Một số vấn đề chiến lược phòng chống suy dinh dưỡng hiện nay - Pdf 29

12 Tạp chí Y tế công cộng, 8.2004, Số 1 (1)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
1. Mở đầu
Từ năm 1998, sau khi tiếp nhận mục tiêu
phòng chống SDD trẻ em từ Uỷ ban BVCSTE (nay
là Uỷ ban DS-GĐ-TE), ngành y tế đã thực hiện
chiến lược "chăm sóc dự phòng", mở rộng đòa bàn
triển khai trong toàn quốc. Trong 5 năm qua, tỷ lệ
suy dinh dưỡng giảm đều từ 1,5 đến 2% mỗi năm.
Theo báo cáo mới đây của UNICEF, Việt Nam
được đánh giá là quốc gia duy nhất trong khu vực
châu Á - Thái Bình Dương đạt được mức giảm
SDD nhanh (1). Cùng với thành tựu trong phòng
chống thiếu vitamin A, phòng chống thiếu máu
dinh dưỡng và thiếu iốt, công tác phòng chống suy
dinh dưỡng trẻ em được thừa nhận đạt được hiệu
quả cụ thể (1,2). Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng
ở nước ta còn cao (28,4%), đặc biệt là tỷ lệ thấp
còi (stunting) (32%) và có sự chênh lệch lớn giữa
các đòa phương (3). Điều này cho thấy, đã đến lúc
chúng ta không chỉ quan tâm tới chỉ số SDD nhẹ
cân mà cần quan tâm hơn tới chỉ số suy dinh dưỡng
chiều cao theo tuổi (thể chiều cao thấp) và phát
triển chiều cao. Những thách thức giảm SDD trong
những năm tới là rất lớn đòi hỏi phải có sự phân
tích và đề xuất các phương hướng cụ thể cho
chặng đường một thập kỷ tới.
2. Tầm quan trọng và nguyên nhân của suy
dinh dưỡng thấp còi ở nước ta
Mọi người đều biết, dinh dưỡng kém được
biểu hiện bằng "thấp bé, nhẹ cân, còi cọc". Chỉ số

| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế công cộng, 8.2004, Số 1 (1) 13
cân dễ sinh ra con suy dinh dưỡng thấp còi. Những
trẻ thấp còi sau này phát triển khó đuổi kòp bạn
bình thường cùng tuổi cả về thể lực lẫn trí lực.
Điều này cho thấy gánh nặng của suy dinh dưỡng
mạn tính.
Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng, vào
năm 2003, tỷ lệ thấp còi chung trong toàn quốc là
32%, tức là cứ 3 trẻ dưới 5 tuổi có 1 trẻ bò thấp
còi
(3)
. Cả nước hiện có trên 3 triệu trẻ bò thấp còi.
Từ năm 1999 đến nay, tỷ lệ thấp còi bình quân
hàng năm giảm 1,5% (Biểu đồ 1). Tuy nhiên, tỷ lệ
thấp còi ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc miền
Trung và Tây Nguyên còn cao, dao động từ 38 đến
44% (Biểu đồ 2).
Ngân hàng thế giới ước tính, suy dinh dưỡng
thấp còi làm giảm 5% GDP hàng năm của Việt
Nam
(5)
. Rõ ràng là suy dinh dưỡng thấp còi gây
thiệt hại về kinh tế, kìm hãm sự phát triển, ảnh
hưởng đến nguồn nhân lực và nòi giống. Các cộng
đồng có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao thường dễ bò
nghèo đói và nghèo đói - suy dinh dưỡng là một
vòng luẩn quẩn khó tìm được chìa khóa để mở.
Các kết quả nghiên cứu gần đây còn cho
thấy, nguy cơ bò béo phì ở trẻ bò thấp còi vào

quan tâm và thu thập ở các bệnh viện phụ sản.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ thấp còi ở Việt Nam 1994-2003
(Viện Dinh dưỡng)
Biểu đồ 2. Phân bố tỷ lệ thấp còi theo vùng sinh
thái (2003)
Biểu đồ 3. Phân bố SDD theo tuổi (tháng), 2003
(Viện Dinh dưỡng)
14 Tạp chí Y tế công cộng, 8.2004, Số 1 (1)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tỷ lệ SDD thấp còi chiếm 10% ngay ở
tháng đầu tiên, gấp đôi so với SDD nhẹ cân và bắt
đầu tăng nhanh sau 5 tháng tuổi (Biểu đồ 3). Đáng
chú ý là phân bố theo tuổi của SDD thấp còi vào
năm 2003 không khác nhiều so với các kết quả
nghiên cứu năm 1985
(4)
. Điều này chứng tỏ yếu
tố quyết đònh của tình trạng suy dinh dưỡng thấp
còi ở nước ta, trong đó có vấn đề suy dinh dưỡng
bào thai vẫn còn tồn tại. Một trong những điểm
tồn tại đó là chúng ta chưa thu thập được chính xác
và có hệ thống về tỷ lệ cân nặng khi đẻ thấp, song
phân bố trên đã gián tiếp phản ánh tình trạng SDD
bào thai còn cao.
Trong 2 năm đầu, nuôi dưỡng có một vai trò
hết sức quan trọng đối với suy dinh dưỡng thấp
còi. Điều này có liên quan tới chất lượng khẩu
phần ăn bổ sung: thiếu protid (giúp xây dựng các
tế bào, tạo hình), lipid (giúp phát triển các xương
dài và hấp thu vi chất dinh dưỡng) và còi xương

tượng nào, ở đâu bò mất an ninh lương thực còn
thiếu cụ thể. Thời gian qua chưa có một chương
trình can thiệp tập trung vào vấn đề an ninh thực
phẩm hộ gia đình. Hơn nữa, sự phối hợp giữa hoạt
động xóa đói giảm nghèo, hoạt động dinh dưỡng
và hoạt động đảm bảo an ninh thực phẩm quốc gia
còn hạn chế mặc dù các hoạt động trên đều được
quan tâm triển khai.
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn còn là vấn đề
sức khoẻ cần phải được tiếp tục quan tâm vì nó có
tác động tới suy dinh dưỡng và phát triển của trẻ
em. Tháng 5 năm 2003, Đại Hội đồng Liên hợp
quốc đều thống nhất phòng chống các vấn đề
thiếu vi chất dinh dưỡng thiết yếu phải trở thành
một mục tiêu phát triển toàn cầu
(8)
. Liên hợp quốc
kêu gọi loại trừ về căn bản thiếu iốt vào năm
2005, loại trừ thiếu vitamin A vào 2010 và giảm
tối thiểu 30% tỷ lệ thiếu máu vào 2010. Ở Việt
Nam, ước tính có khoảng 240.000 trẻ sinh ra hàng
năm bò giảm trí lực do thiếu iốt, khoảng 2000 trẻ
tử vong vì giảm khả năng chống đỡ nhiễm khuẩn
do thiếu vitamin A. Ngoài ra còn có 10% trẻ em bò
giảm miễn dòch và tăng trưởng kém do thiếu vita-
min A. (ước tính của Sáng kiến vi chất dinh dưỡng
(MI)). Hàng năm có khoảng 150 bà mẹ trẻ tử vong
do sinh đẻ liên quan tới thiếu máu, 6000 trẻ có
nguy cơ tử vong cao trong giai đoạn ngay trước và

trẻ em đến nhà trẻ trong cả nước mới chiếm
khoảng 10% số trẻ trong độ tuổi. Chăm sóc dinh
dưỡng đòi hỏi thường xuyên do đó hệ thống nhà
trẻ phải được mở rộng và nâng cao về chất lượng
Một vấn đề quan trọng nữa là các chính
sách. Có thể nói các chính sách đã tác động tới cả
nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp của suy dinh
dưỡng ở mọi cấp độ khác nhau. Trong khi nhiều
giải pháp chuyên môn được khuyến khích áp dụng
như nuôi con bằng sữa mẹ nhưng các chính sách
hỗ trợ cho người mẹ nuôi con bằng sữa mẹ, nhất là
thực hiện bú sữa mẹ hoàn toàn từ 4 đến 6 tháng
đầu còn chưa cụ thể. Các chính sách về chăm sóc
trẻ em chưa đồng bộ và chưa đáp ứng về nguồn
lực để có thể hỗ trợ hiệu quả cho công tác này, đặc
biệt là ở các vùng khó khăn.
Thêm vào đó, mạng lưới y tế và cộng tác
viên dinh dưỡng ở nhiều xã còn yếu kém, nội dung
hoạt động ít sáng tạo, chất lượng chưa cao; các nội
dung, giải pháp triển khai phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ em thường bò "hành chính hoá". Công
tác huy động nguồn lực đã có kết quả song không
đồng đều ở các đòa phương.
Ngân hàng thế giới dự báo: nếu kinh tế của
Việt Nam tăng trưởng 9%/năm, đến năm 2013, tỷ
lệ thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn là trên 35%
(Biểu đồ 5). Hiện nay, tỷ lệ thấp còi của nước ta
đã dưới 35%. Tuy đã vượt so với dự báo trên
nhưng tỷ lệ thấp còi hiện nay chưa nói lên Việt
Nam đã giảm SDD thấp còi một cách bền vững.

16 Tạp chí Y tế công cộng, 8.2004, Số 1 (1)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
dưỡng, hiểu biết về thức ăn, hiểu biết về nuôi con.
Chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai bao
gồm theo dõi tăng cân, tư vấn dinh dưỡng, khám
thai, tiêm chủng, bổ sung viên sắt/folic và cải
thiện môi trường vệ sinh. Các hoạt động cơ bản
này không bao giờ là cũ và phải luôn được quan
tâm ở mọi cộng đồng. Chương trình dinh dưỡng
cần kết hợp lồng ghép với chương trình làm mẹ an
toàn trong thực hiện việc chăm sóc nữ vò thành
niên ở độ tuổi sinh đẻ. Tăng cường các nội dung
dinh dưỡng trong tất cả các hoạt động chăm sóc
sức khỏe (cả điều trò và dự phòng) đối với nữ tuổi
vò thành niên, giai đoạn trước và trong khi có thai
kết hợp với dòch vụ kế hoạch hóa gia đình. Cần
xây dựng các mô hình dựa vào cộng đồng nhằm
tăng tiềm lực cho các đối tượng trên.
4.2 Nâng cao chất lượng và độ bao phủ hoạt động
chăm sóc dinh dưỡng trẻ em để giảm thấp còi
trong những năm đầu.
Tập trung chăm sóc trẻ ngay từ khi mới sinh.
Điểm mấu chốt nhất ở đây là thực hiện bú sữa mẹ
hoàn toàn 6 tháng đầu và duy trì tới khi trẻ được
18 đến 24 tháng. Từ tháng thứ 6, thực hiện ăn bổ
sung hợp lý, cải thiện chất lượng ăn bổ sung (đủ
protid, lipid) và bổ sung đầy đủ vi chất dinh dưỡng
cho trẻ. Tổ chức Y tế thế giới vừa công bố "Chiến
lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ em". Việc hoàn
thiện chiến lược nuôi dưỡng trẻ em áp dụng cho

sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội.
4.4. Phối hợp liên ngành chặt chẽ, tiếp tục huy
động sự tham gia của cộng đồng và sự cam kết cao
của Chính phủ trong phòng chống SDD trẻ em.
Thực tế cho thấy, hoạt động phối hợp liên
ngành trong thời gian qua còn hạn chế. Chương
trình xóa đói giảm nghèo đã nhận được sự quan
tâm của Nhà nước song đầu ra về cải thiện dinh
dưỡng của các đối tượng nhân dân chưa được nhấn
mạnh một cách đầy đủ. Sự phối hợp nhằm thực
hiện có hiệu quả hoạt động phòng chống SDD trẻ
em giữa ngành y tế, nông nghiệp và giáo dục chưa
đúng với những gì mong đợi. Các giải pháp trong
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng cần được thực
hiện một cách tích cực, có sự quan tâm và đầu tư
lâu dài của Nhà nước.
Trước hết cần củng cố hệ thống thông tin
về tình trạng mất an ninh lương thực, nâng cao
chất lượng sử dụng các thông tin này trong việc
hoạch đònh chính sách và đầu tư các dự án, chương
trình cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình cho
những đối tượng và các vùng có nguy cơ cao.
Trang thiết bò, kinh phí, năng lực phân tích cho hệ
thống giám sát dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng
cần được nâng cấp để có thể cung cấp không
những các thông tin khách quan về tỷ lệ SDD hàng
năm đại diện cho từng tỉnh mà còn cung cấp các
thông tin về hoạt động phòng chống SDD và phân
tích thực trạng các yếu tố SDD theo đòa bàn đặc
thù. Chỉ số suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi cần

quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; e-mail: [email protected].
Tài liệu tham khảo
1. UNICEF. Strategy to reduce maternal and child undernutri-
tion. Unicef, Health and nutrition working paper, EAPRO,
2003.
2. MI (Micronutrient Initiative): Vitamin and Mineral
Deficiency: A report assessment for Vietnam (leadership
briefing), 2004.
3. Viện Dinh dưỡng. Tình hình dinh dưỡng trẻ em và bàø mẹ
2003.
4. Hà Huy Khôi. Protein-Energy Nutritional status of rural
people in some regions of Vietnam. Warszawa, 1990.
5. World Bank, 1998. Household Welfare and Vietnam's
Transition. WB Washington DC.
6. Waterlow J.C., Schšrch B. (1994). Causes and Mechanisms
of Linear Growth Retardation. Proceedings of an I/D/E/C/G
Workshop held in London January 15-18, Eur. J. Clin. Nutr.
48: S1-S216
7. Lisa C.Smith and Lawrence Haddad. Overcoming Child
Malnutrition in Developing Countries: Past achievements and
future choices. International Food Policy Research Institute,
Washington DC, 2/2000
8. Peter Adamson. Vitamin and Mineral Deficiency: A global
progress report. UN, 5/2004.
9. UNICEF/UNU/WHO. Iron Deficiency Anemia:
Assessment, Prevention, and Control, A guide for programme
managers. WHO, 2001.
10. Viện Dinh dưỡng: Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2000.
NXB Y học 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status