BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ THANH HẢI BỘ BA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH, ĐỘ MỞ
THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. HCM, tháng 11/2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
BỘ BA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH, ĐỘ MỞ
THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế có tác động đến độ mở thương mại 17
2.3 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và độ mở thương mại 17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Mô hình nghiên cứu 20
3.1.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 20
3.1.2 Kiểm định đồng liên kết 21
3.1.3 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger 23
3.2 Dữ liệu 25
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 27
4.2 Hệ số tương quan 28
4.3 Kiểm định nghiệm đơn vị 28
4.4 Kiểm định đồng liên kết 29
4.5 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger và bổ sung thêm mô hình ECM 33
4.6 Phân tích phản ứng xung 38
4.6.1 Phản ứng của GDP trước cú sốc xuất khẩu 38
4.6.2 Phản ứng của GDP trước cú sốc nhập khẩu 41
4.6.3 Phản ứng của xuất khẩu trước cú sốc GDP 42
4.6.4 Phản ứng của nhập khẩu trước cú sốc GDP 43
4.6.5 Phản ứng của nhập khẩu trước cú sốc cung tiền M2 (LnM2) 44
4.7 Phân rã phương sai 45
4.7.1 Phân rã phương sai biến tăng trưởng (LnGDP) 46
4.7.2 Phân rã phương sai biến nhập khẩu (LnIM) 47
4.7.3 Phân rã phương sai biến xuất khẩu (LnEX) 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 50
5.1 Các kết quả nghiên cứu chính 50
5.2 Một số gợi ý chính sách 50
5.3 Những hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
trong GDP 40
Hình 6. Phản ứng của GDP trước cú sốc nhập khẩu 41
Hình 7. Phản ứng của xuất khẩu trước cú sốc GDP 42
Hình 8. Phản ứng của nhập khẩu trước cú sốc GDP 43
Hình 9. Phản ứng của nhập khẩu trước cú sốc cung tiền M2 (LnM2) 44
Hình 10. Phân rã phương sai biến tăng trưởng (LnGDP) 46
Hình 11. Phân rã phương sai biến nhập khẩu (LnIM) 47
Hình 12. Phân rã phương sai biến xuất khẩu (LnEX) 48
1
TÓM TẮT
Mục tiêu của bài viết này nhằm mục đích điều tra tính đồng liên kết và quan
hệ nhân quả Granger giữa phát triển tài chính, độ mở thương mại và tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam để xem xem có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa phát triển tài
chính, độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế trong trường hợp ở Việt Nam hay
không. Qua đó, xem xét các mối quan hệ nhân quả đạt được giữa các biến thông qua
kiểm định nhân quả Granger dựa trên các giả thuyết nguồn cung dẫn dắt (supply-
leading), nguồn cầu phụ thuộc (demand-following) và độ mở thương mại có tác
động lên tăng trưởng kinh tế, với cơ sở dữ liệu được lấy theo quý (từ quý 3/1999
đến quý 1/2012). Kết quả cho thấy có mối quan hệ cân bằng dài hạn đối với một số
cặp biến như là: Tổng sản phẩm trong nước thực tế (LnGDP) và xuất khẩu (LnEX),
LnGDP và nhập khẩu (LnIM), cung tiền M2 (LnM2) và tín dụng trong nước
(LnDC), LnM2 và LnIM, LnDC và LnIM. Thêm vào đó, kiểm định quan hệ nhân
quả Granger và bổ sung thêm mô hình ECM cho thấy có mối quan hệ nhân quả hai
sự tăng trưởng kinh tế lại là nguyên nhân thúc đẩy cho sự phát triển tài chính như
các nghiên cứu của Soukhakian (2007), Adnan Hye (2011),…
Đối với mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế, hiện nay cũng có
hai quan điểm trái chiều về mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này. Quan điểm
thương mại có tác động lên tăng trưởng kinh tế được ủng hộ bởi các nhà kinh tế học
nổi tiếng như Adam Smith (1776), David Ricardo (1817), hay Edwards and 3
Sebastian (1992),…Trong giả thuyết này, có những tác giả ủng hộ cho giả thuyết
xuất khẩu có tác động đến tăng trưởng; Một sự mở rộng xuất khẩu sẽ thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế cả về chiều rộng và chiều sâu (Phan Thế Công, 2011), đồng thời
thương mại xuất khẩu là hình thức mong muốn của thương mại, vì nó tạo ra ngoại tệ
cho nền kinh tế, do đó thúc đẩy tăng trưởng (Omotola Awojobi, 2013). Mặt khác,
cũng có những quan điểm ủng hộ cho giả thuyết nhập khẩu có tác động đến tăng
trưởng như nghiên cứu của Lawrence and Weinstein (1999). Bên cạnh quan điểm
thương mại có tác động lên tăng trưởng kinh tế thì cũng có quan điểm ủng hộ cho
giả thuyết tăng trưởng kinh tế có tác động đến thương mại như nghiên cứu của
Lancaster, K. (1980) hay Katircioglu et al. (2007),…
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một câu chuyện thành công về quá trình
phát triển. Công cuộc đổi mới kinh tế và chính trị bắt đầu triển khai từ năm 1986 đã
đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới với thu nhập
bình quân đầu người dưới 100 đô la Mỹ, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình
thấp chỉ trong vòng 25 năm với thu nhập đầu người lên tới 1.224 đô la Mỹ vào cuối
năm 2010 và tăng lên mức 1.596 đô la Mỹ vào cuối năm 2012. Quá trình gia tăng
GDP bình quân đầu người ở Việt Nam được thể hiện trong hình 1 dưới đây.
trong 7 tháng đầu năm 2013 sau khi giảm liền 2 năm 2010 và 2011. Nhờ đó, tăng
trưởng tiếp tục tăng qua các quý và ước đạt 5,54% trong quý III/2013, đưa GDP 9
tháng đầu năm tăng 5,14% cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Do vậy, tăng trưởng cả năm
được dự báo có phần khả quan hơn so với mức dự báo ban đầu của Ủy ban giám sát
tài chính quốc gia (5,3%). Thêm vào đó, Ngân hàng thế giới (WorldBank) cũng cho 6
rằng ổn định vĩ mô Việt Nam đạt được gần đây đã giúp Việt Nam vượt qua được
những sóng gió, bất ổn vừa qua của kinh tế toàn cầu.
Trong nền kinh tế ở Việt Nam, hệ thống tài chính đóng vai trò vừa là kênh tiết
kiệm cho khu vực hộ gia đình, vừa là kênh đầu tư cho khu vực doanh nghiệp và
cũng là kênh truyền dẫn các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ để điều chỉnh
nền kinh tế đi đúng hướng. Theo Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, trong 10 tháng
qua, rủi ro của hệ thống tổ chức tín dụng đã giảm bớt với những chuyển biến tích
cực như: Thanh khoản hệ thống dồi dào với sự gia tăng mạnh của tiền gửi của khu
vực dân cư và tổ chức kinh tế (tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động giảm) khiến cho mặt
bằng lãi suất huy động, cho vay và cả liên ngân hàng giảm mạnh xuống mức thấp
ngang với thời điểm năm 2006. Tính đến tháng 10/2013, mặt bằng lãi suất huy động
giảm 2-3%, lãi suất cho vay giảm 3-5% so với đầu năm. Lãi suất liên ngân hàng duy
trì ổn định ở mức 3-4%/năm đối với các kỳ hạn ngắn. Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng
cũng có sự chuyển biến tích cực với việc cơ cấu kỳ hạn, cơ cấu đồng tiền trở nên
hợp lý hơn (tín dụng Việt Nam đồng (VNĐ) tăng trong khi tín dụng ngoại tệ giảm).
Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái từ đầu năm đến nay khá ổn định và chỉ có
vài biến động nhỏ mang tính thời vụ và tâm lý nhất thời. Theo nhận định của Ủy
ban giám sát tài chính quốc gia, thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái nhiều khả
năng sẽ tiếp tục duy trì được sự ổn định trong những tháng cuối năm 2013 do cung
ngoại tệ tiếp tục dồi dào (nguồn cung đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI (Foreign
Direct Investment), hỗ trợ phát triển chính thức–ODA (Official Development
8
phụ thuộc (demand-following) và thương mại có tác động lên tăng trưởng kinh tế
trong bối cảnh nền kinh tế ở Việt Nam.
Cấu trúc của bài nghiên cứu được trình bày như sau:
• Chương 1: Giới thiệu khái quát về bài nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và
mục tiêu bài nghiên cứu.
• Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây.
• Chương 3: Mô tả về phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
• Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
• Chương 5: Kết luận: Chốt lại những kết quả nghiên cứu chính và đưa ra
những giải pháp.
tài chính tác động đến sự tăng trưởng kinh tế (supply leading hypothesis), ngược lại
cũng có những nghiên cứu ủng hộ cho quan điểm tăng trưởng kinh tế tác động đến
phát triển tài chính (demand-following hypothesis). Ngoài ra còn có những quan
điểm ủng hộ cho mối quan hệ hai chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh
tế.
2.1.1 Phát triển tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tế:
Schumpeter (1911) đã lập luận rằng sự phát triển tài chính, thông qua chức
năng quan trọng của nó về việc tăng cường hiệu quả của các trung gian bằng cách
giảm thiểu chi phí thông tin, chi phí giao dịch và chi phí giám sát có thể dẫn đến
tăng trưởng kinh tế. Ủng hộ cho quan điểm này, Patrick (1966) cũng cho rằng phát
triển tài chính tác động đến sự tăng trưởng kinh tế, có nghĩa là việc tạo ra các tổ
chức tài chính và thị trường tài chính làm gia tăng việc cung cấp dịch vụ tài chính
và do đó dẫn đến tăng trưởng kinh tế thực.
Nối tiếp những nghiên cứu sau này, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác
cũng ủng hộ cho quan điểm trên và phần lớn đều cho rằng phát triển tài chính có tác
động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu được thực hiện dựa trên
cơ sở dữ liệu của nhiều quốc gia hoặc trong phạm vi một quốc gia riêng lẻ. Cụ thể
như sau:
- Một số nghiên cứu lấy dữ liệu từ nhiều quốc gia như: Nghiên cứu của King
and Levine (1993b) xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bốn
thước đo phát triển tài chính cho 80 nước trong giai đoạn 1960-1989. Kết quả
cho thấy các nước có hệ thống tài chính phát triển hơn thì tăng trưởng nhanh
hơn, có tỉ lệ đầu tư cao hơn và sử dụng vốn hiệu quả hơn. Hay nghiên cứu 11
của Levine and Zervos (1998) chỉ ra rằng sự phát triển của ngân hàng và thị
trường chứng khoán là yếu tố dự báo tốt cho tăng trưởng kinh tế. Họ đã
nghiên cứu thực nghiệm đối với 49 quốc gia trong giai đoạn 1976-1993 và
gia đang phát triển và phát triển, kết quả cho thấy rằng cả hai yếu tố: thị
trường chứng khoán tích cực và một hệ thống pháp luật phát triển là rất quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Các công ty trong nước có
thị trường chứng khoán linh hoạt và được xếp hạng cao, phù hợp với quy
phạm pháp luật có thể có được nguồn vốn từ bên ngoài nhiều hơn và phát
triển nhanh hơn. Những phát hiện này là vững chắc và hỗ trợ cho các đề xuất
rằng sự phát triển của thị trường tài chính và các thể chế tạo điều kiện cho
tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh những nghiên cứu ủng hộ cho quan điểm phát triển tài chính có tác
động tích cực đến sự tăng trưởng thì cũng có quan điểm cho rằng phát triển tài
chính có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của De Gregorio
and Guidotti (1995) chỉ ra rằng: Sự phát triển tài chính làm giảm đáng kể tốc độ
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia có trải qua tỷ lệ lạm phát tương đối cao (đặc
biệt là ở châu Mỹ Latinh). Và đó là kết quả của việc tự do hóa tài chính trong một
môi trường pháp lý kém. Phát hiện của họ cũng cho thấy các kênh chính của truyền
dẫn từ phát triển tài chính đến tăng trưởng là hiệu quả của đầu tư, chứ không phải là
khối lượng đầu tư. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Adnan Hye (2011) cũng ủng
hộ cho quan điểm này khi xây dựng chỉ số phát triển tài chính (FDI) cho nền kinh tế
Ấn Độ và xem xét mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. 13
Thêm vào đó, còn có nhiều nghiên cứu khác ủng hộ cho quan hệ nhân quả một
chiều từ phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế như: King và Levine (1993a),
Levine and Zervos (1998), Neusser and Kugler (1998), Choe and Moosa (1999), và
Seetanah (2007),…
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế tác động đến phát triển tài chính:
Quan điểm thứ hai cho rằng sự tăng trưởng kinh tế có tác động đến phát triển
tài chính. Giả thuyết này phù hợp với quan điểm của Levine (1997), ông kết luận
mối quan hệ giữa phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lĩnh vực
ngân hàng ở Ấn Độ. Họ nhận ra rằng có quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển
tài chính và tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ. Ngoài ra, các nghiên cứu của
Katircioglu et al. (2007) và Omotola Awojobi (2013) cũng ủng hộ cho giả thuyết
này.
2.2 Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế:
Theo Sanusi (2008) thì độ mở thương mại bao hàm cả chính sách tự do thương
mại và nhiều yếu tố khác như: Bình ổn kinh tế (biểu thị bằng thâm hụt ngân sách
thấp và tỷ lệ lạm phát thấp), không có rào cản đối với những khoản đầu tư mới,
đồng thời có thêm những cải tiến trong giao thông vận tải, thông tin liên lạc và tiếp
thu đổi mới công nghệ.
Đối với mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế cũng có nhiều
quan điểm khác nhau, cụ thể là:
15
2.2.1 Độ mở thương mại tác động đến tăng trưởng kinh tế:
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của cải của các quốc gia" - The wealth of nations
(1776) của Adam Smith đã đề xuất một lý thuyết về tăng trưởng kinh tế. Đây là một
trong những tác phẩm ra đời sớm nhất và nổi tiếng nhất về thương mại và công
nghiệp, được công nhận là có đóng góp to lớn cho các nguyên lý kinh tế học hiện
đại. Adam Smith đã phát triển các nguyên tắc tự do kinh doanh và tất cả các hoạt
động kinh tế dẫn tới tự do thương mại bên trong cũng như bên ngoài, bởi vì nhờ nền
thương mại không bị giới hạn trong nước và ngoài nước mà một quốc gia có thể
phát triển toàn diện. Tiếp đó, vào năm 1817, nhà kinh tế học người Anh - David
Ricardo đã nghiên cứu và chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả
các quốc gia và gọi kết quả này là quy luật lợi thế so sánh. Nguyên tắc lợi thế so
sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có
động đến tăng trưởng kinh tế. Cụ thể là:
- Trong thời gian trước đây, các nghiên cứu của Greenaway and Sapsford
(1994), Deme (2002) đã ủng hộ cho quan điểm xuất khẩu có tác động đến
tăng trưởng kinh tế. Còn gần đây nhất thì nghiên cứu của Omotola
Awojobi (2013) cũng ủng hộ cho quan điểm này, ông nói rằng: Có bằng
chứng chỉ ra thương mại xuất khẩu là hình thức mong muốn của thương
mại vì nó tạo ra ngoại tệ cho nền kinh tế, do đó thúc đẩy tăng trưởng.
- Đối với quan điểm ủng hộ cho giả thuyết nhập khẩu có tác động đến tăng
trưởng kinh tế, Lawrence and Weinstein (1999) cho rằng nhập khẩu nhiều
hơn các sản phẩm cạnh tranh sẽ thúc đẩy sự đổi mới. Đồng thời áp lực 17
cạnh tranh và sự học hỏi từ các đối thủ nước ngoài là ống dẫn quan trọng
đi tới sự tăng trưởng.
Bên cạnh những nghiên cứu ủng hộ cho quan điểm độ mở thương mại có tác
động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế thì cũng có quan điểm cho rằng độ mở
thương mại cũng có thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng, ví dụ như nghiên cứu
của Wacziarg (1998); Wacziarg đã chỉ ra rằng: Có bằng chứng cho thấy quy mô của
chính phủ, được đo bằng tỷ lệ chi tiêu công so với GDP, tạo thành một kênh thông
qua đó chính sách thương mại ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế có tác động đến độ mở thương mại:
Theo nghiên cứu của Katircioglu et al. (2007), khi kiểm tra tính đồng liên kết
và quan hệ nhân quả Granger giữa phát triển tài chính, thương mại quốc tế và tăng
trưởng kinh tế ở Ấn Độ trong khoảng thời gian 1965-2004, ông cho thấy có mối
quan hệ cân bằng dài hạn giữa phát triển tài chính, thương mại quốc tế và tăng
trưởng kinh tế. Đồng thời, kiểm định quan hệ nhân quả Granger chỉ ra rằng có mối
quan hệ nhân quả một chiều chạy từ tăng trưởng thu nhập thực tế tới tăng trưởng
thương mại quốc tế. Mới đây, Omotola Awojobi (2013) cũng cho thấy tăng trưởng
phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ 1 chiều từ tăng trưởng
kinh tế đến thương mại quốc tế. Riêng kết quả nghiên cứu của Omotola Awojobi
(2013) thì còn có thêm mối quan hệ 1 chiều từ mở cửa thương mại đến phát triển tài
chính, được thể hiện trong hình 3 ở dưới đây. Phát triển tài chính
Đ
ộ
mở thươn
g
m
ạ
i
Tăng trưởng kinh tế
Hình 3: Mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính, độ mở thương mại và tăng
trưởng kinh tế
Nguồn: Theo kết quả nghiên cứu của Omotola Awojobi (2013).