SKKN PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP TRONG MÔN NGỮ VĂN - Pdf 29

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
**********************************
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HOÀ BÌNH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP
TRONG MÔN NGỮ VĂN
Họ và tên giáo viên: Đinh Thị Xuyến
TỔ KHOA HỌC XÃ HỘI
Trường: THCS LẠC LƯƠNG
NĂM HỌC:
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KHOA HỌC
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP TRONG MÔN NGỮ VĂN
I – PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Năm học 2000 Bộ GD&ĐT ra Quyết định đổi mới giáo dục phổ thông theo định
hướng đổi mới chương trình giáo dục THCS. Các môn học ở trường THCS đều có sự
thay đổi, trong đó môn ngữ văn là môn có nhiều thay đổi nhất. Điều này thể hiện trước
hết ở sự thay đổi tên gọi môn học là Ngữ văn và việc tổ chức biên soạn một cuốn sách
giáo khoa thay cho ba cuốn Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn như trong chương trình
cải cách giáo dục trước đây.
Theo những nguyên tắc biên soạn sách giáo khoa, điểm nổi bật nhất trong sách
giáo khoa Ngữ văn là tinh thần tích hợp kiến thức, kỹ năng của ba phân môn: Văn học,
Tiếng việt, Tập làm văn trong tong môn học.
Do yêu cầu tích hợp, bài học nào cũng phải dạy văn, tiếng việt, tập làm văn, có sự
thay đổi về sách cho nên dẫn đến sự thay đổi về phương pháp giảng dạy môn ngữ văn
THCS.
Phương pháp giảng dạy môn ngữ văn có hai phương pháp đó là phương pháp tích
cực và phương pháp tích hợp.
Phương pháp tích cực cùng một lúc thực hiện cả ba phân môn: Văn, Tiếng việt,
Tập làm văn.

cứu.
Và học sinh lớp 9 cũng có ý nghĩa tiền đề cho cấp học Trung học phổ thông.
Khi nghiên cứu tôi chọ những bài học trong phạm vi các giờ học trên lớp.
5. Thời gian nghiên cứu:
Chọn đề tào và bắt đầu nghiên cứu ngay từ đầu năm học.
Giành thời gian nghiên cứu ở nhà bằng cách học tài liệu.
Nghiên cứu ttrong các tiết dạy của bản thân và qua các tiết dạy của đồng
nghiệp.
Đăng ký đề tài tháng 10.
Tích luỹ, tham khảo nghiên cứu, làm đề cương tháng 12.
Duyệt với tổ chuyên môn tháng 1.
Viết đề tài tháng 2.
Bổ sung đề tài tháng 3.
Nộp đề tài cuối tháng 4.
II – CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
1. Tích hợp cả ba phân môn: Văn, Tiếng việt, Tập làm văn.
Đặc điểm của môn ngữ văn là kiến thức của ba phân môn có liên quan với nhau,
chúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Học văn để lấy dẫn chứng cho môn tập làm văn, học
tiếng việt để biết diễn đạt, ding từ, đặt câu trong việc viết tập làm văn, học tập làm văn
để nhận xét bố cục một văn bản chính xác.
Ba phân môn có liên quan về mặt kiến thức vì vậy việc tích hợp kiến thức cả ba
phân môn là vô cùng cần thiết.
Học văn bản: Kiều ở lầu Ngưng Bích. Tôi đã tích hợp giữ văn bản và tiếng việt
như sau:
Tác giả đã sử dụng nghệ thuật gì trong 8 câu thơ cuối đoạn trích?
Học sinh trả lời: Tác giả ding điệp ngữ, từ láy. Giáo viên hỏi tiếp: Vậy điệp ngữ, từ
láy các em đã học ở phần nào, lớp nào?
Học sinh trả lời: điệp ngữ từ láy học ở phần tiếng việt lớp 7.
Tích hợp văn với tập làm văn ở đoạn trích này như sau:
Tôi đặt câu hỏi để tích hợp văn với tập làm văn

họ, cuộc sống tình cảm cuỉa người lính là chầm lắng, cam chịu.
Nhưng người lính thời bấy giờ tính tình rất vô tư hồn nhiên gian khổ vẫn cười đùa, tính
tình của họ thật vui vẻ, sôi nổi.
Tác giả đã xây dựng nhân vật phù hợp với thời đại và ngược lại thời đại, xã hội nào
thì sẽ có người phù hợp với thời đại ây.
Học văn bản: “ Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố, chúng ta bất bình với những tên
cai lệ, lý trưởng, bất bình với xã hội phong kiến bất công. Chị Dậu có sự phản kháng
nhưng chỉ là sự phản kháng bộc phát. Tác giả chưa tìm ra một phương pháp đấu tranh
đúng đắn cho chị Dậu.
Vì vậy là sự hạn chế của các nhà văn hiện thực giai đoạn 30-45.
Giáo viên tích hợp phần này như vậy học sinh sẽ đánh giá đúng nhân vật chị Dậu.
3. Tích hợp các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Vũ trụ vốn là một thể hữu cơ, các quy luật bên trong vốn liên quan mật thiết với
nhau, động vào bất cứ chỗ nào cũng liên quan đến cái khác do đó các loại học vấn
nghiên cứu quy luật, tuy bề ngoài có phân biệt mà trên thực tế thì không tách rời. Trên
đời không có học vấn nào là cô lập tách rời các học vấn khác, ví như chính trị học thì
phải liên quan đến lịch sử, kinh tế, pháp luật, triết học, tâm lý học. Nếu học chỉ biết
đến học vấn này mà không biết đến học vấn khác có liên quan thì càng học tiến lên
càng gặp khó khăn. Một người nào giỏi về lĩnh nào đều phải có cơ sở sâu sắc của nhiều
môn học vấn khác.
Học văn bản nhật dụng: “ Đấu tranh cho một thế giới hoà bình”. Giáo viên cần phải
tích hợp với vấn đề hiện nay, một vấn đề mà toàn nhân loại quan tâm là nguy cơ chiến
tranh hạt nhân là mối hiểm hoạ đe doạ sự sống loài người. Giáo viên tích hợp: trên thế
giới hiện nay vẫn tiến hành sản xuất vũ khí hạt nhân như Triều Tiên.
Chiến tranh hạt nhân làm ảnh hưởng xấu đến xã hội, làm xuất hiện nhiều trẻ em
nghèo, làm nhiều nước nghèo đi bệnh tật làn tràn không có khả năng cứu chữa.
Giáo viên liên hệ ở Việt Nam. Trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ, Mỹ đã rải chất
độc hoá học xuống Việt Nam làm nhiều người bị ảnh hưởng, nhiều trẻ em ra đời không
bình thường, trí tuệ kém phát triển, đần độn, dị dạng về hình thể, mất khả năngg làm
việc.

có những lời ru trực tiếp của người mẹ: “ Ngủ ngoan A- Kay ơi, ngủ ngoan A- Kay
hỡi”. Có những câu thơ giọng điệu gần như lời ru “ em cu tai ngủ trên mẹ ơi”.
Còn ở bài thơ “ Con cò” của Chế Lan Viên vận dụng ca dao rất sáng tạo, ông gợi
lại lời hát ru từ những câu ca dao, chỉ lấy ý từ những câu ca dao chứ không lấy nguyên
văn câu ca dao vào bài thơ của mình để nói về ý nghĩa của bài thơ.
Qua đối chiếu so sánh như vậy mà học sinh they được sự sáng tạo của nhà văn nhà
thơ khi thể hiện tác phẩm của minh.
Dạy những văn bản có đề tài về người lao động ở lớp 9 có văn bản: “ Đoàn thuyền
đánh cá” của Huy Cận và văn bản “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Khi dạy
văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” tôi cho học sinh so sánh ở văn bản “ Đoàn thuyền đánh cá”
tác giả khai thác đối tượng đó là vì con người lao động sôi nổi nhiệt tình, vui tươi phấn
khởi để xây dựng CNXH, xây dựng đát nước. Đây là một phẩm chất tốt đẹp của con
người lao động mới XHCN.
Nhưng với văn bản “ Lạng lẽ Sa Pa” thì Nguyễn Thành Long lại khai thác đối
tượng con người lao động với một phẩm chất khác đó là cống hiến sức mình một cách
âm thầm lặng lẽ, khiêm nhường.
Tích hợp hai văn bản này để học sinh they được cùng đề tài viết về con người lao
động nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ lại có cách nhìn nhận và khai thác đối tượng một
cách riêng.
5. Tích hợp đọc những văn bản văn học ở giai đoạn lich sử khác nhau:
Như chúng ta đã biết van học phản ánh hiện tại của xã hội, ở giai đoạn lịch sử
nào thì văn học sẽ phản ánh xã hội, con người ở giai đoạn lịch sử ấy.
Tích hợp những văn bản cùng đề tài nhưng ở những giai đoạn lịch sử khác nhau
cũng là một việc làm cần thiết để giúp học sinh hiểu được tư tưởng và sự ảnh hưởng
của xã hội đối với các nhà văn.
Cùng đề tài về người nông dân ở lớp 8 có văn bản như: “ Lão Hạc” của Nam Cao,
văn bản “ Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. ở lớp 9 có văn bản “ Làng” của Kim Lân.
Khi dạy văn bản “ Làng” tôi dụng phương pháp tích hợp bằng cách cho học sinh
biết được hoàn cảnh sáng tác của văn bản “ Lão Hạc” và văn bản “ Tắt đèn” vào giai
đoạn lich sử trước năm 1945 những tác phẩm này phản ánh cuộc sống của người nông

xét đánh giá về Vũ Nương?
Tổ chức lớp học, hoạt động nhóm là một biện pháp dạy học tích cực nhằm mục
đích tạo điều kiện cho học sinh phát triển kỹ năng, ngôn ngữ giao tiếp xã hội, phát
triển kỹ năng giải quyết vấn đề. Do được sự hỗ trợ của thành viên trong nhóm với sự
khuyến khích của giáo viên. Hoạt động nhóm là môi trương thuận lợi để học sinh bàn
bạc những vấn đề về nội dung ý nghĩa của một văn bản. Giáo viên có cơ hội phát hiện
vốn sống và đặc điểm tâm lý và khả năng tiếp nhận văn học của từng cá nhân học sinh.
Hoạt động theo nhóm giáo viên trở thành người hưỡng dẫn và tạo sự tương hỗ giữa
học sinh với nhau.
Học sinh tự giác tiến hành các hoạt động chiếm lĩnh chi thức, ở hoạt động nhóm
phương thức học tập hợp tác và phương thức tự học đều được phát huy tốt.
Muốn vận dụng hình thức học tập theo nhóm, giáo viên phải nắm vững quy trình
tổ chức quản lý nhóm học tập.
Bước 1: Thành lập nhóm.
Bước 2: Hoạt động nhóm:
Giáo viên có thể phát phiếu, có thể nêu câu hỏi các nhóm, các nhóm nhận nhiệm
vụ, sau đó bầu nhóm trưởng, nhóm trương điều khiển nhóm nêu ý kiến thảo luận, ghi
chép.
Giáo viên đến từng nhóm hỗ trợ động viên, nhắc nhở các nhóm làm việc đều tay
đảm bảo tiến độ thời gian.
Bước 3: Kết luận vấn đề:
Giáo viên tóm tắt kết quả đạt được giúp học sinh tự nhận xét đánh giá.
Chia nhóm:
Có thể chia theo bàn học sinh, mỗi bàn thành một nhóm, có thể chia ra mỗi lớp
thành 2 nhóm. Ngoài hoạt động nhóm, tôi áp dụng hình thức học tập theo tập thể lớp.
Giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời, giáo viên yêu cầu một học sinh khác nhận
xét bổ sung.
Hình thức hoạt động cá nhân:
Từng cá nhân làm việc tích cực, nhận được câu hỏi, bài tập giáo viên đưa ra, học
sinh không bàn bạc thảo luận, mỗi em có sự suy nghĩ riêng, giáo viên lấy tinh thần


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status