Nhận xét hiệu quả điều trị cắt cơn nghiện heroin - Pdf 29

46 Tạp chí Y tế Công cộng, 7.2010, Số 15 (15)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Nhận xét hiệu quả điều trò cắt cơn nghiện
heroin bằng Levomepromazin và Diazepam
Nguyễn Thò Xuyên(*), Đàm Đức Thắng (**)
Nghiện ma tuý nói chung, đặc biệt nghiện heroin là một tệ nạn xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến bệnh
nhân, gia đình và xã hội. Số lượng người nghiện ma tuý có chiều hướng ngày càng gia tăng. Nghiên
cứu này đưa ra nhận xét hiệu quả điều trò cắt cơn nghiện heroin bằng levomepromazin và diazepam.
Mẫu nghiên cứu gồm 59 bệnh nhân nam, theo tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện heroin của hội tâm thần
học Hoa Kỳ năm 1994 (DSM-IV), điều trò nội trú tại bệnh viện Tâm thần Hải Phòng, tuổi từ 18 58
tuổi. Tiến hành theo phương pháp tiến cứu, cắt ngang, có tiến hành phân tích từng trường hợp điển
hình. Kết quả cho thấy các rối loạn tâm thần và cơ thể xuất hiện chủ yếu trong 3 ngày đầu, từ ngày
thứ 5 của đợt điều trò các rối loạn có xu hướng giảm dần. Sau 10 ngày điều trò chỉ có một vài bệnh
nhân còn một số biểu hiện như: giảm khí sắc mất ngủ, lo âu, thèm heroin. Thuốc levomepromazin
liều trung bình là 127,5 78,5mg/BN/ngày, diazepam là 28,75 16,5mg/BN/ngày. Tóm lại, nghiên
cứu hiệu quả của các thuốc cắt cơn nghiện Heroin trên lâm sàng là hết sức cần thiết và hữu ích.
An evaluation of the effectiveness
of levomepromazin and diazepam used
for heroin detoxification
Nguyen Thi Xuyen (*), Dam Duc Thang (**)
Introduction: Drug addiction, particularly heroin addiction, is considered as a social evil profoundly
affecting patients, families and the society. The number of drug addicts is on an increasing trend.
Objective: To reviews the effectiveness of heroin detoxification by the use of levomepromazin and
diazepam. Subjects and Method: 59 male patients were selected according to the heroin addict
diagnosis standard of American Psychiatry Assembly in 1994 (DSM-IV). They were on inpatient
treatment in Hai Phong Mental hospital, aged from 18 to 58 years. This is a prospective, cross-
sectional study with analysis of each typical case. Results: The mental and physical disorders were
mainly found within the first three days, but they tended to decrease from day 5 of treatment. After
10 days of treatment, only signs such as insomnia mood, anxiety, craving for heroin were observed.
The average levomepromazin dose was 127.5 78.5mg/patient/day while diazepam dose was 28.75
16.5mg/patient/day. Conclusion: The study on effectiveness of drugs used for heroin detoxification

và lứa tuổi từ 18 58 tuổi, tuổi trung bình là 33,05
8,09.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu
Tất cả các đối tượng đã vào nghiên cứu phải đáp
ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện heroin
của Hội Tâm thần học Mỹ năm 1994 (DSM-IV) [5].
- Có bằng chứng đã sử dụng heroin (thử test
morphin dơng tính trong nước tiểu)
- Bệnh nhân đáp ứng được nhu cầu khám bệnh
và làm các xét nghiệm.
- Tất cả các bệnh nhân đợc điều trò bằng
levomepromazin và diazepam theo phác đồ của Bộ
Y tế(1995) để cắt cơn nghiện
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có bệnh cơ thể nặng: tim mạch, hen,
gan, thận
Bệnh nhân dùng thuốc cắt cơn khác với quy
trình nghiên cứu.
Bệnh nhân có tiền sử một bệnh tâm thần khác.
Bệnh nhân đồng thời nghiện rượu hoặc loại ma
túy khác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành theo phương pháp tiến cứu, cắt
ngang, có tiến hành phân tích từng trường hợp điển
hình.
2.2.2. Phương pháp khám lâm sàng chung
- Sử dụng mẫu bệnh án nghiên cứu.
2.2.3. Các chỉ tiêu lâm sàng để đánh giá kết quả
Diễn biến triệu chứng trong 10 ngày điều trò
(từ ngày thứ 01 đến thứ 10).

Nhận xét: ngày đầu rối loạn năng lực đònh
hướng có 5,08% đến ngày thứ 2 là 13,56%, ngày thứ
7 trở đi không còn bệnh nhân nào rối loạn. Mê sảng,
lú lẫn ngày đầu không có bệnh nhân nào đến ngày
thứ 2 có 2 bệnh nhân, ngày thứ 7 trở đi không còn
bệnh nhân nào.
(Bảng 3.2)
Nhận xét: ngày đầu cắt cơn 62,71% lo sợ không
cắt được cơn, ngày thứ 7 trở đi không còn bệnh nhân
nào có cảm giác này. Cảm xúc dễ bùng nổ, cảm xúc
không ổn đònh chỉ xuất hiện vào ngày thứ 2, 3 và 4.
Nhận xét: Loạn khí sắc ngày đầu 49,15% ngày
thứ 10 còn 5,08%. Giảm khí sắc 13,56% ngày đầu,
ngày thứ 2 tăng lên 47,47%, đến ngày thứ 10 còn
8,47%. Khí sắc hằn học, bất mãn chỉ xuất hiện vào
ngày thứ 2 và 3.
Triệu chứng Điểm Triệu chứng Điểm
Mệt mỏi rã rời 1 Dãn đồng tử 3
Ngáp chảy nước mắt 1 Nóng ngực khô cổ 1
Chảy nước mũi 1 Mất ngủ 2
Vã mồ hôi 1 Nhức đầu 2
Ỉa chảy 2 Nôn mửa, co giật 3
Đau lưng 1 Hôn mê 3
Nhức xương 1 Tăng huyết áp 3
Nổi da gà 2 Xuất huyết 3
Bảng 2.1. Bảng điểm của Himmelsbach
Ngày
Bệnh nhân
Triệu chứng
1 2 3 5 7 10

n 0 12 9 3 0 0
% 0 20,34 15,25 5,08 0 0
Bồn chồn
p p
2-3
>0,05 p
3-5
< 0,01 P
1 -5
<0,05
Bảng 3.1. Diễn biến tâm trạng trong điều trò cắt cơn
Ngày
Bệnh nhân
Triệu chứng
1 2 3 5 7 10
n 3 8 6 1 0 0
% 5,08 13,56 10,17 1,69 0 0
RL năng lực
đònh hướng
p p
1-2
>0,05 p
2-3
>0,05 p
3-5
> 0,05 P
2 -5
< 0,05
n 0 3 2 0 0 0
% 0 5,08 3,39 0 0 0

dễ bùng nổ
p p
2-3
>0,05
n 0 3 2 1 0 0
% 0 3,39 1,69 1,69 0 0
Cảm xúc
không ổn đònh
p p > 0,05

Bảng 3.3. Rối loạn cảm xúc chung trong điều trò cắt cơn
Ngày
Bệnh nhân
Triệu chứng
1
2 3 5 7 10
n 29 33 33 27 13 3
% 49,15 55,93 55,93 45,76 22,03 5,08
Loạn khí sắc
p p
1-2
>0,05 P
2-7
>0,05 p
3-5
> 0,05 p
5 -7
> 0,05 P
2-7
<0,05 P

ngày đầu không có bệnh nhân nào, ngày thứ 2 xuất
hiện một số trường hợp, từ ngày thứ 7 trở đi không
còn bệnh nhân nào.
Nhận xét: Vật vã kích thích gặp 11,86% những
ngày đầu, ngày thứ 7 trở lên không còn bệnh nhân
nào. Kích động trầm cảm ngày thứ 2 có 8,47%, giảm
dần và không còn bệnh nhân nào từ ngày thứ 7 trở
đi. Hành vi tự sát chỉ gặp 1 trường hợp ở ngày thứ 7.
Nhận xét: thèm heroin ngày đầu 20,34%, sau đó
tăng lên 93,22% ngày thứ 2 sau đó giảm dần đến
ngày thứ 10 con 10,17%. Dò cảm gặp nhiều nhất
ngày 3 chiếm 93,22%, đến ngày thứ 10 không còn
trường hợp nào.
Nhận xét: liều trung bình của Levomepromazin
là 127,5±78,5, liều trung bình của Diazepam là
28,75 16,5.
4. Bàn luận
4.1. Về rối loạn tâm thần ở bệnh nhân
nghiện heroin
4.1.1. Về tâm trạng của bệnh nhân
Các rối loạn lo âu cũng được xem như là biểu
hiện chính của bệnh nhân nghiện heroin trong giai
đoạn cắt cơn nghiện. Trong nghiên cứu của chúng
tôi gặp 52/59 bệnh nhân (88,13%) có biểu hiện lâm
sàng rối loạn lo âu, trong đó hoảng hốt vô cớ là
61,54%, bồn chồn chiếm 76,92% và ác mộng là
32,73%. Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên
cứu của Nguyễn Thanh Bình (2001) thấy 88,3%
bệnh nhân có rối loạn lo âu và 38,3% có ác mộng
[1]. Nhiều tác giả đều nhận đònh rằng lo âu có từ rất

% 0 6,78 5,08 0 0 0
Ảo xúc giác
p
p >0,05

Bảng 3.5. Về rối loạn tri giác trong điều trò cắt cơn
Ngày
Bệnh nhân
Triệu chứng
1 2 3 5 7 10
n 7 53 49 5 0 0
% 11,86 89,83 83,05 8,47 0 0
Vật vã kích thích
p p
1-2
<0,01 p
2-3
>0,05 p
3-5
< 0,01 p
5 -2
<0,001
n 0 5 2 1 0 0
% 0 8,47 3,39 1,69 0 0
Kích động trầm cảm
p P
2-3
>0,05 P
3-5
>0,05 P

7
10
T
T
Bệnh nhân
Triệu chứng
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
1
Ngáp
42
71,19
59
100,00
43
72,88
17
28,81
2
3,39

-
4
Thèm heroin
12
20,34
55
93,22
51
86,44
32
54,23
14
23,72
6
10,17
5
Toát mồ hôi, nổi da gà
28
47,46
45
76,27
23
38,98
0
-
0
-
0
-
6

3
5,085
27
45,76
55
93,22
8
13,56
0
-
0
-
9
Đồng tử giãn
13
22,03
45
76,27
20
33,90
0
-
0
-
0
-
10
ỉa chảy
4
6,78

54
91,53
28
47,46
11
18,64
3
5,08
13
Sút cân
0
0
59
100,00
59
100,00
0
-
0
-
0
-
14
Tăng cân
0
0
0
-
0
-

trong đó bệnh nhân có rối loạn trầm cảm là 69,81%,
cảm xúc dễ bùng nổ là 13,21% và khí sắc hằn học
bất mãn là 7,55%. Biểu hiện nặng nề nhất của bệnh
nhân rối loạn trầm cảm là những ý tưởng và hành vi
tự sát. Theo Sadock B.J (2003) 90% bệnh nhân
nghiện heroin có rối loạn tâm thần và gần 15%
người nghiện opioid có 1 lần tự sát trong đời [6].
Theo Susan J. Blumenthal (1990) nghiên cứu 533 ca
điều trò cai nghiện opioid, tác giả nhận thấy 17,3%
số họ có hành vi tự sát [7]. Trong nghiên cứu của
chúng tôi có 3/59 bệnh nhân có ý tưởng tự sát và
1/59 bệnh nhân có hành vi tự sát nhưng được ngăn
chặn kòp thời. Những ý tưởng này hầu hết xuất phát
từ những căng thẳng, những xung đột trường diễn
mà bệnh nhân gặp phải trong gia đình và xã hội.
Tuy nhiên nếu được điều trò tốt (cắt cơn nghiện,
liệu pháp tâm lý phù hợp, sự động viên khích lệ của
người thân ) thì ý tưởng bất lợi sẽ tan biến.
4.1.3. Về ảo giác
Trong nghiên cứu cho thấy 16/59 bệnh nhân
(27,12%) có ảo giác, trong đó ảo giác thô sơ các loại
chiếm 81,25% (13/16BN) và ảo giác phức tạp là
3/16BN, ảo giác thô sơ gồm 30,77% ảo giác thò giác,
30,77% ảo giác xúc giác và 33,08% ảo thính giác,
các giác này xuất hiện không thường xuyên, chủ
yếu vào lúc bệnh nhân sắp đi vào giấc ngủ, sắp thức
dậy hay trạng thái quá mệt mỏi. Ảo giác phức tạp
chúng tôi chỉ gặp ảo thính giác (2/3 bệnh nhân), ảo
thò giác (1/3 bệnh nhân), cả 3 bệnh nhân này đều
nghiện heroin ở mức độ nặng và thời gian nghiện

trong đó rối loạn năng lực đònh hướng đơn thuần
chiếm 63,16% và mê sảng là 5/19 bệnh nhân. Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi và Abott P.J (1994)
không thấy sự khác biệt với p >0,05. Các rối loạn
đònh hướng chủ yếu rối loạn về môi trường, thời
gian và không gian kết hợp, chỉ gặp 3 bệnh nhân có
rối loạn đònh hướng bản thân, các rối loạn này xuất
hiện không liên tục trong 2 ngày đầu. Chúng tôi chỉ
gặp biểu hiện mê sảng trong ngày thứ 1
χ
2
của đợt
điều trò, người bệnh có những hành động bắt con vật
trên da và tìm các đồ lạ trong phòng bệnh, cảm xúc
thường căng thẳng và hoảng hốt
4.1.6. Về rối loạn tư duy ở bệnh nhân cai nghiện
heroin
Có19/59 bệnh nhân( 32,20%) có các triệu
chứng của rối loạn tư duy, trong đó 36,84% có ý
tưởng bất hạnh, 31,58% có ý tưởng hoài nghi, 3/19
bệnh nhân có ý tưởng nghen tuông và 2/19 có ý
tưởng có tội, chỉ có 1/19 bệnh nhân có hoang tưởng
nhận nhầm đã nghiện heroin 13 năm bệnh nhân cho
rằng người bệnh cùng phòng là bố đẻ của mình và
triệu chứng này xuất hiện không liên tục. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với Nguyễn
Thanh Bình (2001) khi nhận xét rằng có 20% bệnh
nhân có rối loạn nội dung tư duy, trong đó đa số các
rối loạn này chỉ dừng lại ở mức là các ý tưởng ám
ảnh 83,3% và 16,7% là hoang tưởng nhận nhầm[1].

là 13,25mg/BN/ngày và liều cao thất mà một bệnh
nhân sử dụng là 325mg/24h. Chúng tôi nhận thấy
trong 3 ngày đầu số lượng levomerpromazin chiếm
50,87%.
- Với diazepam: kết quả của chúng tôi (bảng
3.27) cho thấy thốc chỉ sử dụng trong 7 ngày dưới
dạn viên nén, liều trung bình là 5,75 ±
3,3viên/BN/ngày, liều trung bình cao nhất vào
ngày thứ 2 là 46,85mg/ngày/BN, và thấp nhất ngày
thứ 7 là 1,75 mg/ngày/BN. Chúng tôi nhận thấy
liều cao nhất mà một bệnh nhân được dùng là
55mg/ngày. Trong 3 ngày đầu số lượng diazepam
chiếm 63,99%.
Theo Nguyễn Việt (1995) liều dùng tisercin
trong 5 ngày đầu liều từ 5,38
÷ 9,48 viên, và
seduxen dùng trong 5 ngày đầu liều từ 2,14
÷10,88
viên, liều cao nhất vào ngày thứ 2. Để gây ngủ cho
bệnh nhân cai heroin trong những ngày cuối liều
tisercin trung bình 1,7 đến 2,3 viên [4]. Ngô Ngọc
Tản, Nguyễn Văn Ngân, (2003) liều seduxen trong
sử dụng phối hợp thốc trung bình 20 -
30mg/BN/ngày và tối đa 40 - 60mg/BN/ngày, với
liều tisercin (levomerpromazin) trung bình là 40 -
100mg/BN/ ngày liều tối đa là 300mg/BN/ ngày [3].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với với
tác giả trên.
* Về hiệu quả điều trò:
Với nhóm triệu chứng rối loạn cơ thể: qua thăm

rõ rệt, đặc biệt là ý tưởng và hành vi tự sát kiểm soát
được nhờ liều thuốc cao hơn. Sau 10 ngày điều trò
100% bệnh nhân không còn hội chứng cai, các bệnh
nhân đều hợp tác điều trò mặc dù lúc đầu còn chống
đối nhưng do tác dụng tốt của thuốc điều trò mà
bệnh nhân vượt qua hội chứng cai một cách nhẹ
nhàng và hồi phục sức khỏe nhanh chóng.
52 Tạp chí Y tế Công cộng, 7.2010, Số 15 (15)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân và Cs (2005 ). "Phụ
thuộc và lạm dụng thuốc phiện - Bệnh học tâm thần". Nhà
xuất bản Quân đội Nhân dân. 162 - 168.
2. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân và Cs (2005 ). "Tác
dụng chung của thuốc hướng Tâm thần - Tâm thần học đại
cương và điều trò các bệnh Tâm thần". Nhà xuất bản Quân
đội Nhân dân. 223 - 251.
3. Nguyễn Thanh Bình (2001). "Nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng rối loạn tâm thần ở bệnh nhân đang điều trò cắt cơn
nghiện ma tuý (opioid )". Luận văn thạc só y học, Học viện
Quân y.
4. Nguyễn Việt, Trần Viết Nghò, Nguyễn Minh Tuấn (1995).
"Đánh giá điều trò cắt cơn nghiện ma túy bằng các thuốc
hướng thần theo hướng dẫn của Bộ Y tế ban hành". Tập san
kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học Bộ Y tế - Chuyên
ngành Tâm thần. 120 - 131.
Tiếng Anh
5. Kaplan H. I., Sadock B. J., Grebb J. A. (1994). "Synopsis
of psychiatry. Seventh edition". Wasington D.C. 278 -318,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status