Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
I.Đề tài :
MỘT VÀI KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP
TRONG GIỜ
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
1
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
II.ĐẶT VẤN ĐỀ :
1. Tầm quan trọng : Đổi mới quan điểm, phương pháp dạy học (PPDH)là một
yêu cầu của nền giáo dục hiện nay nhằm đáp ứng các mục tiêu của sự nghiệp
giáo dục đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Một
trong những PPDH mới là PPDH tích hợp.Phương pháp này được chính thức
đưa vào áp dụng trong nhà trường phổ thông từ năm học 2002-2003, khi
chúng ta tiến hành cải cách giáo dục ở cấp THCS.
2. Thực trạng: Đối với bậc THPT, việc học tập và vận dụng PPDH này đã gần
bốn năm học, một thời gian đủ để chúng ta tổng kết lại thực tiễn những mặt
đã và chưa làm được của giáo viên về việc vận dụng PPDH này.
3. Lí do chọn đề tài :Trên tinh thần đó, là một giáo viên dạy Ngữ Văn, tôi xin
được bàn về vấn đề nêu trên qua đề tài : “Một vài kinh nghiệm vận dụng
phương pháp dạy học tích hợp trong giờ đọc hiểu văn bản văn học “
4. Giới hạn đề tài : Bàn về PPDH là bàn về một vấn đề có tính chất nghiên cứu
khoa học sâu và rộng.Ở đây, trong phạm vi một SKKN, nhằm phục vụ trực
Văn.Câu trúc chương trình các cấp học được xây dựng theo mô hình những
đường tròn đồng tâm. Trong hướng dẫn học bài và dạy học, có những vấn đề
SGK yêu cầu cần phải sử dụng PPDH tích hợp trong tiết dạy.
2. Các phân môn của bộ môn Ngữ văn ở THPT có quan hệ khá chặt chẽ. Làm
văn cùng với Văn học và Tiếng Việt tạo thành “cái kiềng” Ngữ văn trong
chương trình Ngữ văn ở các bậc học phổ thông. Sự cấu tạo này thể hiện rất rõ,
từ chương trình, SGK cho đến các tiết học cụ thể, các bài kiểm tra, các bài thi.
Ở SGK, văn bản văn học vừa là đối tượng học tập vừa là ngữ liệu, phương
tiện để phục vụ học tập các phân môn Tiếng Việt, Làm văn. Ngược lại, khi
học đọc hiểu văn bản văn học ( VBVH ) lại dùng những tri thức khoa học của
phân môn Tiếng Việt và Làm văn để khai thác.
3. PPDH Ngữ văn ở THPT dựa trên hai trục Đọc văn và Làm văn cũng thể hiện
rất rõ tính chất tích hợp.Dạy đọc văn là để cung cấp tri thức và phương pháp
cho làm văn và ngược lại,dạy làm văn là để củng cố tri thức và phương pháp
đọc hiểu VBVH.
4. Mặt khác, là một môn thuộc khoa học xã hội, môn văn học có quan hệ gắn với
lịch sử, văn hóa và xã hội.Do vậy, tích hợp dạy các kiến thức xã hội trong bộ
môn văn có một khả năng lớn.
5. Việc kiểm tra thi cử, đề thi, kiểm tra hiện nay đòi hỏi sự vận dụng tích hợp
nhiều loại kiến thức, phương pháp, kĩ năng.
V.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
A. Thực trạng của việc vận dụng PPDH tích hợp trong bộ môn Ngữ văn hiện
nay :
1. Thực trạng :
Như đã phân tích ở trên, việc sử dụng PPDH tích hợp là một tất yếu trong dạy
học bộ môn Ngữ văn.Thế nhưng, việc vận dụng phương pháp này trong thực tế
không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả.
+ Nhiều giờ dạy, giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng PPDH tích hợp.Do
đó, dẫn đến việc khai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu,làm cho
chất lượng bài dạy không đạt.
+ Khi vận dụng PPDH tích hợp, giáo viên thiếu sự chuần bị kĩ , sử dụng tích
hợp một cách tùy hứng dẫn đến hiệu quả tích hợp không cao.
Ví dụ : Giáo viên chưa chủ động chuẩn bị dữ liệu để phục vụ việc dạy học tích
hợp.
Dạy bài Sóng của Xuân Quỳnh điểm nhấn sẽ là cảm quan và khát vọng của Xuân
Quỳnh về tình yêu lứa đôi.Tất nhiên, với bài này, tích hợp với cảm quan và khát
vọng của Xuân Diệu về tình yêu là hoàn toàn hợp lí. Thế nhưng, một điều oái
oăm là khi nhắc đến Xuân Diệu, ông Hoàng của thơ tình yêu thì giáo viên lúng
túng không biết chọn bài thơ nào, tứ thơ , câu thơ nào cần viện dẫn để phân tích,
so sánh để thấy điểm giống nhau và điểm khác biệt giữa hai thi nhân khi nói về
tình yêu.
2.Nguyên nhân :
Có mấy nguyên nhân sau đây :
- Chưa có ý thức, chưa chú trọng đến PPDH tích hợp còn mới mẻ đối với giáo
viên THPT.
- Kĩ năng lựa chọn các đơn vị kiến thức tích hợp còn hạn chế : tích hợp không
đúng trong tâm; tích hợp gò ép, gượng gạo.
- Chủ quan, tùy hứng, thiếu sự chuẩn bị, thiếu kế hoạch.
- Chưa hiểu rõ quy trình chuẩn bị để thực hiện dạy học theo PPDH tích hợp.
3.Hậu quả :
Từ những nguyên nhân trên, có thể thấy, từ việc áp dụng một PPDH nhỏ mà
không đúng dẫn đến một hậu quả lớn.Đó là :
+ Học sinh không nhận ra được sự gắn kết của các đơn vị kiến thức trong SGK,
một vấn đề mà người biên soạn sách rất lưu tâm.
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
4
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
+ Các nội dung kiến thức cần đến việc sử dụng kiến thức của các bộ môn khác,
phân môn khác để làm phương tiện, công cụ khai thác.
c. Nguyên tắc: ( Trả lời câu hỏi : Sử dụng PPDH tích hợp trong bài dạy xuất phát
từ những cơ sở nào ? )
Đó là :
+ Căn cứ vào mục tiêu cần đạt của tiết học.
+ Căn cứ vào nội dung chương trình ( các bài học trước hoặc sau bài cần dạy có
liên quan )
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
5
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
d. Phương pháp : ( Trả lời câu hỏi : Cách thức sử dụng PPDH tích hợp như thế
nào ?).
Đó là:
+ Xác định nội dung, phạm vi kiến thức cần tích hợp.
+ Lựa chọn dữ liệu tích hợp.
Ví dụ minh họa :
Khi dạy bài đọc hiểu VBVH Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn
Thi, tôi làm như sau :
- Về mục tiêu sử dụng PPDH tích hợp, tôi cần cho học sinh hiểu được:
+ Những phẩm chất cách mạng của gia đình nhân vật Việt vừa có tính chất truyền
thống của một gia đình cách mạng, vừa là những phẩm chất tiêu biểu cho con
người miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.Đồng thời, cho học
sinh thấy vẻ đẹp riêng trong tích cách của từng nhân vật. Thực hiện được như thế
là giúp học sinh khắc sâu kiến thức.
+ Khi dạy, tôi chọn các VBVH có nội dung liên quan với VBVH Những đứa con
trong gia đình để so sánh và khái quát nội dung nêu trên như : Rừng xà nu của nhà
3. Chuẩn bị các dữ liệu để tích hợp:
Một trong những yếu tố quyết định thành công của việc vận dụng PPDH tích hợp
là việc chuẩn bị dữ liệu để tích hợp.( dữ liệu được hiểu là các đơn vị kiến thức cần
có để tích hợp ). Như trên đã nói, giáo viên sẽ lúng túng và dễ mất uy trước học
sinh. Để việc chuẩn bị dữ liệu tích hợp có hiểu quả, tôi xác định mục tiêu, nguyên
tắc, và phương pháp chuẩn bị như sau:
a. Mục tiêu: ( Trả lời câu hỏi : sử dụng dữ liệu tích hợp trong bài dạy để làm gì ? )
Đó là:
+ Giúp giáo viên chủ động trong việc sử dung PPTH
+ Giúp vận dụng PPDH tích hợp đúng mục tiêu và có hiệu quả.
b. Nguyên tắc: ( Trả lời câu hỏi : Các dữ liệu tích hợp trong bài dạy phải đáp ứng
những tiêu chí nào ? )
Đó là :
+ Các dữ liệu phải có điểm tương đồng ( đề tài, chủ đề , loại, thể, kiểu…)
+ Các dữ liệu phải phù hợp với đơn vị kiến thức cần tích hợp
c. Phương pháp : ( Trả lời câu hỏi : Cách thức chuẩn bị dữ liệu tích hợp như thế
nào ?).
Đó là:
+ Các dữ liệu nằm trong tác phẩm của chương trình ngữ văn đã học.
+ Các dữ liệu phải được viết ra, phải được đối chiếu , so sánh.
Ví dụ minh họa :
Khi dạy trích đoạn Đất nước trích Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn
Khoa Điềm,tôi thực hiện việc chuẩn bị các dữ liệu tích hợp như sau :
- Về mục tiêu ( như đã xác định ở trên )
- Về nguyên tắc và phương pháp :
+ Tôi tiến hành lựa chọn các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 12 có cùng
đề tài, chủ đề với trích đoạn bài dạy Đất nước đã nêu. Đó là các bài thơ : Việt Bắc (
Tố Hữu ), Đất nước ( Nguyễn Đình Thi ), Bên Kia sông Đuống ( Hoàng Cầm )
+ Tiến hành xác định nội dung tích hợp. Đối với bài dạy này, tôi xác định lựa chọn
nội dung tích hợp là ở đề tài, nội dung cảm hứng, chủ đề, cách thể hiện ở mỗi tác
VBVH hoặc ngược lại.
Ví dụ : Khi dạy bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, tôi đã sử dụng kiến thức của bài
Luật thơ, phần luật của thể thể năm chữ để lí giải âm điệu, nhịp điệu của bài thơ và
lối tự sự - trữ tình của tác giả trong bài thơ
b. Tích hợp dọc : Tích hợp theo thể loại, đề tài , chủ đề của TPVH.Mục đích của
việc tích hợp này chủ yếu là so sánh, đối chiếu giữa các bài học có cùng đề tài, chủ
đề, các đơn vị kiến thức có quan hệ tương đồng để khắc sâu kiến thức cho học
sinh, giúp cho học sinh nhận ra những điểm giống nhau và khác biệt của các nội
dung cần quan tâm trong bài dạy VBVH.
Ví dụ : Khi dạy bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh, một bài thơ tập trung thể hiện
những cảm nhận, suy tư và khát vọng của Xuân Quỳnh về tình yêu , tôi liên hệ với
ca dao nói về tình yêu lứa đôi, với thơ Xuân Diệu để học sinh thấy được nét độc
đáo, sự tinh thế và chiều sâu trong suy cảm của nữ thi sĩ này.
Như vậy, cùng dạy một bài sóng của Xuân Quỳnh tôi đã linh hoạt sử dụng hai
hình thức tích hợp. Cách làm này giúp cho giờ dạy tránh được sự nhàm chán, giúp
cho việc khai thác kiến thức trong bài dạy rộng và sâu, học sinh lĩnh hội được
nhiều kiến thức và thấy được sự kết nối của các phân môn trong bộ môn, các bài
học trong chương trình , rèn luyệ cho học sinh kĩ năng so sánh văn học và giúp
cho giờ học có hứng thú.
4. Ra đề kiểm tra đánh giá theo hướng tích hợp.
Kiểm tra là khâu đánh giá kết quả học tập của học sinh, giúp giáo viên dựa vào
kết quả dạy học mà điều chỉnh phương pháp dạy học hợp lí nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
Kiểm tra theo hướng tích hợp là một hướng kiểm tra hiện đại được áp dụng
trong nhà trường những năm gần đây, nhất là trong các kì thi lớn.
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
8
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
b. Nguyên tắc :
+ Nội dung kiểm tra phải nằm trong chương trình.
+ Nội dung kiểm tra là những đơn vị kiến thức có khả năng tích hợp
c. Phương pháp :
+ Đề kiểm tra chứa các nội dung tích hợp theo hai hình thức : tích hợp ngang và
tích hợp dọc.
+ Trường hợp áp dụng : Bài viết định kì.Kiểm tra 15 phút.
VI.KẾT QUẢ THU ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1.Kết quả thu được:
Qua việc thực hiện các nội dung nêu trên, tôi thu được các kết quả sau :
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
9
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
- Giáo viên sử dung PPDH tích hợp một cách chủ động, hiệu quả .
- Nâng cao hiệu quả, chất lượng giờ dạy đọc hiểu VBVH dạy : học sinh có hứng
thú, lĩnh hội nhiều kiến thức, thấy được mối liên kết giữa các bài học ,giữa các
phân môn trong bộ môn, giữa chương trình Ngữ văn THCS với chương trình Ngữ
văn THPT…
- Rèn luyện kí năng cảm thụ văn học và làm văn cho HS
- Đổi mới về cách ra đề và chất lượng đề kiểm tra.Đối mới được phương pháp
kiểm tra, đánh giá chất lượng học sinh.
- Góp phần vào đổi mới PPDH ở bộ môn Ngữ văn.
- Học sinh có nhiều tiến bộ trong học tập bộ môn.
2.Bài học kinh nghiệm :
Để vận dụng hiệu quả PPDH tích hợp vào giảng dạy bộ môn ngữ văn nói chung,
cần tuân thủ các nội dung đã đề cập nêu trên.Đặc biệt cần xác định tính cần thiết
của việc sử dụng PPDH tích hợp, mục tiêu, nội dung và phương pháp sử dụng.
- Nên thực hiện chế độ bảo lưu đốivới các đề tài sang kiến kinh nghiệm được xếp
loại cấp tỉnh.
2.Đối với trường :
- Hiện tại, cần tổ chức thẩm định các đề tài sang kiến kinh nghiệm theo hai khối :
Tự nhiên và xã hội để tiết kiệm thời gian và việc thẫm định có chiều sâu.
IX.Tài liệu tham khảo :
- Sách giáo khoa
- Phân phối chương trình Ngữ văn 10, 11, 12
- Một số vần đề đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ văn ở
trường THPT( tài liệu Bồi dưỡng thương xuyên chu kì III )
X. MỤC LỤC :
STT Nội dung Trang
1. Tên đề tài 1
2. Đặt vấn đề 2
3. Cơ sở lí luận 2
4. Cơ sở thực tiễn 3
5. Nội dung nghiên cứu 3 - 10
6. Kết quả thu được và bài học kinh nghiệm 10-11
7. Kết luận 11
8. Đề nghị 11
9. Tài liệu tham khảo 12
10. Mục lục 12
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
11
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
GD&TĐ) - Mấy năn gần đây Bộ GD-ĐT đã có nhiều cải cách về chương trình, sách giáo
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
12
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
tim người đọc cái kỳ diệu của chim hót, bướm bay, cá lội, chứ không phải làm cho bướm ép dẹp,
chim nhồi rơm và cá chết khô”. Một lời bình hay, đúng lúc, đúng chỗ sẽ nâng cao giá trị thẩm
mỹ của bài văn, bài thơ, khơi dậy ở trái tim non trẻ của các em tình yêu người, yêu đời để các em
biết ghét cái ác, cái xấu mà hướng tới chân, thiện mỹ. Còn nếu dạy văn mà cứ như dạy ngữ pháp,
hay dạy cách làm văn với mấy chục câu hỏi lý trí, vô bổ, thì hỡi ôi, chẳng khác nào nước xối đầu
vịt, nước đổ lá khoai. Thậm chí có thầy cô còn chưa biết đọc diễn cảm, chứ chưa nói đến ngâm
thơ khi cần để minh hoạ.
Hồi còn đi dạy tôi đã cố gắng tập ngâm thơ, tập đọc diễn cảm đối với văn xuôi, kịch, các thể thơ,
hoặc tập hát các làn điệu dân ca, có khi còn ghi âm lại, mở cho các em nghe thử, góp ý rồi tu sửa
cho tới khi ưng ý. Tất cả các bài thơ và những đoạn văn xuôi, đoạn kịch hay chúng tôi đều thuộc
lòng. Ngày nay, rất buồn khi thấy một số thầy cô giảng thơ mà chưa thuộc nổi bài thơ ấy, lúc nào
cũng phải dán mắt vào sách giáo khoa thì làm sao giảng hay được. Đã có một thời các cụ đồ Nho
gọi dạy văn là bình văn thông qua cách đọc diễn cảm. Trong phong trào Đông kinh nghĩa thục
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các buổi diễn thuyết người ta thường xen vào việc bình
văn để thu hút người nghe:
Buổi diễn thuyết người đông như hội
Kỳ bình văn khách tới như mây.
Nói vậy không có nghĩa là bảo thủ theo lối dạy xưa, hay không coi trọng việc cải tiến phương
pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn hiện nay. Việc người thầy làm “đạo diễn” đứng sau “sân khấu”,
ở vị trí thứ hai để chỉ đạo các trò đọc-hiểu bài văn như hiện nay là một việc làm cần thiết. Học
trò được đưa lên vị trí số một là chủ động để tự tìm hiểu, tiếp thu văn bản là chủ yếu, thầy không
cảm thụ thay cho trò. Nhưng có một thực tế là các bài văn, bài thơ ở các bộ sách đã cải tiến vẫn
còn rất dài. Tác phẩm thì học sinh chưa được đọc, thậm chí một số thầy cô cũng chưa đọc, nhất
là những tác phẩm văn học nước ngoài. Dạy trích đoạn “Uy- lit- xơ trở về” mà chưa được đọc sử
thi “Ô- đi- xê” của Homer thì làm sao bình được tâm trạng của Uy- lít- xơ. Dạy “Hồi trống cổ
Người thầy muốn thắp sáng ngọn lửa tình yêu văn chương trong tâm hồn học sinh thì trước hết
hãy thổi bùng ngọn lửa văn chương trong trái tim của mình.
Cùng với các thao tác khác trong quá trình dạy văn, lời bình hay sẽ có một ý nghĩa rất quan
trọng. Mãi mãi thế hệ “U60” chúng tôi vẫn còn nhớ như in một số lời bình rất hấp dẫn của các
thầy: Lê Trí Viễn, Hoàng Như Mai, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú,
Phan Cự Đệ… Hành trang ấy đã giúp chúng tôi có được những học sinh giỏi văn đạt giải cấp
quốc gia, một số em nay đã là Tiến sĩ, Thạc sĩ dạy ở một số trường Đại học, Cao đẳng, là giáo
viên giỏi ở các cấp THCS, THPH hay nghiên cứu ở Viện văn học…
Lê Xuân
(GD&TĐ) - Khi việc dạy học Văn ở trường phổ thông chăm chắm vì mục đích thi cử (thi
HS giỏi, thi tốt nghiệp, thi ĐH, CĐ) thì việc giã từ những mục đích cao cả, vì mục đích thực
dụng trước mắt là một tất yếu. Nếu đề ra thi tốt nghiệp THPT, BTTH không thoát khỏi các
khuôn mẫu xơ cứng thì việc học cho đến luyện thi cũng không thoát khỏi lối học thi cử.
“Hành lang hẹp” và vị thế của thầy giáo trong giờ giảng Văn
Đã 30 năm trực tiếp giảng dạy Văn học ở trường phổ thông, tôi đã ngẫm ra những nghịch lý trớ
trêu ấy. Chúng tôi đã từ chân trời của những khát vọng, những điều tuyệt vời mà rơi xuống dạy
văn thực dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thi cử của học trò. Cái gọi là tích luỹ của tôi trong bấy
nhiêu năm dạy văn bắt đầu từ dạy HS để đi thi. Không ít đồng nghiệp đã từng muốn được chia
sẻ, muốn được học hỏi chút kinh nghiệm luyện thi môn Văn của tôi mà mỗi lần nhắc đến niềm tự
hào trong tôi đã nhường chỗ cho sự tiếc nuối. Này nhé: Đề thi tốt nghiệp THPT hay BTTH hai
đề chọn 1. Mỗi đề có từ 2 câu, trong đó có 1 câu phụ (2 điểm) và 1 đến 2 câu chính. Câu phụ có
mấy dạng sau đây: Dạng 1: Tóm tắt tác phẩm văn học. Trong chương trình văn 12 có vài tác
phẩm tự sự (thuộc văn học Việt Nam) và dăm tác phẩm tự sự văn học nước ngoài. Thầy giáo có
thể tóm tắt và cho HS tóm tắt. Dạng 2: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Điều này không khó,
chỉ hướng dẫn HS học thuộc lòng là đâu vào đấy. Dạng 3: Nêu tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác văn học của tác giả. Về cuộc đời có thể trình bày: Năm sinh, năm mất, quê quán, gia
đình, cuộc đời tác giả (lưu ý những sự kiện liên quan đến văn học). Về sự nghiệp sáng tác văn
học có thể trình bày quan điểm sáng tác văn học, các giai đoạn sáng tác, tác phẩm chính, giá trị
nội dung, nghệ thuật, đánh giá tác giả Như vậy, “thi gì học nấy” đã khiến cho thầy giáo có sáng
dân trước cách mạng, về tấn bi kịch không được làm người lương thiện
Thức dậy khát vọng trong lòng học trò, thức dậy lòng yêu tiếng Việt, biết nói lời hay, ý đẹp, biết
tích luỹ làm giàu vốn ngôn ngữ phong phú của mình là công việc không chỉ ngày một, ngày hai.
Thức dậy khát vọng học trò trong những giờ giảng văn là tạo ra bầu không khí văn chương. Đó
là một bầu không khí cởi mở dân chủ, bầu không khí đối thoại. Bước vào giờ giảng là bước vào
một không khí được sẻ chia, được trao đổi, tâm tư, ở đó, thầy và trò bình đẳng với nhau trong
quá trình khám phá và sáng tạo. Mọi áp đặt, mọi thiên kiến chủ quan, mọi bài xích và thoá mạ sẽ
giết chết không khí văn chương. Bao nhiêu năm đi dạy, chúng tôi đã kiên nhẫn, đã khuyến khích
để lắng nghe được ý kiến từ học trò. Một câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, vừa sức; một ánh mắt thiện
cảm, một lời động viên khích lệ, một sự chờ đợi không nôn nóng, một sự tranh thủ thêm nhiều ý
kiến, một giả định, một nhận xét thoả đáng, đó là những gì ngoài văn chương hết sức cần thiết để
nhen lên khát vọng từ học trò vốn dĩ đã nguội lạnh. Kể cả những lúc chấm bài cho HS cần trân
trọng từng sáng tạo của các em, sửa chữa những lỗi nhỏ bằng những nét bút, con chữ hết sức cẩn
trọng là một việc làm có ý nghĩa.
Để cho HS được nói lên những ý nghĩ chân thật tự sâu thẳm tâm hồn mình là một điều cần thiết
và kể cả những lúc HS vào cuộc tranh luận, tôi lắng nghe, chưa bao giờ tôi đánh mất vị thế của
mình là nhân vật “trung tâm” của giờ lên lớp.
Lê Văn Vỵ
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
15
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
Một xu hướng của đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới theo quan điểm tích hợp (TH). TH là sự kết hợp một
cách hữu cơ, có hệ thống ở những mức độ, cấp bậc khác nhau các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hoặc phân
môn khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến
trong các môn học hoặc phân môn đó. “TH là quan điểm hoà nhập đựơc hình thành từ sự nhất thể hoá những khả
năng, một sự quy tụ tối đa những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất” (1). Các nhà nghiên cứu hiện nay
đang tiến hành vận dụng và hoàn chỉnh việc TH ba phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn ở bậc THCS và đang thí
năng lực cảm thụ thẩm mĩ để ra đời các em có thể tham gia vào đời sống và tự học” (2).
Như thế, chúng ta có được sự rõ ràng về các khái niệm trong đó Ngữ văn được hiểu là môn học gồm ba phân môn
Văn, Tiếng việt, Làm văn. Đối tượng mà bài viết này hướng tới là phân môn Văn trong đó gồm hai đối tượng nhỏ:
tác phẩm và LLVH. Việc TH giữa kiến thức LLVH với phân tích TPVH không đơn giản chỉ đòi hỏi GV phải có trình độ,
vốn hiểu biết sâu sắc, không chỉ thông qua sách vở mà còn dày dạn kinh nghiệm sống, biết vận dụng linh hoạt các
vấn đề lí luận vào trong tác phẩm, biết lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với nội dung TH.
Thứ hai, về mặt lí thuyết, quan điểm TH giữa kiến thức LLVH với phân tích TPVH cũng như quan điểm TH ba phân
môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn cùng có chung cơ sở lí luận và thực tiễn là mọi vấn đề chỉ được giải quyết khi có sự
kết hợp liên ngành, nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, quan điểm TH mới này còn có cơ sở lí luận riêng là:
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
16
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
- Lí luận gắn liền với thực tiễn mà TPVH lại phản ánh thực tiễn cuộc đời nên lẽ tất yếu nhiệm vụ phân tích tác phẩm
phải gắn liền với nhiệm vụ lí luận.
- “TH là quá trình tìm kiếm và phát hiện hình thức tư duy kiểu mới không loại trừ mâu thuẫn song lại hết sức chú ý
khai thác tính chất tương thích và bổ sung lẫn nhau về nôi dung và hình thức của các bộ phận và TH chúng thành
một chình thể đa chiều” (3). Trong LLVH có phê bình văn học mà giữa TPVH và phê bình có mối quan hệ “máu thịt”
với nhau, chỉ khi phê bình văn học phát triển mới có những tác phầm kiệt xuất hơn ra đời và ngược lại. Hai đối tượng
văn học này vừa mâu thuẫn (tác phẩm và bài phê bình, tác giả và nhà phê bình) vừa có tính tương thích và bồ sung
cho nhau. Cho nên, với phương pháp TH này, HS không chỉ thành thạo trong thao tác phân tích mà còn thành thạo
trong thao tác vận dụng lí luận để có được bài viết chặt chẽ, sâu sắc và khả năng phê bình đánh giá hoàn chỉnh về
một TPVH. Tuy nhiên, ở đây phải lưu ý giữa Lí luận và Nghị luận trong TLV là hoàn toàn khác nhau. Nếu đánh đồng
giữa lí luận và nghị luận trong TLV chúng ta sẽ lạc sang nhiệm vụ TH của ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn.
LLVH tuy không là một phân môn song các vấn đề chứa đựng trong nó lại vô cùng lớn vượt ra khỏi phạm vi của tác
phẩm. Đó là những chân lí, những chiêm nghiệm về văn chương, cuộc đời, nghệ thuật đã được các bậc hiền triết,
các nhà văn vĩ đại, nhà phê bình có tên tuổi đúc rút từ nhiều thế kỷ văn học mà HS bằng khả năng khái quát của
mình phải vươn tới được những tri thức đó. Lí luận được hiểu là “chất” mà bằng phương pháp dạy học TH, GV giúp
phẩm để làm sáng tỏ chủ đề lí luận đó; và từ trong phân tích tác phẩm lại có các ý cần được khái quát theo nguyên
tắc TH ngang. Đây là trường hợp TH dọc kết hợp với TH ngang.
Áp dụng nguyên tắc TH ngang để đan xen các vấn đề lí luận làm nảy sinh một nguyên tắc nhỏ khác là: chỉ chọn
những ý trọng tâm (là tư tưởng chủ đề của tác phẩm) để xen các vấn đề lí luận. Mỗi tác phẩm là một hệ thống gồm
Người thực hiện : Lê Văn Hiệp –
Giáo viên Trường THPT Lý Tự Trọng
17
Sáng kiến kinh nghiệm – năm học 2009 – 2010
rất nhiều ý lớn, ý nhỏ và không phải ý nào cũng là ý trọng tâm, không phải ý nào cũng có thể khái quát lên thành
các vấn đề lí luận. Cho nên, nguyên tắc này gồm hai bước: 1) phải xác định được ý trọng tâm, 2) lồng ghép vấn đề lí
luận. Nếu TH tràn lan GV sẽ đẩy HS vào thực trạng phô trương kiến thức mà nhiều khi thừa, không cần thiết. Một
nguyên tắc nhỏ khác nữa như trên đã trình bày là tránh TH hời hợt, chỉ đạt tới sự hoà nhập về kiến thức mà không
có sự thẩm thấu, nhuần nhuyễn.
Nguyên tắc cuối cùng, GV phải thường xuyên tiến hành việc TH giữa kíên thức LLVH với phân tích TPVH. Có như vậy,
sự lặp đi lặp lại của các vấn đề lí luận sẽ hình thành trong tư duy HS một lối mòn, biến nó trở thành “chất lí luận” và
“ngấm vào máu” của HS.
Để nâng cao khả năng lí luận cho HS trung học trong học TPVH tốt hơn hết là dạy HS cách tự học, tự đọc. GV cung
cấp, giới thiệu cho HS một số tài liệu tham khảo: các bài phê bình, bình giảng, các bài thi đạt giải Quốc gia,… và
hướng dẫn HS đọc và tìm hiểu những vấn đề trọng tâm của lí luận trong các tài liệu tham khảo đó để HS tự trang bị
cho mình một “vốn lí luận” nhất định.
Cuộc sống không ngừng vận động và phát triển theo chiều hướng đi lên. Nhìn nhận mọi vấn đề từ bản chất từ chiều
sâu là một nhu cầu tất yếu và càng quan trọng hơn đối với những “công dân toàn cầu”. Hy vọng cùng với nhiều
phương pháp khác, phương pháp tích hợp sẽ góp phần giúp học sinh nhìn nhận và đánh giá đúng đắn mọi sự vật
hiện tượng của cuộc sống hiện đại.
(1) và (3) Nguyễn Thanh Hùng. “Tích hợp trong dạy học ngữ văn”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 6, 3/2006.
(2) Trần Đình Sử. “Các tính chất cơ bản của môn Ngữ văn”, Tạp chí Giáo dục, số118, 7/2005.