BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ HẢI ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN
MẶT LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ HẢI
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN
MẶT LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa của đề tài 5
1.7 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN
LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 7
2.1 Cơ sở lý luận khoa học về nắm giữ tiền mặt 7
2.1.1 Lý thuyết trật tự phân hạng 7
2.1.2 Lý thuyết dòng tiền tự do 8
2.1.3 Mô hình đánh đổi 8
2.2 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm 10
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về động cơ thúc đẩy trong việc nắm giữ tiền
của doanh nghiệp 10
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp 15 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Mô hình nghiên cứu 19
Mô hình 1: Động cơ thúc đẩy việc nắm giữ tiền 19
Mô hình 2: Ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp 22
3.2 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu 25
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
CP Cổ phiếu
DN Doanh nghiệp
FEM Fixed effects model (Mô hình tác động cố định)
GLS Generalized least square (Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát)
HOSE Sở Giao dich chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
H-Sample Nhóm mẫu có tỉ lệ đầu tư cố định cao
KQHĐKD Kết quả hoạt động kinh doanh
L-Sample Nhóm mẫu có tỉ lệ đầu tư cố định thấp
M-Sample Nhóm mẫu có tỉ lệ đầu tư cố định trung bình
REM Random effects model (Mô hình tác động ngẫu nhiên)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tóm tắt các mô hình lý thuyết có thể giúp xác định các đặc
điểm doanh nghiệp mà quyết định việc nắm giữ tiền 10
Bảng 3.1.1: Tổng hợp các biến dùng trong mô hình thực nghiệm 24
Bảng 3.1.2: Kỳ vọng dấu của hệ số các biến dùng trong mô hình nghiên
cứu 25
Bảng 3.2: Tổng quan mẫu nghiên cứu 27
Bảng 3.3: Thống kê mô tả các biến 28
Bảng 4.1.1: Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến 30
Bảng 4.1.2: Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 31
khủng hoảng tài chính vào cuối 2008; nắm giữ tiền chịu ảnh hưởng đồng biến bởi
dòng tiền và sự biến động của dòng tiền, chịu ảnh hưởng nghịch biến bởi tỉ lệ đòn
bẩy.
Thứ hai, thực sự tồn tại ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp.
Thứ ba, về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên khả năng sinh lợi của tài sản, kết
quả cũng chỉ ra rằng, tỉ lệ ROA tương quan cùng chiều với nắm giữ tiền, điều này
chỉ ra rằng các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư tốt sẽ nắm giữ tiền cao hơn để đầu tư
vào các dự án có hiệu quả nhằm sinh lợi nhiều hơn. Qua đó, kết quả cho thấy nắm
giữ tiền thực sự có tác động tích cực lên khả năng sinh lợi trên tài sản của doanh
nghiệp, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ nắm giữ tiền để tiến hành vào các dự án
sinh lợi, tiến hành các dự án đầu tư và đạt lợi nhuận tốt hơn.
Thứ tư, về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên giá trị doanh nghiệp, các kết quả
chỉ ra bằng chứng rằng các cổ đông đánh giá cao các doanh nghiệp nắm giữ tiền để
đầu tư nhằm gia tăng lợi nhuận, làm doanh nghiệp có thành quả kinh doanh tốt hơn
nên giá trị thị trường của các doanh nghiệp này cao hơn, còn các doanh nghiệp nắm
2
giữ tiền để đầu tư nhưng hiệu quả kinh doanh không cao, lợi nhuận thấp nên không
được các cổ đông đánh giá cao.
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy thực sự việc nắm giữ tiền có ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp tại Việt Nam nên
chú trọng đến việc quản trị tiền để tạo ra tác động tích cực đến khả năng sinh lợi và
giá trị doanh nghiệp. 3
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định các yếu tố chi phối quyết định nắm
giữ tiền mặt của doanh nghiệp; và kiểm định xem với lượng tiền mà các doanh
nghiệp đang nắm giữ như hiện nay có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi và giá trị
doanh nghiệp mà có các mức thiết lập cơ hội đầu tư khác nhau không? Nếu có ảnh
hưởng thì ảnh hưởng ra sao, mức độ tác động của việc nắm giữ tiền đó như thế nào?
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Một là, dùng mô hình thực nghiệm để kiểm định các yếu tố thúc đẩy các doanh
nghiệp Việt Nam nắm giữ tiền mặt là gì, mức độ tác động của các yếu tố đó ra sao?
Hai là, dùng mô hình thực nghiệm để kiểm định ảnh hưởng của mức nắm giữ tiền
của doanh nghiệp lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mà trong bài hiệu quả
hoạt động được thể hiện qua khả năng sinh lợi trên tài sản ROA và giá trị doanh
nghiệp PBR của các doanh nghiệp Việt Nam ở từng mức thiết lập cơ hội đầu tư
khác nhau. Nếu có ảnh hưởng, thì ảnh hưởng thế nào, mức độ ảnh hưởng ra sao?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các yếu tố quyết định việc nắm giữ tiền và ảnh hưởng của
quyết định nắm giữ tiền của doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Mô hình hồi quy sử dụng dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính (gồm bảng cân
đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) của 118 doanh nghiệp phi tài
chính được niêm yết trên Sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh HOSE trong
giai đoạn 2008 – 2012.
5
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu dùng dữ liệu được thu thập từ năm 2006 đến năm 2012 để tạo ra bộ
dữ liệu bảng (Panel data) theo dạng cân bằng (Balanced data). Dữ liệu được thu
sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề
tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu, đối tượng, phạm vi
nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa
của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu
thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến quyết định nắm giữ tiền và ảnh
hưởng của quyết định nắm giữ tiền đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương này tác giả sẽ
trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc
trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để
kiểm định và cách thức thu thập nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày kết quả
nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ tiền của doanh
nghiệp và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền đến khả năng sinh lợi trên tài sản (ROA)
và giá trị doanh nghiệp (PBR) ở từng mức thiết lập cơ hội đầu tư khác nhau của các
doanh nghiệp Việt Nam thế nào, mức độ ảnh hưởng ra sao, tác động như thế nào;
đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được.
Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết
luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề
tài và hướng mở rộng đề tài.
7 CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
đầu tư của doanh nghiệp. Có tiền sẵn để đầu tư, các nhà quản lý không cần phải huy
động vốn ở bên ngoài cũng như phải cung cấp thông tin chi tiết về các dự án đầu tư
của doanh nghiệp. Do đó, các nhà quản lý có thể thực hiện các đầu tư mà có một tác
động ngược chiều lên lợi ích của cổ đông.
Thiết lập cơ hội đầu tư. Giám đốc của những công ty có cơ hội đầu tư yếu được dự
kiến nắm giữ nhiều tiền hơn để đảm bảo sự sẵn có của các quỹ cho đầu tư vào các
dự án tăng trưởng, ngay cả khi NPV của các dự án là âm. Điều này sẽ làm giảm giá
trị cổ đông ngay cả khi doanh nghiệp có chương trình đầu tư lớn, với một tỉ lệ giá trị
thị trường trên giá trị sổ sách thấp. Do đó, sử dụng giá trị thị trường trên giá trị sổ
sách lớn như là một đại diện, có khả năng mối quan hệ giữa sự thiết lập cơ hội đầu
tư và nắm giữ tiền sẽ là ngược chiều.
Đòn bẩy. Các doanh nghiệp có đòn bẩy thấp ít quan tâm đến việc giám sát, cho
phép quyết định quản trị cao hơn. Do đó, Lý thuyết dòng tiền tự do dự kiến doanh
nghiệp có đòn bẩy thấp nắm giữ nhiều tiền hơn.
2.1.3 Mô hình đánh đổi
Thuật ngữ Lý thuyết đánh đổi được sử dụng bởi nhiều tác giả khác nhau nhằm mô
tả các lý thuyết có liên quan, mà theo quan điểm của lý thuyết này các nhà quản lý
ra quyết định bằng cách đánh giá giữa lợi ích và chi phí sao cho lợi ích biên và chi
phí biên là cân bằng nhau. Lý thuyết đánh đổi cho rằng các doanh nghiệp thiết lập
mức độ nắm giữ tiền tối ưu bằng cách tính toán chi phí biên và lợi nhuận biên của
việc nắm giữ tiền. Có nhiều lợi ích liên quan đến việc nắm giữ tiền. Thứ nhất, việc
nắm giữ tiền làm giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính khi nó hoạt
động như là một dự trữ an toàn giúp doanh nghiệp đối mặt với những tổn thất bất
9
ngờ hoặc khi doanh nghiệp gặp các khó khăn huy động vốn bên ngoài. Thứ hai,
việc nắm giữ tiền cho phép theo đuổi các chính sách đầu tư tối ưu thậm chí là khi có
khó khăn tài chính xảy ra. Nếu không, các khó khăn từ việc huy động vốn bên ngoài
sẽ khiến các doanh nghiệp từ bỏ các dự án đầu tư có NPV dương. Cuối cùng, việc
nắm giữ tiền góp phần làm tối thiểu chi phí huy động vốn bên ngoài hoặc thanh lý
Lý thuyết đánh đổi
Thiết lập cơ hội
đầu tư
Đồng biến Nghịch biến Đồng biến
Đòn bẩy
Nghịch biến Nghịch biến Không rõ
Dòng tiền
Đồng biến Nghịch biến
Sự biến động của
dòng tiền
Đồng biến
2.2 Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về động cơ thúc đẩy việc nắm giữ tiền
của doanh nghiệp
Trong bài nghiên cứu “Các yếu tố và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt” được
thực hiện bởi Opler, Tim, Lee F. Pinkowitz, Rene M. Stulz và Rohan Williamson vào
năm 1999 nhằm kiểm tra các yếu tố quyết định và các ảnh hưởng của nắm giữ tiền
mặt và sự an toàn thanh khoản của các công ty được niêm yết ở Mỹ trong giai đoạn
từ năm 1971 – 1994. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu gồm các doanh nghiệp được công
bố theo ngành hàng năm của Compusat trong giai đoạn từ 1971 – 1994. Dữ liệu này
bao gồm các công ty còn tồn tại và không tồn tại mà xuất hiện trên Compusat bất cứ
thời điểm nào trong giai đoạn lấy mẫu đồng thời loại bỏ các công ty tài chính, công
ty công ích và các doanh nghiệp có doanh thu âm trong nhiều năm. Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình tác động cố định, được thực hiện qua ba bước: Đầu tiên, các tác
giả kiểm tra câu hỏi cơ bản là liệu các doanh nghiệp hoạt động như thế nào nếu như
11
họ có một mức số dư tiền mục tiêu. Điều này sẽ làm sáng tỏ liệu các doanh nghiệp
hành động như thế nào nếu như số tiền mặt trên bảng cân đối kế toán là một biến
chính sách mà được kiểm soát vì các lý do nêu trên; Tiếp theo, các tác giả nghiên
đó nghiên cứu xem ảnh hưởng của khả năng tiếp cận thị trường vốn ảnh hưởng đến
việc nắm giữ tiền của các doanh nghiệp Nhật như thế nào. Kết quả của bài nghiên
cứu chứng minh rằng các doanh nghiệp Nhật nắm giữ nhiều tiền hơn các doanh
nghiệp ở Mỹ hay Đức và các doanh nghiệp Nhật tăng nắm giữ tiền khi các ngân
hàng có ảnh hưởng lớn và sử dụng nhiều quyền hành hơn với doanh nghiệp. Họ
xem xét các ngân hàng có thể kiếm được tiền thuê từ doanh nghiệp bằng cách áp đặt
mức tiền mặt và tiền gửi.
Trong bài nghiên cứu “Nắm giữ tiền giữa các doanh nghiệp nhỏ” được thực hiện
bởi Michael Faulkender năm 2002 ở Mỹ, nhằm nghiên cứu việc nắm giữ tiền của
các doanh nghiệp nhỏ như thế nào. Nguồn dữ liệu cho bài nghiên cứu này là cuộc
khảo sát năm 1993 về tài chính của các doanh nghiệp nhỏ được thu thập bởi Federal
Reserve. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất
OLS và mô hình Tobit để nghiên cứu ảnh hưởng của sự bất cân xứng thông tin,
khủng hoảng tài chính, chi phí đại diện và thuế đến việc nắm giữ tiền. Kết quả của
bài nghiên cứu phát hiện ra rằng các doanh nghiệp nhỏ có chi phí đầu tư cho nghiên
cứu và phát triển cao hơn nắm giữ nhiều tiền hơn. Các doanh nghiệp có đòn bẩy cao
hơn có xu hướng nắm giữ nhiều tiền hơn vì mục tiêu phòng ngừa. Các công ty có
nhận thức về sự bất cân xứng thông tin hơn khi họ cần tiền cho các nhu cầu tương
lai sẽ nắm giữ nhiều tiền hơn so với công ty có sự nhận thức về bất cân xứng thông
tin ít hơn. Điều này trái ngược với các doanh nghiệp mà có khó khăn trong việc huy
động vốn trong quá khứ có mức nắm giữ tiền thấp hơn, cho rằng các doanh nghiệp
này có thể đang hoạt động dưới mức tiền mặt tối ưu. Các doanh nghiệp lâu năm hơn
nắm giữ nhiều tiền hơn. Việc nắm giữ tiền tăng lên cùng với quy mô, cho rằng quy
mô kinh tế mang lại lợi ích cho việc nắm giữ tiền.
Trong bài nghiên cứu “Nắm giữ tiền của doanh nghiệp: Một nghiên cứu thực
nghiệm từ các doanh nghiệp Anh” của Aydin Ozkan và Neslihan Ozkan được thực
hiện năm 2004 nhằm nghiên cứu các yếu tố quyết định việc nắm giữ tiền của các
13
doanh nghiệp thương mại được niêm yết ở Anh trong giai đoạn 1984 – 1999. Bộ dữ
công ty có quan sát ít hơn 8 năm được loại bỏ khỏi hồi quy. Kết quả bài nghiên cứu
chỉ ra rằng nắm giữ tiền chịu ảnh hưởng đồng biến bởi sự thiết lập cơ hội đầu tư và
dòng tiền, chịu ảnh hưởng nghịch biến bởi sự thanh khoản tài sản, đòn bẩy và quy
mô doanh nghiệp. Nợ ngân hàng và việc nắm giữ tiền có mối liên hệ nghịch biến
với nhau, mà mối quan hệ mật thiết với ngân hàng cho phép doanh nghiệp nắm giữ
ít tiền hơn vì những lý do phòng ngừa. Doanh nghiệp ở các nước mà có sự bảo vệ
nhà đầu tư và sự sở hữu tập trung cao nắm giữ ít tiền hơn, được hỗ trợ bởi vai trò tự
quyết của chi phí đại diện trong việc giải thích mức độ nắm giữ tiền. Sự phát triển
của thị trường vốn đã tác động tiêu cực lên mức độ nắm giữ tiền, trái ngược với
quan điểm thuyết đại diện.
Trong bài nghiên cứu “Nắm giữ tiền và thành quả doanh nghiệp: Bằng chứng từ
các doanh nghiệp Nhật” được thực hiện bởi Shinada Naoki vào năm 2012 nghiên
cứu các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ tiền của các doanh nghiệp được niêm
yết ở Nhật trong giai đoạn 1980 – 2010, bằng cách sử dụng mô hình tác động cố
định (fixed effects model) cho dữ liệu bảng trên nền tảng kiểm định Hausmancùng
với các giả định được Shinada Naoki tổng hợp. Sau khi tiến hành kiểm định để ước
tính các hệ số, Shinada Naoki phát hiện ra rằng các doanh nghiệp Nhật tăng tích lũy
tiền khi sự biến động của dòng tiền tăng lên từ những năm 1990, đặc biệt là trong
những năm 2000, do sự sẵn có liên tục của nguồn vốn chi phí thấp đã làm cho các
doanh nghiệp dễ dàng tích lũy tiền hơn.
Ngoài ra, nghiên cứu vai trò của quản trị doanh nghiệp đối với việc nắm giữ tiền,
Opler và cộng sự (1999) và Mikkelson và Partch (2003) chỉ ra bằng chứng không
mạnh mẽ về lợi ích quản lý ở các doanh nghiệp Mỹ. Ferreira và Vilela (2004) chỉ ra
mối quan hệ nghịch biến không đáng kể giữa cổ tức và việc nắm giữ tiền trong khi
tỉ lệ dòng tiền trên tài sản liên quan một cách đồng biến đến việc nắm giữ tiền.
Như vậy, tính đến nay có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh
hưởng đến việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp, các nghiên cứu được thực hiện ở
nhiều nước và có thời gian nghiên cứu khác nhau. Hầu hết các bài nghiên cứu đều
cho thấy việc nắm giữ tiền chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các đặc điểm của doanh
15
đại diện của một mẫu nhỏ gồm 11 công ty được xử thắng kiện từ các vụ kiện và
nhận được tiền bồi thường mà không ảnh hưởng đến chỉ số Tobin’s Q (Chỉ số
Tobin’s Q là tỷ số giữa giá trị thị trường và giá trị thay thế của một tài sản hữu hình,
hệ số này được James Tobin phát triển vào năm 1969), nhằm xem xét sự thay đổi
trên các vấn đề đầu tư, tài sản, sự thay đổi về cấu trúc vốn, chi trả cổ tức và mua lại
cổ phần cũng như các khoản thù lao trả cho các nhân viên quản lý cấp cao. Các tác
giả phát hiện ra rằng các giám đốc thích giữ tiền hơn là phân phối cho cổ đông dưới
hình thức cổ tức, mua lại cổ phần hoặc giảm nợ mặc dù họ không có cơ hội đầu tư
hấp dẫn. Các kết quả cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp này sẽ đầu tư vào các dự án
(như là mua lại các doanh nghiệp đang kinh doanh thua lỗ có liên quan hoặc không
liên quan đến loại hình kinh doanh để đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh) mà sau này
sẽ thất bại.
Trong bài nghiên cứu “Dự trữ tiền mặt và việc mua lại” được thực hiện bởi Jarrad
Harford vào năm 1999 nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa dự trữ tiền của doanh
nghiệp và việc mua lại, trong đó mẫu được thu thập từ Compusat trong giai đoạn từ
1950 – 1994 bao gồm các công ty từ 19 nhóm ngành công nghiệp. Bài nghiên cứu
sử dụng mô hình tác động cố định theo đặc điểm công ty cho dữ liệu bảng nhằm
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nắm giữ tiền, sau đó dùng kiểm định
Wilcoxon để phân tích sự khác nhau giữa nhóm doanh nghiệp nắm giữ nhiều tiền
với phần còn lại của mẫu và cuối cùng dùng mô hình Probit để dự đoán các doanh
nghiệp sẽ bị đấu thầu trong một vài năm tới. Kết quả của bài nghiên cứu cũng diễn
giải rằng các doanh nghiệp nắm giữ nhiều tiền có xu hướng đầu tư vào xác nhập và
mua lại là những điều làm giảm giá trị doanh nghiệp.
Trong bài nghiên cứu “Giá trị của 1 Dollar là gì? Giá trị thị trường của việc nắm
giữ tiền mặt” được thực hiện bởi Pinkowitz, Lee F. và Rohan Williamson vào năm
2005 nhằm nghiên cứu giá trị thị trường của tiền được các doanh nghiệp nắm giữ,
sử dụng dữ liệu được thu thập từ Compusat 2000 gồm các doanh nghiệp phi tài
chính ở Mỹ trong giai đoạn từ 1950 đến 1999. Bằng cách sử dụng mô hình hồi quy
của Fama-Macbeth nhằm kiểm tra xem các yếu tố cơ hội tăng trưởng, cơ hội đầu tư,
nghiên cứu xem việc nắm giữ tiền của các doanh nghiệp được niêm yết ở Nhật