng Giao Dịch
13. TP.HCM – Thành phố Hồ Chí Minh
14. TCTD – Tổ chức tín dụng
Đồ thị 2.7 – Cơ cấu dư nợ phân theo tín dụng theo ngành nghề năm 2013
Đồ thị 2.8 – Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời gian vay năm 2013
Đồ thị 2.9 – Cơ cấu thu nhập từ tín dụng năm 2013
Đồ thị 2.10 – Cơ cấu tỷ lệ nợ xấu năm 2013
Đồ thị 2.11 – Tỷ lệ nhóm nợ phân theo loại khách hànng giai đoạn 2011 - 2013
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay, rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng không còn là
vấn đề quan tâm của riêng giới tài chính mà còn là vấn đề của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và cả nền kinh tế. Với tình hình mức độ nợ xấu ngày càng tăng, rủi ro tín
dụng ngày càng lớn, mức độ ngày càng nghiêm trọng đã làm giảm lòng tin ở khách
hàng – người gửi tiền và làm tăng sự lo ngại của ngân hàng – người cho vay. Rủi ro
tín dụng là không thể tránh khỏi do nhiều yếu tố tác động, trong đó có yếu tố nằm
ngoài kiểm soát của con người. Tìm ra các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng để có
hướng giải quyết phù hợp là một công việc phải làm một cách triệt để, song song
với hoạt động tín dụng. Đó là lí do để tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Nhận diện các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng.
- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và các yếu tố tác động lên rủi ro tín dụng
tại NH TMCP Á Châu
- Xây dựng mô hình đo lường sự tác động của những yếu tố lên rủi ro tín dụng
- Đề xuất các giải pháp khuyến nghị kiểm soát rủi ro tín dụng.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Á Châu.
- Phạm vi nghiên cứu: được thực hiện tại NH TMCP Á Châu. Do trụ sở chính và
các Chi nhánh/Phòng giao dịch của ACB tập trung tại khu vực TP.HCM là lớn
rất nhiều định nghĩa rủi ro khác nhau:
Rủi ro tín dụng (Theo Hiệp ước Basel) là rủi ro do không chắc chắn hay sự
sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được thỏa thuận và qui định
trong hợp đồng.
Theo thông lệ quốc tế thì rủi ro tín dụng là một loại rủi ro do sự suy giảm về
khả năng trả nợ của khách hàng.
Theo quyết định 18/2007/QĐ-NHNN, ngày 24/04/2007 của Thống đốc NHNN
Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động của TCTD do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Từ các định nghĩa trên, ta có thể thấy rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản
lỗ được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách
hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng
cấp cho họ.
Theo Khan và Ahmed cho rằng rủi ro tín dụng trong ngân hàng là xác suất bên
đi vay không thực hiện việc cam kết trả tiền của mình.
Ông Prof. Rekha Arunkumar trong bài nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng thương mại cho rằng rủi ro tín dụng là sự không trả được nợ của
người vay, nó vẫn là rủi ro quan trọng nhất cần được quản lý cho đến ngày nay. Rủi
ro tín dụng là được phản ánh trong thành phần vốn của nền kinh tế, ngân hàng được
yêu cầu phải kiểm soát nó để ngăn chặn chống lại những rủi ro khác.
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
1.1.2.1. Phân theo nguồn gốc hình thành rủi ro
Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình
giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi
4
ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý
danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập
trung.
Trong đề tài này, RRTD được đo lường thông qua chất lượng thông qua chất
lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của khách hàng. Theo
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, Quyết định 18/2007/QĐ-
NHNN ngày 25/04/2007, Thông tư 02/2013 /TT-NHNN ngày 21/01/2013 của
Thống đốc NHNN thì các khoản vay của các NHTM sẽ được chia thành 05 nhóm:
- Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi
đúng hạn;
+ Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá và là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ
gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
+ Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1;
+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ
nhóm 1.
- Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
+ Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
+ Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2;
+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ
nhóm 2;
+ Nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn (nhóm 2) ở một số trường hợp.
- Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
+ Nợ gia hạn lần đầu;
+ Nợ được miễn hoặc giảm lãi cho khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ
theo hợp đồng tín dụng;
+ Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
6
+ Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3;
+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ
+ Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 5;
+ Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ
nhóm 5.
1.1.4. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
1.1.4.1. Đối với ngành Ngân hàng
Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh
hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và
giảm giá trị thị trường của vốn. Đồng thời làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng
và tăng trưởng tín dụng. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể làm cho ngân hàng
mất cân đối trong thanh toán, làm cho ngân hàng có nguy cơ thua lỗ, hoặc mức độ
cao hơn có thể dẫn đến phá sản nếu không có những biện pháp khắc phục kịp thời.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, các ngân hàng thiếu đa dạng
trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy
tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc
biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Một ngân hàng có rủi ro tín dụng cao sẽ làm giảm
lòng tin khách hàng đối với ngân hàng. Ở những ngân hàng có rủi ro tín dụng cao
thì khách hàng gửi tiền sẽ rút tiền gửi và gửi sang những ngân hàng có rủi ro tín
dụng thấp hơn. Tình trạng này kéo dài lâu thì ngân hàng sẽ không còn nguồn vốn để
cho vay và hoạt động kinh doanh bị giảm sút.
1.1.4.2. Đối với nền kinh tế
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, thực hiện chức năng huy động
vốn của những người có vốn nhàn rỗi và cho những người cần vốn vay lại. Hoạt
động tín dụng của ngân hàng có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế, đến tất cả các
doanh nghiệp nhở, vừa và lớn; đến tất cả các tầng lớp dân cư trong xã hội nên khi
có rủi ro thì không chỉ ngân hàng bị thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền, người
có nhu cầu vay tiền cũng bị ảnh hưởng.
Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng có thể làm phá sản một vài ngân
8
Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả
năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do hệ số nhân tiền tệ giảm), khối
lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm dẫn đến lãi suất tăng, lãi suất tăng bao gồm
lãi suất vay. Điều này có thể làm tăng áp lực thanh toán nợ của những khách hàng
vay hiện tại cũng như khả năng xảy ra rủi ro tín dụng tăng cao hơn.
Ngược lại nếu lạm phát hạ thấp, NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng
khả năng tạo tiền, cung về tín dụng cũng tăng lên và lãi suất vay lúc này giảm so với
trước. Khách hàng không bị áp lực số tiền lãi thanh toán cho NH, xác suất xảy ra rủi
ro tín dụng giả. Tuy nhiên khi lãi suất vay giảm, khối lượng tín dụng tăng lên và có
trong dài hạn sẽ dẫn đến lãi phát tăng cao.
1.2.1.2 Môi trường pháp lý
Đây là yếu tố gây rủi ro phỗ biến ở những nước có chính sách quản lý kinh tế
không ổn định. Những thay đồi về chính sách thuế, quy định về kinh doanh bất
động sản… sẽ làm cho các doanh nghiệp khó chủ động trong chiến lược kinh doanh
của mình. Môi trường kinh doanh không ổn định sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài
chính của người vay suy yếu cũng như rủi ro tín dụng có khả năng cao hơn.
Các yếu tố vĩ mô, khách quan như môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý
cũng như chính trị - xã hội có mức độ tác động khác nhau đến từng ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh do những đặc điểm riêng của mỗi ngành nghề. Những ngành
nghề khá nhạy cảm với sự thay đổi của thị thường, của các yếu tố khách quan như
chứng khoán, bất động sản, xây dựng,…và có những ngành nghề ít hoặc không chịu
tác động của sự thay đổi môi trường bên ngoài như y tế, giáo dục, hàng tiêu dùng,…
Vì thế đánh giá tác động của các yếu tố vĩ mô bên ngoài đến rủi ro tín dụng khi thực
hiện cho một khách hàng vay là cần đánh giá trong điều kiện cụ thể của từng ngành
nghề kinh doanh.
1.2.2 Các yếu tố vi mô
1.2.2.1 Các yếu tố thuộc về khách hàng vay
- Tiềm lực tài chính của khách hàng vay
Năng lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tổng thể của khách hàng.
ngân hàng phát hiện ra, đặc biệt là những ngân hàng nhỏ, có quy trình tín dụng chưa
11
chặt chẽ, trình độ cán bộ thẩm định chưa cao.
- Năng lực quản trị, kinh nghiệm kinh doanh của khách hàng
Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến khả năng hoàn trả nợ
vay. Khi thẩm định cho vay, ngân hàng nào cũng ưu tiên doanh nghiệp, cá nhân có
kinh nghiệm, thâm niên và đạt những thành công trong ngành hơn là những doanh
nghiệp mới gia nhập thị trường. Khách hàng càng non trẻ kinh nghiệm trong ngành
thì càng dễ gặp rủi ro hơn so với những khách hàng hoạt động lâu năm. Đối với một
doanh nghiệp thì năng lực quản trị cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến
sự tồn tại của một doanh nghiệp.
- Uy tín, lịch sử trả nợ
Xem xét lịch sử trả nợ của khách hàng trong quá khứ là quan trọng bởi đây là
tín hiệu cho biết khách hàng có đang gặp khó khăn về tài chính không và có ý định
thiện chí trả nợ không. Nếu khách hàng có lịch sử trả nợ không tốt thì có khả năng
sẽ tiếp diễn hiện tượng đó trong tương lai.
1.2.2.2 Các yếu tố thuộc về ngân hàng cho vay
- Chính sách tín dụng
Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng, do vậy một
chính sách tín dụng phù hợp với đặc điểm nguồn vốn, nguồn nhân lực, khả năng
quản trị rủi ro sẽ giúp hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao hơn. Một chính sách tín
dụng hiệu quả là phải được cập nhật phù hợp với những thay đổi của các nhân tố
trong môi trường kinh tế, xã hội, chính trị. Ngân hàng phải làm tốt công tác dự báo
và định hướng cho các đơn vị trực thuộc của mình trong từng giai đoạn phát triển
kinh tế.
- Qui trình kiểm soát nội bộ
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn so với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước là ở
tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu
sát của người kiểm soát viên, việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên trong suốt
giả cũng đưa ra kiến nghị để giảm bớt nợ xấu thì Chính phủ cần thực hiện các chính
sách tạo ra môi trường thuận lợi để cải thiện GDP thực của đất nước. Điều này bao
gồm việc phát triển cơ sở hạ tầng, tỷ lệ lãi suất trung bình, tỷ giá hối đoái; đồng thời
13
cần cải thiện qui trình của các cơ quan có liên quan để bảo đảm rằng quá trình và
nguyên tắc cho vay được tuân theo một cách nghiêm chỉnh.
Hashim Khan & Rehman Rasli
(
2010) nghiên cứu về rủi ro chính trị và những
yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng ở Pakistan. Các yếu tố từ phía
ngân hàng bao gồm qui mô ngân hàng, sự tăng trưởng dư nợ cho vay, biên độ lợi
nhuận ròng và tỷ lệ huy đổng/tổng tài sản là những yếu tố chính tác động đến nợ
xấu tại Pakistan. Trong các yếu tố vĩ mô thì rủi ro chính trị là một vấn đề lớn mà các
ngân hàng cần quan tâm trước khi mở rộng danh mục cho vay của của các ngân
hàng ở Pakistan. Các yếu tố vĩ mô còn lại như tỷ lệ lãi suất thực có tác động đến rủi
ro tín dụng và tỷ giá hối đoái thì ảnh hưởng không đáng kể.
Abhiman Das and Saibal Ghosh (2007) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến
rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại nhà nước ở Indian. Trong đó các yếu
tố vi mô ảnh hưởng lớn là tốc độ tăng trưởng tín dụng, danh mục cho vay nhiều rủi
ro có tác động tiêu cực đến rủi ro tín dụng; các yếu tố vi mô khác như phát triển văn
phòng chi nhánh, tỷ lệ chi phí hoạt động/ biên độ sinh lời ảnh hưởng không đáng kể
đến rủi ro tín dụng. Đồng thời trong các yếu tố vĩ mô thì yếu tố tăng trưởng GDP là
có ảnh hưởng mạnh nhất đến rủi ro tín dụng.
* Nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong cho vay khách
hàng cá nhân
Phân tích của John M. Chapman (1940) đã cho thấy bốn yếu tố chính tác động
đến khả năng trả nợ của khách hàng. Cụ thể là đặc điểm cá nhân của người vay (tuổi
tác, giới tính, tình trạng gia đình); đặc điểm nghề nghiệp (ngành nghề kinh doanh,
tư cách kinh doanh, kinh nghiệm nghề nghiệp); tài chính của người vay (thu nhập
Wheelock và Wilson (1999) đã tiến hành nghiên cứu bao gồm nhiều biến khác
nhau đó là chất lượng tài sản bảo đảm nợ vay, EPS, tỷ lệ thanh khoản, thể loại ngân
hàng, hiệu quả quản lý và qui mô tài sản, mục đích là để mà tìm ra những nguyên
nhân chính gây ra nợ xấu. Họ cũng chỉ ra rằng những ngân hàng không hiệu quả sẽ
có nhiều nợ có rủi ro. Họ cũng tìm thấy một mối quan hệ quan trọng giữa tăng tỷ lệ
vốn chủ sở hữu/tài sản và khả năng ngân hàng được khôi phục
1.3.2. Các nghiên cứu trong nước
15
Đỗ Huỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013) có bài “Phân tích thực tiễn về
những yếu tố quyết định nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” và đưa
ra các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu: Một là các yếu tố vĩ mô bao gồm tốc độ tăng
trưởng GDP và lạm phát; hai là các yếu tố vi mô bao gồm tỷ lệ nợ xấu của năm
trước, sự thiếu hiệu quả, quy mô của ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, kết quả kinh
doanh (ROE), tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Đó là những yếu tố mà hai tác giả đã xem
xét, có sự kế thừa một phần từ các nghiên cứu trước trong và ngoài nước. Hạn chế
của mô hình là tác giả thu thập dữ liệu từ 10 ngân hàng để qui ra kết quả cho các
ngân hàng thương mại và chỉ kiểm định với các Ngân hàng trên địa bàn TPHCM.
Hơn nữa nghiên cứu chỉ kiểm định tổng quát và lấy số liệu từ 10 ngân hàng, nó sẽ
không đúng ở mỗi ngân hàng và do đó không phát hiện được các khác biệt nhất
định về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại mỗi ngân hàng.
Trương Đông Lộc (2010) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
của các NHTM Nhà nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long”. Nghiên cứu đã
đưa ra kết luận các nhân tố ảnh hưởng đó là: Khả năng tài chính của người vay, đảm
bảo nợ vay, lĩnh vực ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả nợ, kiểm tra giám sát
nợ vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kinh nghiệm của người vay. Hạn chế của
nghiên cứu này là kết quả chỉ kiểm định với các NHTM Nhà nước trên khu vực
Đồng bằng Sông Cửu Long. Do đó kết quả chỉ đúng ở khía cạnh nào đó, chưa mang
tính khái quát cao.
Trong bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của Ngân