Tác động của FDI và độ mở thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển (1995 – 2017) - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

CAO THỊ ÁNH TUYẾT

TÁC ĐỘNG CỦA FDI VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN
(1995 – 2017)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

CAO THỊ ÁNH TUYẾT

TÁC ĐỘNG CỦA FDI VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN
(1995 – 2017)

Chuyên ngành: Tài chính
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.1. Lý do chọn đề tài............................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 3
1.5. Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................ 4
1.6. Kết cấu bài nghiên cứu.................................................................................. 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY ............................................................................................................ 5
2.1. Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.... 5
2.1.1. Một số học thuyết liên quan về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế ............................................................................... 5
2.1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế ............................................................................... 6
2.1.2.1 Tác động tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng
trưởng kinh tế ..................................................................................................... 6
2.1.2.2 Tác động tiêu cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng
trưởng kinh tế ................................................................................................... 10
2.2. Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế ................. 11
2.2.1.Một số học thuyết liên quan về mối quan hệ giữa độ mở thương mại và tăng
trưởng kinh tế ................................................................................................... 11


2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa độ mở thương mại và
tăng trưởng kinh tế............................................................................................ 13
2.2.2.1 Tác động tích cực của độ mở thương mại lên tăng trưởng kinh tế ...... 13
2.2.2.2 Tác động tiêu cực của độ mở thương mại lên tăng trưởng kinh tế ...... 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 17
3.1 Khung phân tích và dữ liệu ......................................................................... 17
3.2. Các phương pháp phân tích mô hình hồi quy .......................................... 20
3.2.1. Mô hình hồi quy kết hợp ........................................................................ 22

Viết đầy đủ tiếng Anh

Viết đầy đủ tiếng Việt

FDI

Foreign direct investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

Gross domestic product

Tổng sản phẩm quốc nội

GFCF

Gross fixed capital
formation

Tổng vốn đầu tư cố định

GNP

Gross national product

Tổng sản phẩm quốc dân

FEM


Organisation for
Economic Co-operation
and Development

Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát
triển

VECM

Vector Error Correct
Model

Mô hình vector hiệu chỉnh sai số

ELG

Export-led growth

Xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng

GDE

Growth-driveven export

Tăng trưởng thúc đẩy xuất khẩu

PCI

Organisation for


Mô hình tác động cố định

4.5

Mô hình tác động ngẫu nhiên

4.6

Kết quả kiểm định Hausman

4.7

Kiểm định phương sai thay đổi của mô hình
REM

4.8

Kết quả kiểm định tự tương quan
Mô hình hồi quy bình phương tối thiểu tổng

4.9

quát


DANH MỤC HÌNH

Số thứ tự


là những nhân tố góp phần tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên,
độ mở thương mại đóng vai trò mờ nhạt trong việc phát triển kinh tế tại các quốc gia
này.

Từ khóa: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người, FDI


1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người
hoặc theo từng công dân”, Simo Kuznet (1996). Các nhà kinh tế học cổ điển đã sử
dụng hai chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người (GNP/người)
và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người (GDP/người) để đo lường tốc
độ tăng trưởng của một nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế bền vững là nhiệm vụ ưu
tiên hàng đầu của chính phủ các quốc gia, cũng là mối quan tâm không nhỏ của các
nhà kinh tế học từ trước tới nay. Để phát triển kinh tế của một quốc gia ngoài những
nhân tố mang tính đặc thù của mỗi nước như: Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên thì
chính phủ các quốc gia đang phát triển cũng không ngừng cải thiện các chính sách,
khung pháp lý, tạo điều kiện thu hút đầu tư từ các quốc gia phát triển để nhằm mục
đích chung đạt được một nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Các cuộc chạy đua về các
chính sách thu hút vốn đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở
hạ tầng, các chính sách mở cửa thương mại đã được đưa ra nhằm mục đích phát triển
tối đa các nguồn lực đem đến sự sự tăng trưởng bền vững đang được tiến hành tại các
quốc gia, tuy nhiên, kết quả mang lại lại không không giống nhau ở từng quốc gia.
Nguồn vốn đầu tư gồm: Đầu tư tư nhân, Đầu tư chính phủ và Đầu tư nước ngoài
là những thành phần không thể thiếu trong quá trình sản xuất của các quốc gia. Nguồn
vốn này không phải chỉ là những máy móc, trang thiết bị, mà còn được sử dụng để
phát triển lợi ích chung của toàn xã hội (phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, các

siêu, hàng nội địa tiêu thụ khó khăn hơn do xu hướng “sùng ngoại” hiện nay?
Ta nhận thấy, nghiên cứu tác động của các nhân tố vĩ mô đến tăng trưởng kinh
tế nói chung và tác động của FDI và độ mở thương mại đến tăng trưởng kinh tế nói
riêng là một trong những vấn đề quan trọng được nhiều nhà kinh tế chú ý. Và đây
cũng là một trong những đề tài nóng bỏng trong thời gian qua. Đã có nhiều nghiên
cứu được tiến hành ở Việt Nam cũng như những quốc gia đang phát triển khác về
mối quan hệ của những nhân tố này, tuy nhiên các nghiên cứu lại đưa ra những kết
luận trái ngược nhau. Việc nhận định rõ nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế ở các quốc gia này để đưa ra những hướng phát triển phù hợp cho nền
kinh tế là vô cùng cần thiết. Điều này đã tạo động lực để tiến hành thực hiện bài


3

nghiên cứu này, nhằm làm rõ nét thêm tác động của FDI và độ mở thương mại ở các
quốc gia đang phát triển mới nổi này.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá và phân tích tác động FDI và độ mở
thương mại đến tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển mới nổi giai đoạn 1995 –
2017, cụ thể là: Xem xét mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thương
mại với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người bên cạnh các yếu tố vĩ mô tác
động khác như: lực lượng lao động, ổn định kinh tế vĩ mô, tổng vốn đầu tư cố định…
Nghiên cứu sẽ được tiến hành trên cơ sở dữ liệu của các quốc gia đang phát triển mới
nổi, có những điểm khá tương đồng với Việt Nam để từ đó đưa ra những gợi ý chính
sách hữu ích cho việc phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển nói chung và
Việt Nam nói riêng.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), độ mở thương mại đến tăng trưởng kinh tế (tốc độ tăng trưởng của GDP bình
quân đầu người), bên cạnh đó, các yếu tố vĩ mô khác như: Tổng vốn đầu tư cố định,



5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY
Phần này cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về chiều hướng của các mối quan
hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô trên thông qua một số các lý thuyết và các nghiên
cứu thực nghiệm được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học… trong
thời gian vừa qua.
2.1 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
2.1.1 Một số học thuyết liên quan về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế
Nhiều học thuyết kinh tế đã được đưa ra để giải thích mối quan hệ giữa 2 nhân
tố này. Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển (lý thuyết tăng trưởng của Robert
Solow) được đưa ra từ những năm 1956, giải thích tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
dựa vào những yếu tố như năng suất, tích lũy vốn, tỷ lệ tăng lao động, tiến bộ khoa
học kỹ thuật. Tuy nhiên, lý thuyết này lại kết luận rằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài này chỉ đơn thuần làm tăng tỷ lệ đầu tư và dẫn đến một sự tăng lên trong
tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người nhưng lại không tác động đến tăng trưởng
kinh tế trong lâu dài. Chính yếu tố công nghệ mới giúp tạo ra gia tăng vốn đầu tư, yếu
tố quan trọng để tích lũy và tăng trưởng kinh tế, chứ không phải chỉ là vốn ban đầu.
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh ra đời vào những năm cuối thế kỉ XX, lại cho
rằng đầu tư vào nguồn nhân lực, các cải tiến khoa học kỹ thuật, tri thức sẽ là những
nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế. Thông qua hiệu ứng tràn công nghệ
thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nhân tố đóng góp lớn vào sự tăng
trưởng kinh tế quốc gia trong dài hạn. Các tập đoàn đa quốc gia được xem là những
kênh truyền dẫn, chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (thông
qua các khóa học đào tạo, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp, quản lý, các hoạt động
nghiên cứu và phát triển…) tại các quốc gia nơi nguồn vốn đầu tư chảy vào… góp

1Gross

domestic investment (hay còn gọi là gross capital formation): bao gồm các khoản chi tiêu để mở rộng, nâng cấp

các tài sản cố định của nền kinh tế cộng với những thay đổi ròng trong hàng tồn kho. Tài sản cố định bao gồm nhà xưởng,
máy móc thiết bị, đường xá, trường học, bệnh viện…. Hàng tồn kho gồm các hàng hóa nắm giữ bởi các công ty để đáp ứng
cho những biến động bất thường và tạm thời trong sản xuất và kinh doanh.


7

các quốc gia có thu nhập cao hơn và nhóm còn lại là các quốc gia có thu nhập thấp.
Và họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy FDI dẫn đến tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên
đóng góp tích cực của FDI vào tăng trưởng là có điều kiện, theo các tác giả FDI
khuyến khích tăng trưởng nhiều hơn khi quốc gia nhận FDI có hệ số thu nhập trên
đầu người cao hơn, với các quốc gia có thu nhập thấp hơn, các nhân tố khác như giáo
dục đóng vai trò quan trọng hơn. Hệ số hồi quy cho các quốc gia có thu nhập cao hơn
và thấp hơn lần lượt là 0.457 và 0.100. Họ cũng tiến hành kiểm định nhân quả để xem
xét hướng của ảnh hưởng. Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả từ FDI đến
tăng trưởng. Bằng chứng chỉ ra các quốc gia đang phát triển với thu nhập cao hơn
mới nhận được các lợi ích từ FDI gợi ý rằng có lẽ các nhân tố khác sẽ quyết định một
quốc gia sẽ nhận được bao nhiêu lợi ích từ FDI.
Các nghiên cứu sau đó đã nỗ lực để nhận diện các nhân tố này.
Balasubramanyam Salisu và Dapsoford (1996) đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của
độ mở cửa thương mại như một nhân tố quan trọng để đạt được ảnh hưởng đến tăng
trưởng từ FDI.
Borensztein Gregorio và Lee (1998) lại cho thấy rằng các quốc gia cần có một
mức độ nhất định về vốn nhân lực2 để có thể nhận được lợi ích đầy đủ từ FDI. Mặc
dù FDI có thể đem đến công nghệ và kỹ thuật, nhưng quốc gia nhận đầu tư cũng cần
phải có nguồn lao động có chất lượng để khai thác các lợi ích do FDI mang lại. Có

và Đông Á, tác giả tìm thấy mối quan hệ nhân quả Granger mạnh mẽ giữa dòng vốn
đầu tư (FDI) và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng ngoài nhân
tố dòng vốn FDI thì những đặc trưng riêng của từng quốc gia cũng có những ảnh
hưởng nhất định đến tăng sự trưởng kinh tế của quốc gia đó. Đặc biệt, dòng vốn đầu
tư FDI sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhiều hơn khi quốc gia nhận đầu tư áp dụng
chế độ tự do hóa thương mại, cải thiện giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
khuyến khích FDI định hướng xuất khẩu, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô… tạo điều
kiện thuận lợi cho các dòng vốn đầu tư chảy vào giúp phát triển kinh tế quốc gia.
Nguyễn Thị Phương Hoa (2004) đã tiến hành tìm hiểu tác động của FDI đến
tăng trưởng kinh tế thông qua sự phân tích về mối quan hệ giữa FDI và sự nghèo đói.
Nghiên cứu kết luận rằng FDI thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia thông
qua việc hình thành và tích lũy tài sản vốn bên cạnh sự tương tác liên tục, tích cực
giữa FDI và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, tác động tràn tích cực của FDI chỉ xuất hiện
ở cấp độ quốc gia ở các ngành chế biến nông lâm sản.


9

Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng và Nguyễn
Mạnh Hải (2006) đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) tới tăng trưởng kinh tế (GDP) ở Việt Nam bằng cách sử dụng kỹ thuật
phân tích định lượng và mô hình tác động đã tìm thấy rằng FDI có những ảnh hưởng
tích cực đến GDP của Việt Nam và mức độ mà FDI đóng góp đều tăng lên khi Việt
Nam chính thức tham gia vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Theo đó,
nhân tố con người, thể hiện ở trình độ học vấn của lực lượng lao động không chỉ là
nhân tố xác định sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, mà còn làm tăng đóng góp của
FDI đến GDP. Và bênh cạnh đó, tác giả nhấn mạnh là cần phải xem FDI chỉ là nguồn
vốn bổ sung cho vốn trong nước, chứ không phải là nguồn vốn thay thế. Nghiên cứu
này cũng bãi bỏ tác động lấn át đầu tư của FDI trong toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên,
họ khẳng định rằng việc bải bỏ này không có nghĩa là tác động lấn át không xảy ra ở

nước nên tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế trong trường hợp này là không
đáng kể hoặc âm. Prebisch (1986) lại cho rằng các quốc gia nhận đầu tư vốn FDI có
được rất ít lợi ích bởi vì phần lợi ích đã bị chuyển về chính quốc của các công ty đa
quốc gia.
Bên cạnh các nghiên cứu trên cho thấy có ít nhất một mối quan hệ nhân quả
giữa FDI và tăng trưởng thì một vài nghiên cứu của các nhà kinh tế học lại không tìm
thấy mối quan hệ nhân quả nào giữa hai biến số trên như các nghiên cứu của: Durham
(2004) và Herzer và cộng sự (2008), Kholdy và Sohrabian (2005) …
Nghiên cứu thực nghiệm của Vissak và Roolaht (2005) cũng đưa ra những kết
luận tương tự. Tác giả giải thích rằng các công ty đa quốc gia lớn mạnh hơn, có lợi
thế cạnh tranh hơn và thường không có ý định hợp tác với các doanh nghiệp nội địa
và do đó có thể đưa đến những mâu thuẫn chính trị, văn hóa, xã hội làm trầm trọng
thêm vấn đề ô nhiễm môi trường, giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
nội địa của nước chủ nhà… dẫn đến việc có thể gây ra những tác động tiêu cực lên
tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư…
Meschi (2006) đã nghiên cứu tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế ở 14
quốc gia MENA trong giai đoạn 1980 - 2003 sử dụng các mô hình dữ liệu bảng. Tác
giả nhận thấy rằng sự hợp nhất của FDI nói chung là tiêu cực. Tác giả cho rằng kết


11

quả này là do sự tập trung FDI cao trong lĩnh vực chính, chủ yếu là lĩnh vực
hydrocacbon, vốn tạo ra rất ít ngoại tác công nghệ.
Nicet-Chenaf và Rougier (2009) sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng điều
khiển để nghiên cứu cũng tại các quốc gia MENA và họ đã không không cho thấy tác
động trực tiếp tích cực của FDI đối với tăng trưởng. Kết quả của họ cho thấy FDI
không có tác động trực tiếp đáng kể đến tăng trưởng kinh tế nhưng đóng vai trò gián
tiếp trong tăng trưởng thông qua các tác động tích cực đến sự hình thành vốn nhân
lực và hội nhập quốc tế. Tác giả giải thích những kết quả này do mối quan hệ tương

khác. Thương mại có thể giúp cho các nước đang phát triển có thể nhập khẩu công
nghệ cao và các sản phẩm cơ bản từ các nước phát triển, làm tăng hiệu quả sản xuất,
rút ngắn khoảng cách công nghệ giữa các quốc gia; do đó, làm tăng lượng tiêu thụ và
trình độ sản xuất. Nói cách khác độ mở cửa giúp mở rộng thị trường cho các nhà sản
xuất nội địa và cải thiện hiệu quả kinh tế.
Trong cách tiếp cận theo hướng học thuyết thể chế, vai trò và ảnh hưởng của
thể chế lên tăng trưởng kinh tế được nhấn mạnh. North (1990), Olson (1996), De Soto
(2000) nhấn mạnh tầm quan trọng của các quyền sở hữu và tính công bằng trong việc
thực hiện hợp đồng như là các thành phần cơ bản của tăng trưởng kinh tế, đồng thời
tác giả cũng cho rằng thể chế có tầm quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả kinh tế
trong nền kinh tế thị trường. Tác động tích cực trong dài hạn của thương mại và độ
mở cửa lên tốc độ tăng trưởng chỉ tồn tại khi mà độ mở cửa đi liền với khung thể chế
và chính sách phù hợp như khuyến khích đầu tư, nâng cao chất lượng thể chế và tăng
quá trình tích lũy vốn con người. Do đó, những quốc gia với chất lượng thể chế thấp,
hệ thống tài chính yếu kém và bất ổn về chính trị sẽ không được hưởng những lợi ích
do sự mở cửa mang lại.
Theo cách tiếp cận mô hình tăng trưởng tân cổ điển thì các nhà kinh tế học
nhấn mạnh tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh trong thương mại, các quốc gia tối
đa hóa lợi ích của mình thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và các
yếu tố sản xuất của nền kinh tế. Trong trường hợp này, những lợi ích thương mại
được xem là những yếu tố tĩnh, tự do thương mại và độ mở cửa không dẫn đến sự


13

tăng lên của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn, nó chỉ có ảnh hưởng lên mức thu nhập
(Duncan và Quang 2001).
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa độ mở thương mại và
tăng trưởng kinh tế
2.2.2.1 Tác động tích cực của độ mở thương mại lên tăng trưởng kinh tế

mức sống của người dân. Chính phủ phải nhận biết trước nhân tố mang lại những ảnh
hưởng có lợi từ thương mại để có thể đề xuất việc xuất khẩu cái gì và nơi giao dịch
các sản phẩm đó để có thể đạt được sự tăng trưởng cao và bền vững trong hoạt động
kinh tế tương lai của đất nước. Như vậy, các ảnh hưởng từ bên ngoài cùng với xuất
khẩu có những đóng góp đáng kể trong hiệu suất thu nhập của nền kinh tế Ấn Độ.
Nguyễn Quang Hiệp (2014) sử sụng mô hình VECM và các hàm phản ứng với
các biến số như xuất khẩu, tỷ giá hối đoái thực và sản lượng đối với các cú sốc nội
sinh được ước lượng để kiểm định mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam trong những năm 1999-2013. Kết quả thể hiện sự tăng trưởng xuất
khẩu là một trong những động lực để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Và ngược lại,
sự tăng trưởng kinh tế sẽ tác động ngược trở lại đối với sự tăng trưởng xuất khẩu
trong những thơi gian kế tiếp, bằng cách gia tăng năng suất sản xuất, cải tiến sản
phẩm nhằm tăng khả năng cạnh tranh.
2.2.2.2. Tác động tiêu cực của độ mở thương mại lên tăng trưởng kinh tế
Một số quan điểm cho rằng việc đẩy mạnh xuất khẩu, gia tăng độ mở thương
mại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao là không hợp lý, nếu các điều kiện
khác không thay đổi hay các điều kiện tiên quyết khác không được thỏa mãn. Đã có
không ít các nghiên cứu chỉ ra vai trò nhợt nhạt của độ mở thương mại đối với tăng
trưởng kinh tế ở một số quốc gia và nhóm quốc gia…
Richards, DG (2001) đã sử dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian bao
gồm các kiểm định nhân quả Granger, mô hình hiệu chỉnh sai số và mô hình tự hồi
quy vector để phân tích giả thuyết xuất khẩu dẫn đến tăng trưởng (ELG) ở Paraguay.
Quốc gia có tốc độ tăng trưởng chậm trong những năm 1990, mặc dù đã có tốc độ
tăng trưởng cao trong giai đoạn 1970 – 1980. Tác giả nhận thấy, tốc độ gia tăng xuất


15

khẩu ở Paraguay không ổn định như tốc độ tăng trưởng kinh tế vì các lý do liên quan
đến chính trị và kinh tế. Kết quả thu được, tác giả nhận thấy ảnh hưởng của xuất khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status