THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC
THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG MÔN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ.
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục dân tộc năm học 2012 – 2013 của
Bộ Giáo dục – Đào tạo có nêu:
“ - Căn cứ hướng dẫn của Bộ Giáo dục – Đào tạo, các địa phương thực hiện tốt
chương trình và kế hoạch giáo dục trong các trường PT Dân tộc Nội trú… về dạy
học 2 buổi/ ngày; dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình Giáo
dục phổ thông; dạy học tự chọn.
- Tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh phù
hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số.
- Các sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường PT Dân tộc Nội trú tăng cường
vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong công tác bồi dưỡng đội ngũ, đổi mới
phương pháp dạy học bộ môn; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chuyên đề bồi
dưỡng giáo viên phù hợp với tình hình thực tế để nâng cao chất lượng học tập của
học sinh; tổ chức khảo sát phân loại năng lực học tập của học sinh ngay từ đầu
năm học để dạy học, phụ đạo, bồi dưỡng đúng đối tượng học sinh.
- Thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá xếp loại học sinh do Bộ Giáo dục – Đào
tạo ban hành; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dạy học,
kiểm tra đánh giá học sinh trong các cơ sở giáo dục phù hợp với đối tượng học
sinh dân tộc thiểu số; thực hiện tốt việc phân tích kết quả đánh giá, xếp loại các
môn học của học sinh năm học 2011 – 2012, từ đó đề ra các biện pháp cụ thể
nhằm nâng cao chất lượng dạy học”.
Đáp ứng yêu cầu và hướng dẫn của Bộ Giáo dục – Đào tạo, trường PT Dân
tộc Nội trú đã triển khai ngay từ đầu năm học cho các tổ bộ môn thực hiện tốt
những nội dung chỉ đạo trên.
Đối với bộ môn Văn, nhiều năm qua gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy và
kết quả thực sự chưa cao trong các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi tốt nghiệp. Có thể nói
đề này, tôi mạnh dạn đề xuất và thực hiện cách gọi “thiết kế bài học” thay cho
“thiết kế bài dạy” như lâu nay vẫn dùng.
Chọn đề tài THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC THEO HƯỚNG DẠY
HỌC TÍCH CỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI
TRÚ, bản thân tôi muốn nhấn mạnh công tác chuẩn bị cho tiết dạy của GV ở mỗi
giờ lên lớp. Chúng ta không đi vào thói quen là “tôi sẽ dạy cái gì trong tiết dạy
này” mà phải quan tâm đến việc “tôi sẽ dạy cho học sinh học như thế nào vấn
đề này, trong tiết học hôm nay”. Đó là mục tiêu để hướng đến sự đổi mới mà bản
thân tôi vô cùng trăn trở.
Không phải là những kiến thức mới mẻ, cũng không phải là những cách thức
khác biệt, nhưng chuyên đề này gởi gắm tâm huyết với nghề, với HS và khát vọng
làm cho HS yêu thích, hứng thú với mỗi giờ học của bản thân tôi trong việc dạy
Văn nhiều niềm vui và cũng nhiều nỗi buồn như hiện nay.
B. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA
HỌC SINH DÂN TỘC NỘI TRÚ TRONG HỌC TẬP:
I.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của Học sinh Dân tộc Nội trú:
Học sinh dân tộc thiểu số nói chung có tính cách hiền lành, thật thà, chất
phác và có tính tự tôn dân tộc cao. Do đặc điểm môi trường sống, các em ít có điều
kiện tiếp xúc với xã hội bên ngoài để học hỏi, cập nhật kiến thức, mặt khác, do
2
điều kiện, hoàn cảnh sống khó khăn của gia đình nên các em đã tham gia lao động
từ nhỏ, vì vậy các em thường có khả năng tự lập cao trong điều kiện phải sống xa
nhà.
Với điều kiện học tập và ở Nội trú, không có cha mẹ và người lớn ở bên
thường xuyên giúp đỡ, nên ngoài việc lên lớp, các em còn phải tự tổ chức cuộc
các em thường nhút nhát, thụ động, tự ti, bảo thủ. Nắm bắt nét đặc điểm tâm lý này
GV cần có những hoạt động tích cực giúp các em phát huy những nét tính cách tốt
đẹp và khắc phục dần những hạn chế để các em sớm thích ứng, hòa nhập được với
môi trường sống, yêu cầu học tập và tiếp cận với cách học khoa học, phát huy tính
chủ động để theo kịp sự phát triển chung của xã hội.
3
I.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
I.2.1. Khái niệm học tích cực:
Học tích cực là một thuật ngữ có tầm bao phủ rộng và là một thuật ngữ được
hiểu theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số trích đoạn định nghĩa về học
tích cực:
+ Học tích cực đặt HS vào trong những tình huống bắt buộc HS phải đọc,
phát biểu, nghe, suy nghĩ và viết.
+ Học tích cực lôi cuốn HS tham gia vào giải quyết vấn đề, trả lời câu hỏi,
đặt câu hỏi, thảo luận, giải thích, tranh luận hoặc động não trong lớp học.
+ Học tích cực là bất kỳ những hoạt động nào mà HS thực hiện trong lớp
học hơn là việc ngồi nghe bài giảng.
+ Học tích cực khiến cho những gì mà HS học, đọc được là một phần của
bản thân họ. HS phải thảo luận về những cái họ đang học, đang viết liên hệ với
những kiến thức đã học và ứng dụng nó vào cuộc sống hằng ngày.
+ Học tích cực bao gồm việc HS tham gia vào quá trình xây dựng mô hình
trí tuệ của riêng mình từ những thông tin họ có được, đồng thời liên tục kiểm tra sự
hợp lý của mô hình trí tuệ đã xây dựng được.
+ Học tích cực đòi hỏi HS sử dụng bộ não của họ để nghiên cứu ý tưởng,
giải quyết vấn đề và áp dụng những gì học được vào cuộc sống.
+ Người học hoạt động hăng hái, phấn đấu để có một trách nhiệm lớn hơn
cho việc học của mình.
yêu cầu tìm hiểu về cuộc sống của người nghèo, các em có thể đi đến nơi mà người
dân có thu nhập thấp đang sinh sống và làm việc, dành thời gian quan sát cuộc
sống ở đó (quan sát trực tiếp) hoặc các em có thể được xem một bộ phim, một câu
chuyện liên quan đến người nghèo (quan sát gián tiếp)
“Làm”:
Điều này nói đến bất kỳ hoạt động học tập của HS được thực sự làm điều gì
đó: thiết kế mạch điện hoặc tiến hành một thử nghiệm (tự nhiên và khoa học xã
hội), điều tra sự ô nhiễm môi trường ở địa phương, thực hiện một bài thuyết trình.
Những việc “làm” của HS như nêu trên có thể được thực hiện ở trong hoặc
ngoài lớp học; cũng có thể “làm trực tiếp” tạo ra các sản phẩm thật hoặc chỉ dưới
dạng bài tập, mô hình (làm “gián tiếp”)
I.2.3. Các hình thức, kiểu học tích cực:
* Học chủ động / học độc lập:
- Học chủ động/ học độc lập là một hình thức, kiểu học tích cực. “Học”
không hoàn toàn giống ghi nhớ. Đó là một quá trình chủ động “tạo nghĩa” hay nói
cách khác đó là sự vận động nội tại trong não người học. Chỉ có những thông tin
nào được người học sắp xếp, cấu trúc và tổ chức mới có thể chuyển thành trí nhớ
dài. Thông tin chỉ tồn tại trong trí nhớ dài, nếu nó được tái sử dụng và nhắc lại một
cách thường xuyên.
- Học chủ động/ học độc lập là tập trung vào việc học, tạo cơ hội và kinh
nghiệm cần thiết cho người học để họ trở thành người có năng lực tự lực, có động
lực và tự học suốt đời. Học hiệu quả hơn nếu động cơ của nó là ham muốn được
thành công hơn là lo sợ bị thất bại. HS cần có trách nhiệm tối đa đối với việc học
tập, đánh giá và đạt tiến bộ.
- Cách tốt nhất để phát triển khả năng học chủ động/ học độc lập là thông
qua “các kỹ năng tư duy”. Nhà trường không chỉ dạy cho HS học cái gì mà cần
dạy cho HS học thế nào. Điều này có nghĩa là tạo cho HS những thách thức đối
với tư duy và cho các em thời gian để tư duy về mọi lĩnh vực học tập của mình.
- GV cần biết các phong cách học tập khác nhau của người học để kết hợp
nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học khác nhau nhằm tạo điều kiện giúp mọi HS
địa chỉ kết nối đến một trang Web là đã phản hồi lại điều bạn vừa đọc.
- Học tương tác mô tả phương pháp tiếp nhận thông tin thông qua thực hành,
tương tác. Việc này đối lập với học thụ động chỉ thông qua quan sát hoặc chỉ nghe
thông tin.
- Học tương tác được sử dụng phổ biến trong môi trường giáo dục ngày nay,
đặc biệt thường liên quan đến việc sử dụng máy tính và những trang thiết bị khác.
II. MỘT SỐ CÁCH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC
THEO HƯỚNG HỌC TÍCH CỰC.
II.1. CẤU TRÚC KẾ HOẠCH BÀI HỌC THEO HƯỚNG HỌC TÍCH CỰC:
Kế hoạch bài học (giáo án) cần bao quát đủ những yếu tố cơ bản và xác lập
được những liên hệ cần thiết, hợp lý giữa mục tiêu bài học, nội dung học tập, các
thiết bị dạy học và học liệu, các hoạt động học tập, tổng kết và hướng dẫn học tập.
Tất cả tạo nên một quy trình rõ ràng về logic và nội dung. Một kế hoạch bài học sẽ
có cấu trúc gồm các phần sau:
6
KẾ HOẠCH BÀI HỌC
TÊN BÀI HỌC:
MÔN:
LỚP:
I.
1.
2.
3.
II.
1.
2.
Mục tiêu học tập được thiết kế có thể không hoàn toàn trùng khớp với mục
tiêu do người học tự đặt ra. Đó là một thực tế khách quan cần được tôn trọng vì
chính độ chênh này mới thực sự là điều kiện cho sự phát triển và khác biệt cá nhân.
7
Có thể khái quát mục tiêu bài học theo sơ đồ:
Mục tiêu học tập
1. Các
lĩnh vực
2. Cấp độ
-
-
-
Nhận thức
(Kiến thức)
1.Biết/nhớ
2.Hiểu
3.Áp dụng
4.Phân tích
5.Đánh giá
6.Sáng tạo
kết quả bài học. Nếu bài học có nhiều mục tiêu thì nên trình bày riêng từng
mục tiêu với mức độ phải đạt về mỗi mục tiêu đó.
Mỗi đầu ra của mục tiêu nên được diễn đạt bằng một động từ được lựa chọn
để xác định rõ mức độ HS phải đạt bằng hành động. Những động từ như
“nắm được”, “hiểu được” như lâu nay vẫn dùng thường chỉ thích hợp với
những mục tiêu chung. Để xác định mục tiêu cụ thể cần dùng những động từ
hành động.
Xin giới thiệu bảng thống kê các động từ tương ứng với cấp độ nhận thức của
HS cần đạt theo mục tiêu cụ thể:
8
Mức độ
Định nghĩa
Nêu tên
Nhớ
Điền vào
Nhớ
Diễn đạt lại
Nhận diện
Hiểu
Thảo luận
Sắp xếp
Diễn giải
Sử dụng
Giải thích
Áp dụng
Minh họa
Đánh giá
Lập biểu đồ
Đánh giá
Lựa chọn
Tranh luận
Đề xuất
Lên kế hoạch
Sáng tác
Nhớ lại
Kể lại
Sắp xếp thứ tự
Xác định.
Giải thích
Kể (bằng lời của
mình)
Hợp lại với nhau
Dùng
Kịch hóa
Lên kế hoạch
Vẽ
Bình phẩm
Giải quyết
Thử nghiệm
Kiểm tra
Viết lại
Bảo vệ
Quyết định
Tạo lập
Lập công thức
bản chất vật lí (vật liệu, kích thước, cấu tạo, số lượng, màu sắc…), về bản
chất sinh học và tâm lý (có liên quan đến thị giác, thính giác, cảm giác, sức
khỏe, quá trình trí tuệ, xúc cảm và tính tích cực cá nhân…), về bản chất xã
hội (những đặc điểm thẩm mĩ, văn hóa, đạo đức, chính trị…)
Các thiết bị dạy học và học liệu thường được chuẩn bị theo một số quy tắc:
- Hỗ trợ triệt để cho các mục đích hoạt động của GV trên nhiều mặt: khai thác
và phân tích nội dung học tập, áp dụng phương pháp, biện pháp và kĩ thuật
dạy học, đánh giá, tổ chức và quản lí lớp… phù hợp với mục tiêu bài học.
- Chủ yếu có vai trò công cụ trong hoạt động của HS (có tính tương tác cao
chứ không chỉ để minh họa và chứa đựng thông tin).
- Tính đa dạng và tiện sử dụng của phương tiện. Không nên lạm dụng một
chủng loại hay kiểu phương tiện.
- Lựa chọn ưu tiên các thiết bị dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban
hành, học liệu phổ biến, đơn giản, dễ làm, chủ động. Cần xác định thiết bị,
học liệu nào HS hay GV phải chuẩn bị để liệt kê trong kế hoạch bài học.
II.2.4. Thiết kế các hoạt động học tập:
II.2.4.1. Các hoạt động học tập của Học sinh:
A. Phân biệt theo chức năng giáo dục:
Trọng tâm và điểm xuất phát là từ hoạt động của HS dự kiến cách thức hoạt
động của GV (bao gồm cả việc lựa chọn PPDH và kĩ thuật dạy học của GV). Hoạt
động của HS bao gồm các kiểu sau:
- Các hoạt động tìm tòi, phát hiện.
Trên cơ sở thông tin từ GV và nguồn học liệu khác, HS cần thực hiện một vài
hoạt động có chức năng tìm tòi – phát hiện để thu thập dữ liệu, bổ sung dữ kiện,
kiểm tra giả thuyết, làm sáng tỏ phán đoán, nhận thức nhiệm vụ hoặc vấn đề, phân
tích tình huống, v.v…
- Các hoạt động biến đổi và phát triển.
10
- Tăng cường kiến thức về khoa học xã hội.
- Hiểu biết về ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ.
- Và cuối cùng là để bồi dưỡng tâm hồn bằng cái hay, cái đẹp của văn
chương.
B.2. Hướng dẫn học sinh tự học đúng phương pháp và đặc trưng bộ môn:
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho HS có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho các
em lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ
được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự
11
học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo
viên.
Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu của
dạy học.
Đối với môn Văn, việc HS tự học là một khâu quan trọng, HS phải thực hiện
được những bước cơ bản sau :
- Đọc tác phẩm.
- Bước đầu cảm thụ tác phẩm theo suy nghĩ, cảm xúc cá nhân.
- Định hình những nội dung cần phân tích.
- Chọn lọc được các dẫn chứng cần thiết.
Có thực hiện các bước này ở nhà với thái độ tự học tốt, HS mới có thể cùng GV
trải qua một tiết văn ở trên lớp cách hiệu quả và thú vị.
Muốn giờ dạy thật sự nhẹ nhàng, hiệu quả, lôi cuốn được HS, người GV cần
phải khuyến khích và lên kế hoạch, hướng dẫn HS biết cách tự học theo đặc trưng
bộ môn.
đọc sách nói chung, các em sẽ hiểu, cảm thụ được tác phẩm thì sẽ tạo được
hứng thú với tác phẩm đó.
II.2.4.2. Giáo viên thiết kế các hoạt động học tập:
A. Hoạt động học tập từ góc nhìn lý thuyết:
Bài học có đạt được mục tiêu hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc GV thiết
kế các hoạt động học tập cho HS. Người GV giỏi là người không chỉ thiết kế được
các hoạt động cách cụ thể, khoa học, hấp dẫn mà còn có thể dự tính được những
tình huống có thể xảy ra và câu trả lời cho những tình huống đó trong quá trình
thực hiện các hoạt động học tập.
Thông thường thì các bài học bao gồm các vấn đề mà GV đưa ra cho HS và các
hoạt động của HS để giải quyết vấn đề đó. Nếu đưa ra được những vấn đề hay thì
HS sẽ trở nên hứng thú hơn với việc học và đào sâu suy nghĩ hơn về các vấn đề.
HS sẽ tìm kiếm các cách giải quyết, sử dụng các kiến thức đã biết của mình và
kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày, và một khi các em tìm ra được cách giải
quyết, các em có thể dần dần xây dựng nên được các kiến thức, kỹ năng có hệ
thống.
+ Thế nào là vấn đề học tập hay?
- Đơn giản, xoáy vào trọng tâm.
- Qua quá trình giải quyết vấn đề, HS có thể hiểu được ý chính của bài học.
- Liên quan mật thiết đến cuộc sống hoặc kinh nghiêm có trước của HS.
- Nên có nhiều giải pháp hợp lý chấp nhận được. Nếu vấn đề đó chỉ có một
giải pháp thôi thì tư duy của HS không được mở rộng và các em không thể
học hỏi lẫn nhau.
- Hấp dẫn và thú vị với HS.
- Không nên quá dễ vì HS không cần phải động não, suy nghĩ gì.
- Không nên quá khó vì nếu HS không có đầu mối / điểm tựa nào để suy nghĩ,
việc dự đoán của các em sẽ bị hạn chế và không còn hào hứng để suy nghĩ
nữa.
+ Thiết kế các hoạt động học tập:
Hoạt động học tập được thiết kế tốt sẽ tạo cơ hội để HS trải nghiệm tương
Về phương pháp: Lựa chọn các hình thức trải nghiệm thú vị, có kịch tính, liên
quan đến các hoạt động torng đời sống hằng ngày của HS. Không nên chỉ nghĩ đến
một trải nghiệm duy nhất. Nên xem xét nhiều hình thức trải nghiệm trước khi chọn
lấy cách tốt nhất cho bài học.
* Tạo điều kiện cho HS phân tích – rút ra kết luận, bài học:
Khi phân tích GV thường đi theo tiến trình: Từ chi tiết – Đơn vị kiến thức – Bài
học chung.
Ngoài ra, GV cũng có thể phân tích theo tiến trình: Đơn vị kiến thức – Chi tiết –
Bài học chung. Hoặc từ: Bài học chung – Đơn vị kiến thức – Chi tiết. Dùng bất cứ
tiến trình nào thì việc phân tích cũng cần đảm bào giúp HS:
- Nhắc lại được các chi tiết thông tin, các thao tác, hành vi, các sự việc, sự vật
hiện tượng, yếu tố diễn ra trong phần trải nghiệm.
- Đánh giá, phân tích các chi tiết trên, sắp xếp chi tiết theo tiến trình, logic.
- Đưa ra kết luận chung, cách làm bài hoặc bài học rút ra.
* Thiết kế các bài tập thực hành, vận dụng:
Bài tập thực hành, vận dụng nhằm giúp HS áp dụng những kiến thức, kỹ năng
được rút ra từ việc “phân tích và rút ra bài hoc”, nhằm giúp HS hiểu sâu hơn, chắc
hơn những kiến thức, kỹ năng vừa học và kết nối hệ thống với các kiến thức đã học
trong các bài học trước đó. Ở mức độ cao hơn, những bài tập vận dụng sẽ giúp HS
giải quyết các vấn đề gắn với thực tế.
GV thiết kế phần bài tập thực hành, vận dung theo độ khó tăng dần để đảm bảo
đáp ứng nhu cầu của HS ở các trình độ khác nhau. Bài tập cần thú vị, sinh động và
sáng tạo nhằm giúp HS hứng thú khi thực hành, vận dụng.
14
B. Một số kinh nghiệm hỗ trợ cho hoạt động học tập từ thực tế trường Dân
tộc Nội trú:
B. 1. Thay đổi quan niệm về dạy Văn.
Dạy học môn Ngữ văn hiện nay đang điều chỉnh lại quan niệm cũ, hình
khái quát ( Khái quát về Văn học dân gian, Khái quát về VH từ TK X – hết
XIX…), tôi tổ chức cho các em lên thư viện tìm tài liệu liên quan dưới sự
hướng dẫn của thủ thư và GV. Các em sẽ hứng thú với những kiến thức
ngoài sách giáo khoa, hứng thú với việc tự tìm tòi, phát hiện những kiến
thức mới mẻ, phong phú …. Thư viện trường DTNT hiện nay đã được trang
bị hệ thống Internet với khoảng trên 15 máy, vì thế việc cập nhật thông tin
15
về tác giả, tác phẩm cũng hiệu quả hơn. Ở thư viện, GV không chỉ giới thiệu
được cho HS nội dung bài học mà còn có thể mở rộng kiến thức, tiếp cận với
các bài đánh giá, bình giảng về tác giả, giai đoạn VH .. để HS có cái nhìn
bao quát hơn về vấn đề đang tìm hiểu.
- “Làm mới” không gian của lớp học. Đối với các tiết học như Phát biểu
theo chủ đề, Phát biểu tự do, Thực hành về phỏng vấn … thì thay đổi bố cục
bàn ghế, thay đổi vị trí ngồi quen thuộc cũng tạo được sự thích thú của HS.
Tạo cho các em niềm vui mới vì sự giao tiếp giữa cá nhân thoát khỏi sự gò
bó của “Sơ đồ chỗ ngồi” mà GV hoặc quản sinh sẽ thắc mắc nếu như không
thực hiện đúng. Lâu lâu có thể trưng một vài bảng biểu phù hợp với nội
dung bài học để HS chú ý, quan tâm hơn đến bài học.
- Thay đổi vị trí chỗ ngồi hoặc thay đổi các nhóm thảo luận. Chúng ta
thường bắt HS ngồi theo sơ đồ để dễ quản lí, thảo luận nhóm thường theo
đơn vị tổ đã được ấn định. Nhưng cũng cần thay đổi. Tôi cho các em ngồi
theo ý thích, ngồi theo nhóm dân tộc, ngồi theo giới tính… để giữa các
nhóm mới có sự phấn đấu, cạnh tranh với nhau. Những tiết có sự thay đổi
như vậy, thái độ học tập, không khí lớp có phần sôi nổi hơn. Tuy nhiên, GV
phải làm tốt khâu ổn định, tổ chức thì mới có hiệu quả.
B.3. Tạo tâm thế giờ học.
Một trong những yêu cầu được chú ý quan tâm trong hoạt động của GV và
HS đó là GV phải tạo được tâm thế để HS bước vào tiết học một cách hứng thú,
Tâm nói rằng, sở dĩ tôi bị chồng đánh cũng bởi gia cảnh chúng tôi quá
nghèo. Tuy nhiên, hành động đó của người chồng cuối cùng cũng bị lên án.
Phân tích tâm lý của những người phụ nữ bị bạo hành mà không dám lên
tiếng, tiến sĩ tâm lý học Huỳnh Văn Sơn – Trưởng khoa Tâm lý trường
ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh – cho rằng, đó là do sự thiếu hiểu biết về
luật pháp, vì bản tính cam chịu của đa số phụ nữ Việt Nam và trên hết là do
tâm lý người Việt Nam ít muốn đem chuyện gia đình riêng của mình chia sẻ
với người khác, cũng có một nguyên nhân nữa là họ muốn “con mình có
một người cha”. Chúng ta gặp gỡ nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác
phẩm Chiếc thuyển ngoài xa để hiểu hơn về những câu chuyện đời thường
trong cuộc sống xung quanh ta.
- Dạy bài “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” ( chương trình Ngữ văn lớp 11
ban cơ bản ). Bắt đầu tiết dạy là câu chuyện : Công ty nọ muốn nhận một
nhân viên vào nhiệm vụ trưởng phòng phân phối vật tư. Yêu cầu về nhân
sự : tốt nghiệp đại học, có bằng cấp ngoại ngữ, tin học, có ngoại hình tương
đối ... Một thanh niên đến nộp đơn và chờ gọi phỏng vấn với niềm tin tưởng,
hi vọng vì anh ta không chỉ hội đủ mà còn dư thừa các tiêu chuẩn mà công
ty đề ra. Rồi cũng đến lượt anh ta được gọi vào phỏng vấn. Vấn đề đầu tiên
anh ta được giám đốc hỏi là các vấn đề liên quan đến bằng cấp, kinh
nghiệm làm việc. Anh thanh niên rất tự hào khi chứng minh năng lực của
mình. Vị giám đốc có vẻ hài lòng. Chợt ông ta hỏi : Anh thấy tấm thảm
trước phòng tôi thế nào ? Anh thanh niên lúng túng, nhưng nhìn khắp lượt,
anh thấy vẻ sang trọng của văn phòng giám đốc và nghĩ rằng phải nói câu
gì cho vừa lòng vị giám đốc có vẻ như rất “sành điệu” này, vả lại anh ta
cũng muốn khoe sự hiểu biết của mình về trang trí nội thất. Anh thanh niên
vội trả lời : Vâng, tôi thấy nó tuyệt vời, rất phù hợp với màu sắc, bố cục và
sự sang trọng của căn phòng này. Vị giám đốc nghe xong, mỉm cười, đặt bộ
hồ sơ trước mặt anh thanh niên và nói : Rất tiếc, chúng tôi không thể nhận
anh vào công ty. Anh thanh niên ngạc nhiên : Nhưng tôi ... hội đủ các yêu
cầu mà... . Vị giám đốc nghiêm nghị : Chúng tôi cần người có tài nhưng
cảm thụ khi mà các em chưa được giảng giải, phân tích. Thay vào đó, các
em sẽ chỉ đọc kĩ văn bản, cảm thụ theo suy nghĩ cá nhân, chọn lọc chi tiết
chính …, và lên lớp, thay vì chúng ta mất thời gian cho HS đọc lại văn bản
thì sẽ cho HS tóm tắt văn bản, hoặc chỉ trình bày suy nghĩ về một đoạn thơ
yêu thích nhất, một nhân vật, hoặc một chi tiết nào đó của nhân vật để lại ấn
tượng sâu sắc đối với bản thân. Khi HS được trình bày suy nghĩ, cảm thụ của
mình về tác phẩm, chi tiết tác phẩm, bản thân các em sẽ tự điều chỉnh thái
độ, lời nói, sự tự tin và đương nhiên, các em sẽ có ý thức hơn khi đọc tác
phẩm, chuẩn bị những gì mình sẽ nói…
- Kiểm tra bài cũ và kiểm tra 15’. Câu hỏi cho nội dung kiểm tra không dừng
lại ở mức độ nhận biết mà còn phải nâng lên mức thông hiểu và sáng tạo.
GV nên mạnh dạn cho HS trả lời theo suy nghĩ, cảm thụ của cá nhân và
đồng thời chấm điểm với mức độ khuyến khích. Kiểm tra bài cũ hay kiểm
tra 15’ nên dừng lại một câu hỏi nhỏ, một chi tiết trong tác phẩm, tránh các
câu hỏi như : phân tích hình tượng nhân vật …, vì các câu hỏi đó sẽ khiến
HS quá tải, không có cơ hội trình bày hết cảm nhận cá nhân. Nếu trả lời
không đầy đủ và bị điểm thấp, HS cảm thấy chán nản, cho rằng môn học khó
và từ đó, gây mất hứng thú.
- Đặt câu hỏi có tác dụng gợi mở . Trong khi cùng HS giải quyết vấn đề, nên
đặt các câu hỏi có tác dụng gợi mở chứ không nên dùng câu hỏi trả lời trực
tiếp kiểu Nhân vật Mị có phải là điển hình cho người nông dân Tây Bắc
vùng lên đấu tranh tự giải phóng mình? Thay vì vậy, ta nên hỏi : Theo em ,
nhân vật Mị biểu tượng cho điều gì ?
18
- Đối với các tiết đọc thêm : Mạnh dạn giao cho nhóm HS thảo luận trước ở
nhà, cử người đại diện trình bày như giáo viên ( đóng vai giáo viên để truyền
đạt kiến thức cho các bạn ). Cách thức này tuy có hơi mất thời gian nhưng
bù lại, các em vừa tìm hiểu được bài, vừa rèn luyện được kĩ năng nói, viết
xuyến việc tham gia góp ý của các thành viên trong nhóm, không nhất thiết
để nhóm cắt cử người trình bày ý kiến của nhóm mà GV có thể gọi bất kì
một thành viên nào của nhóm phát biểu nhằm tránh trường hợp các đối
tượng HS nhút nhát không có cơ hội trình bày trước đám đông.
B.5. Quan niệm về ứng dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.
Phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Văn nói riêng là
một chủ đề thảo luận quen thuộc của nhiều nhà nghiên cứu, của các buổi hội thảo,
chuyên đề chuyên môn, của đội ngũ giáo viên và thay đổi cách dạy cũ trở thành
19
một khẩu hiệu đặt ra từ lâu. Tuy nhiên, thay đổi cách dạy cũ không phải là chắp vá
một vài biện pháp, thủ pháp vặt vãnh, hình thức. Nói như J.Vial- nhà giáo dục
Pháp là thêm vào một vài chút “gia giảm” nhưng thực chất là vẫn dùng phương
pháp cũ. Một vài gia giảm chỉ có tác dụng ngược lại là trang điểm bao che cho
phương pháp cũ mà thôi. Cần thực sự có những đổi mới mang tính “đột phá”, giúp
học sinh tham gia khám phá chiếm lĩnh tác phẩm và để các em được tự phát triển.
Công việc của một giáo viên dạy văn từ trước tới nay vẫn đi theo một lối mòn (ví
dụ: I-Tìm hiểu chung, II- Đọc – hiểu văn bản ) và rất nhiều các công đoạn tuần tự,
quen thuộc khác. Giờ đây, công việc của giáo viên không chỉ tập trung vào trang
văn, áng văn mà còn là ở công đoạn cực nhọc và vô cùng sáng tạo là hướng dẫn tổ
chức cho học sinh thực hiện hoạt động trên lớp để khám phá tác phẩm từ đó phát
hiện và phát triển con người mình.
Thường thì trong giáo án, GV chúng ta chủ yếu thiết kế phương pháp vấn
đáp hoặc thảo luận nhóm, mà ít quan tâm đến các phương pháp, kĩ thuật dạy học
tích cực mà mới đây, hội đồng bộ môn đã triển khai tập huấn và khuyến khích GV
vận dụng.
Tuy nhiên, trong một tiết học, không nhất thiết phải vận dụng nhiều phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. Nhưng chúng ta cố gắng đừng có sự lặp lại một
cách thường xuyên các phương pháp này.
dàng tổ chức, phân loại…
- Ngoài ra, các kĩ thuật dạy học tích cực khác cũng có những ưu điểm của nó
nhưng không phù hợp với đối tượng HS trường DTNT ( chẳng hạn kĩ thuật Hỏi
chuyên gia ), tuy nhiên, chúng ta phải mạnh dạn vận dụng để tập dần cho HS
những kĩ năng phát triển tích cực hơn.
Chúng ta nhận thấy rằng, các phương pháp, kĩ thuật nêu trên tập trung ở
nhóm kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác. Tính hợp tác đang là xu hướng không
chỉ trong học tập mà còn là xu hướng của công việc, đời sống xã hội ngày nay.
Vận dụng các kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, chúng ta sẽ đạt được các yêu cầu
:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của các học sinh, vì thế tạo được
không khí lớp học sôi nổi, hào hứng.
- Tăng cường hiệu quả học tập.
- Tăng cường trách nhiệm cá nhân.
- Yêu cầu HS áp dụng và phát huy nhiều năng lực khác nhau.
- Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, từ đó, rèn luyện kĩ năng sống cho HS.
B.6 . Quan niệm về ứng dụng Công nghệ thông tin.
Vì công nghệ thông tin chỉ là phương tiện chứ không thể thay thế được vai
trò của người thầy. Như vậy máy tính, Internet không phải là những công cụ vô
hồn, nếu chúng ta biết cách ứng dụng thì chúng sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho việc dạy
môn Văn vốn rất đặc trưng. Chính vì thế giáo viên cần phải nâng cao trình độ sử
dụng công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu của thời đại.
P.GS, T.S. Lê Phước Lộc trong công trình Tính sư phạm cho một bài giảng
bằng Powerpoint cho rằng: Mỗi bài giảng, thậm chí mỗi trang trình chiếu đều có
sự hướng đích khác nhau, thể hiện ở sự bố trí thông tin, bố cục, màu sắc… Tuy
nhiên, mọi hướng đích đều hướng tới việc chuyển tải được thông tin một cách có
hiệu quả và thuyết phục người nghe. Vấn đề áp dụng giáo án điện tử cho giờ dạy
Ngữ Văn là cần thiết, nó đạt được hiệu quả nhiểu mặt, trong đó với những hình ảnh
sinh động, clip phim, giọng ngâm, giọng đọc thật của các tác giả văn bản, … vừa
thuyết phúc HS vừa thu hút sự thu hút sự chú ý của các em.
Giai
đoạn
1
Giai
đoạn
2
Phân hóa phức tạp
Giai
đoạn
3
Bộ phận
hợp pháp
Hiện
thực
Lãng
mạn
Thành tựu về nội dung tư tưởng
Phát triển mau le
Bộ phận
Bất hợp
pháp
7 , 8 năm đi
ở tù về
Gặp
Thị Nở
Giết Bá Kiến
và tự sát
Tha hóa
Khát vọng
làm người
lương thiện
Bi kịch
bị cự tuyệt
Giá trị hiện thực và
giá trị nhân đạo sâu sắc
II.2.5.2. Hướng dẫn học tập:
Hoạt động hướng dẫn học tập có thể được thiết kế dưới hai hình thức:
- Hình thức đơn giản: Giao bài tập hoặc nhiệm vụ học tập ở nhà.
- Hình thức cao hơn: Hướng dẫn đọc thêm, luyện tập bổ sung, khuyến khích
tìm kiếm tư liệu và chỉ dẫn thư mục bổ ích, nêu lên những gải thuyết hoặc
luận điểm có tính vấn đề để động viên HS tiếp tục suy nghĩ, liên hệ với bài
học sau, hỗ trợ ghi nhớ, kích thích tư duy phê phán, độc lập, bồi dưỡng tình
cảm, nâng cao nhận thức của HS.
BV số 4
BV số 5
BV số 6
BV số 7
Tỉ lệ chung
12a2
12a3
12a4
IV. KẾT LUẬN
Đối với hầu hết người có học, những kỷ niệm trong quãng đời học sinh sinh viên thường để lại những dấu ấn sâu đậm trong cả đời người, mà bóng dáng
của những người Thầy thường là những hình ảnh không thể phai mờ trong tâm trí
của họ. Đấy là những Người Thầy giàu trí tuệ và tâm huyết, có tấm lòng độ lượng
và quan tâm tới mọi học sinh, luôn khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo trong mỗi giờ
học, tạo cho học sinh sự hứng thú, và mỗi giờ học thật sự là một món quà tặng vô
giá mà Thầy gởi tới từng HS. Cảm nhận được ý nghĩa sâu xa của vai trò người GV
để mỗi người chúng ta tận tâm hơn với nghề, với bộ môn của mình dẫu rằng còn
đó những khó khăn không dễ vượt qua.
Trong chừng mực hạn hẹp của chuyên đề, bản thân tôi chưa thể nói hết được
những điều muốn nói, và vì vậy chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được các
đồng nghiệp quan tâm góp ý để chuyên đề hoàn thiện hơn.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Thực trạng học văn trong nhà trường hiện là vấn đề bức xúc thời sự khiến cả
xã hội quan tâm. Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi cách nhìn về con người, về giáo