Luận văn Thạc sĩ Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Bắc Á - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
_____________________ PHAN THỊ KIM HOÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________ PHAN THỊ KIM HOÀNG
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI. 1
1.1 RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1
1.1.1 Khái niệm rủi ro lãi suất 1
1.1.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất. 1
1.1.3 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất. 1
1.1.4 Lượng hóa rủi ro lãi suất. 2
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 4
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro lãi suất 4
1.2.2 Mục tiêu của quản trị rủi ro lãi suất. 4
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro lãi suất. 5
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro lãi suất tại NHTM 5
1.2.5 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản trị rủi ro lãi suất 5
1.2.6 Ý nghĩa của việc hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất 7
1.3 CHUẨN MỰC BASEL TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 8
1.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TỪ MỘT SỐ
NHTM KHÁC 13
1.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO NHTMCP BẮC Á 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG
TMCP BẮC Á. 32
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHTMCP BẮC Á. 32
2.2 TÌNH HÌNH LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN
TỆ TRONG THỜI GIAN QUA. 34
2.2.1 Chính sách điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà Nước. 34

ATM : Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (còn được gọi
là ATM, viết tắt của Automated Teller Machine hoặc Automatic Teller
Machine)
CIC : Trung tâm thông tin tín dụng
CSTT : Chính sách tiền tệ
DTBB : Dự trữ bắt buộc
FED : Cơ quan Dự trữ Liên bang Mỹ (Ngân hàngTrung ương Mỹ)
FITCH : Tổ chức xếp hạng tín nhiệm.
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
LNH : Liên ngân hàng
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngânhàngthươngmại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTW : Ngân hàng Trung ương
RRLS : Rủi ro lãi suất
TCTD : Tổ chức tín dụng
TMCP : Thương mại cổ phần
TSC : Tài sản có
TSN : Tài sản nợ
TTTT : Thị trường tiền tệ

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) cùng với các tổ
chức hợp tác khu vực nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đang từng bước nỗ lực
làm mới mình, đón đầu hội nhập. Trong đó, hệ thống NH TMCP được đánh giá là hệ
thống khá năng động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Để có thể tồn tại và phát triển bền vững trong cuộc cạnh tranh này, các NHTMCP
phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh về mọi mặt. Và với cơ chế lãi suất thoả thuận

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Bắc Á. 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

Xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế khiến cho hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, như: rủi
ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản và những rủi ro khác.
Cùng với xu hướng tự do hóa tài chính, rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro cơ
bản nhất của các Ngân hàng thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn này
đi sâu vào nghiên cứu rủi ro lãi suất.

1.1 RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1 Khái niệm rủi ro lãi suất.
Rủi ro lãi suất là khả năng ngân hàng phải đối mặt với sự suy giảm lợi nhuận
hoặc những tổn thất về tài sản do sự biến động của lãi suất. Sự không cân xứng về
kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.
1.1.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất.
Có ba nhóm nguyên nhân dẫn đến rủi ro, gồm:
- Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: trình độ công nghệ,
quy mô, nhân lực,
- Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng: nguồn thu nhập, động cơ gửi
tiền,
- Các nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh
doanh: nền kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính của Chính phủ,
1.1.3 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất.

về tài sản của ngân hàng.
1.1.4 Lượng hóa rủi ro lãi suất.
Để phòng tránh RRLS, đòi hỏi NHTM phải tăng cường công tác quản lý,
trong đó cần áp dụng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất có ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh. Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hóa RRLS đang được
3

các ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình định giá
lại và mô hình thời lượng.
1.1.4.1 Mô hình kỳ hạn đến hạn.
Có 2 phương pháp để lượng hóa mô hình này là:
- Phương pháp lượng hóa RRLS đối với một tài sản.
- Phương pháp lượng hóa RRLS đối với danh mục tài sản.
Mô hình kỳ hạn là một phương pháp trực quan để lượng hóa RRLS qua đánh
giá sự cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng. Nhược điểm của mô hình này là không đề cập đến yếu tố thời lượng của
các luồng tài sản có và tài sản nợ. Tuy nhiên, do tính đơn giản và trực quan nên
được sử dụng khá phổ biến, điều này cũng phù hợp với Việt Nam hiện đang trong
quá trình hiện đại hóa ngân hàng.
1.1.4.2 Mô hình định giá lại.
Nội dung cơ bản của mô hình này là việc phân tích các luồng tiền dựa trên
nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản
có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định.
Một nhược điểm của mô hình là chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà
không đề cập đến giá trị thị trường của chúng. Do đó, mô hình định giá lại chỉ phản
ánh được một phần RRLS đối với ngân hàng.
1.1.4.3 Mô hình thời lượng.
So với hai mô hình trên, thì mô hình thời lượng hoàn hảo hơn trong việc đo
mức độ nhạy cảm của tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến
yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ

được mục tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cố
định. Đây là hệ số giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân
hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn
vốn có chi phí thấp nhất. Hệ số này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh
hơn lãi thu từ cho vay và đầu tư hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tư giảm nhanh hơn
5

chi phí huy động vốn sẽ làm cho thu nhập lãi biên bị thu hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ
lớn.
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro lãi suất.
Quy trình quản trị rủi ro lãi suất là một qúa trình gắn với việc quản trị tài sản
nợ - tài sản có, và phải bao gồm các bước sau:
- Xác định rủi ro (Nhận dạng): là giai đoạn ngân hàng dự đoán sự biến động
của lãi suất và nhận biết chiều hướng ảnh hưởng của lãi suất đối với ngân hàng.
- Đo lường rủi ro (Đánh giá): sử dụng các mô hình để định lượng rủi ro lãi
suất. Các mô hình ngân hàng thường sử dụng: Mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình
đánh giá lại, mô hình thời lượng.
- Giám sát rủi ro lãi suất (Kiểm soát): gồm các chiến lược sau:
+ Né tránh/ Từ bỏ (Avoidance)/Elimination
+ Giảm thiểu (Reduction)
+ Ngăn ngừa (Prevention)
+ Chuyển giao (Transfer)
- Tài trợ rủi ro: việc chuẩn bị các nguồn tài chính để bù đắp khi rủi ro lãi
suất xảy ro.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương
mại.
- Nhân tố bên ngoài ngân hàng: Môi trường kinh tế vĩ mô, hành lang pháp lý
về vấn đề quản trị rủi ro lãi suất của NHNN. Địa bàn hoạt động của ngân hàng.
- Nhân tố bên trong Ngân hàng:
+ Trình độ của quản trị viên, nhân viên ngân hàng.

- Áp dụng các biện pháp cho vay thương mại (cho vay ngắn hạn) để ngân
hàng có thể linh động thay đổi lãi suất cho vay khi lãi suất thị trường thay đổi theo
chiều hướng tăng.
- Áp dụng chiến lược chủ động trong quản trị rủi ro lãi suất: Nếu ngân hàng
có thể dự báo được chiều hướng thay đổi lãi suất, ngân hàng có thể chủ động điều
chỉnh khe hở nhạy cảm lãi suất và khe hở kỳ hạn một cách hợp lý.
7

- Vận dụng các kỹ thuật bảo hiểm lãi suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng
tương lai, quyền chọn, Swap.
1.2.6 Ý nghĩa của việc hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là dùng uy tín để thu hút nguồn vốn và
dùng năng lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn và phát triển các dịch vụ khác
với tư cách là người đứng giữa các lực lượng cung cầu về các dịch vụ ngân hàng.
Lãi suất chính là giá cả đầu vào cũng như đầu ra trong hoạt động ngân hàng. Rủi ro
xảy ra do những biến động về lãi suất luôn luôn thường trực trong hầu hết những
hoạt kinh doanh của ngân hàng.
Như vậy, kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh tiềm
ẩn nhiều rủi ro và rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro cơ bản nhất của NHTM.
Có nhiều ý kiến cho rằng các ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên
mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng
đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi
ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi
ro.
* Hiệu qủa kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào năng lực quản trị rủi ro lãi
suất.
Trong điều kiện thị trường đầy biến động, khi lãi suất thị trường thay đổi có
thể dẫn đến những thiệt hại về tài sản cũng như ảnh hưởng đến thu nhập của ngân
hàng. Những ảnh hưởng của rủi ro lãi suất có thể dẫn đến thiếu vốn khả dụng và từ
đó có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nếu rủi ro

nghiệp vụ ngân hàng và bản thân ngân hàng Trung ương của các nước Bỉ, Canada,
Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ,
Anh và Mỹ.
Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế tại
Washington hoặc tại Thành Phố Basel - Thuỵ Sĩ. Ban thư ký thường trực của Ủy
ban này cũng có trụ sở làm việc tại Thủ Đô Washington – Mỹ.
Quan điểm của Ủy Ban này là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một
quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe doạ đến sự ổn định
9

về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó và trên toàn thế giới. Nhu cầu cần nâng cao
sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức
trên thế giới nói chung và Ủy ban Basel về Giám sát Nghiệp vụ ngân hàng nói riêng
đặc biệt quan tâm. Ủy ban Basel đã tham gia hoạt động trong nhiều năm qua cho
quan điểm và sứ mạng này, dưới cả hình thức trực tiếp cũng như gián tiếp thông
qua các mối liên hệ với chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng ở các quốc gia
khác nhau trên toàn cầu.
Ủy ban Basel thường xuyên tổ chức các cuộc thảo luận về những vấn đề
xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát
ngân hàng, nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn
thế giới. Để làm được điều này, Ủy ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và thực hiện
được 3 điều cơ bản: trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia, cải thiện
hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế và đặt ra những tiêu chuẩn
giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực mà Ủy ban thực sự quan tâm.
1.3.2. Hiệp ước Basel I
Hiệp ước Basle I được ra đời sau cuộc họp của Ủy ban Basel về giám sát
hoạt động ngân hàng vào tháng 7 năm 1988, trong đó đưa ra các chuẩn mực vốn
quốc tế và các phương pháp đo lường vốn.
Trong hiệp ước Basel I này, những khái niệm về vốn cơ bản (core capital –
basic equity), vốn bổ sung vốn cơ bản (supplementary capital) bao gồm dự trữ

quốc tế và các tiêu chuẩn về vốn tự có do Basle I đưa ra. Ngoài ra trong hiệp ước
còn quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý rủi ro tín dụng đối với ngân
hàng, là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn để các ngân hàng của các quốc gia trên
thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn trong hoạt động.
1.3.3. Hiệp ước Basel II (The New Capital Accord)
Mặc dù đã đưa ra được nhiều quy định chi tiết, có ý nghĩa cho công tác quản
trị rủi ro của các ngân hàng thương mại và rất nhiều chuẩn mực trong Basle I vẫn
còn được nhiều nước áp dụng cho đến ngày nay, nhưng qua một quá trình dài áp
dụng với xu thế phát triển như vũ bão của hệ thống ngân hàng trên thế giới thì Basle
I đã bộc lộ một số nhược điểm của mình. Chẳng hạn, trong quy định vốn tối thiểu
11

của mình, Basle I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến
những rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường. Ngoài ra, một số các quy
tắc do Basle I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng hoạt động
theo kiểu đơn thuần tuý (stand – alone bank) là ngân hàng không dựa trên một sự
sáp nhập hay hoạt động theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng –
chi nhánh Xu thế phát triển hiện nay là các ngân hàng dần dần sáp nhập với nhau
để tạo thành những tập đoàn lớn có khả năng cạnh tranh cao và có tiềm lực mạnh về
tài chính, công nghệ, các ngân hàng không còn chỉ hoạt động trọng phạm vi lãnh
thổ quốc gia mà luôn vươn ra tầm quốc tế, mở rộng mạng lưới ngân hàng dưới hình
thức hoạt động của ngân hàng quốc tế. Chính vì vậy, một số qui định trong Basle I
đã không còn phù hợp khi áp dụng tại những ngân hàng này, đòi hỏi phải có một sự
cải tiến toàn diện trong việc xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro và
giám sát hoạt động ngân hàng.
Trước đòi hỏi của xu hướng phát triển này, để bảo đảm an toàn trong hoạt
động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với những tập đoàn ngân
hàng lớn có phạm vi hoạt động quốc tế, Basel II đã ra đời. Đây là hiệp ước quốc tế
về tiêu chuẩn an toàn vốn, tăng cường quản trị toàn cầu hóa tài chính cũng như việc
khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Nó được xem là giải pháp

trong Basel 3, đồng thời tỷ lệ Vốn của cổ đông thường (common equity) cũng được
tăng từ 2% lên 4,5%. Bên cạnh đó, những tài sản “Có” với chất lượng vốn có vấn đề
cũng sẽ được loại trừ dần khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2, như các khoản đầu tư vượt
quá giới hạn 15% vào các tổ chức tài chính. Đặc biệt, Basel 3 yêu cầu áp dụng bổ
sung tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu thử nghiệm ở mức 3%. Đây là tỷ lệ của vốn cấp 1 so với
tổng tài sản có cộng với các khoản mục ngoại bảng. Việc áp dụng thử nghiệm tỷ lệ
này cho phép Ủy ban Basel theo dõi biến động tỷ lệ đòn bẩy thực của các ngân hàng
theo chu kỳ kinh tế và mối quan hệ giữa các yêu cầu về vốn với tỷ lệ đòn bẩy.
Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân
hàng áp dụng. Yếu tố quan trọng thứ 3 của quy định mới về vốn là phương pháp
giám sát an toàn vĩ mô đề cập tới rủi ro hệ thống. Theo BIS, có hai việc cần làm để
hạn chế rủi ro hệ thống hiệu quả. Thứ nhất là giảm mức độ khuyếch đại của khủng
13

hoảng theo chu kỳ kinh tế. Đó là xu hướng hệ thống tài chính có thể làm khuyếch
đại giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế thực. Việc thứ hai là mối quan hệ phụ
thuộc và những rủi ro chung của các tổ chức tài chính, đặc biệt đối với những ngân
hàng có vai trò quan trọng trong hệ thống. Như vậy, Basel 3 là một bước ngoặt
trong việc xây dựng các quy định tài chính. Lần đầu tiên trong các quy định tài
chính đề cập tới các thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung cho
phương pháp giám sát an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel đang
nghiên cứu các thước đo đối với những tổ chức có tầm quan trọng đối với hệ thống.
Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Basel 3
đưa ra tiêu chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọngchưa có tiêu
chuẩn quốc tế nào quy định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành vào
1/1/2015, giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng
thẳng thanh khoản. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính
thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những
trường hợp khó khăn. Thực tế, việc quản lý rủi ro thanh khoản rất khác nhau tại
từng quốc gia. Ủy ban Basel sẽ sử dụng nhiều quy trình báo cáo để theo dõi các tỷ

tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, cập nhật thông tin về khách hàng để
có thể biết được khả năng trả nợ của khách hàng nhằm dự báo được luồng tiền thu
vào từ nguồn khách hàng trả nợ.
Khai thác các dịch vụ ngân hàng khác làm tăng lợi nhuận từ các dịch vụ,
giảm áp lực tìm kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay, qua đó có thể hạn chế được nợ
quá hạn, đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng, góp phần kiểm soát tốt khe hở kỳ
hạn để tránh rủi ro lãi suất cũng là một trong những biện pháp được các ngân hàng
áp dụng.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng: Các ngân hàng có dịch vụ tốt và đa dạng sẽ
có lợi thế hơn các ngân hàng khác; Trụ sở kiên cố, phòng gửi tiền an toàn, tiện nghi
cũng tạo nên ưu thế cho ngân hàng; Đội ngũ nhân sự rất quan trọng trong việc phát
triển quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Với đội ngũ nhân viên được đào tạo
chuyên nghiệp, các khách hàng sẽ yên tâm hơn khi nhận được sự tư vấn của họ.
Điều đó làm hình ảnh của ngân hàng có ấn tượng sâu sắc trong lòng khách hàng.
15

Các chính sách của ngân hàng (chính sách tín dụng, chính sách đầu tư, chính
sách ngân quỹ,…) là một tiêu chuẩn đo lường quan trọng để đánh giá năng lực,
trình độ của các nhà quản lý ngân hàng. Một ngân hàng luôn đề ra những chính sách
đúng đắn sẽ được khách hàng tin tưởng khi giao dịch.
Ngân hàng là một tổ chức rất phức tạp, bao gồm nhiều phòng ban cung cấp
các loại dịch vụ tiền tệ đa dạng. Một ngân hàng được quản lý tốt, mọi quyết định
cần được phối hợp với nhau để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong hoạt động.
Trong đó, các danh mục TSC và TSN phải được nhìn nhận như một thể thống nhất
trong quá trình đánh giá ảnh hưởng của chúng tới mục tiêu được đề ra, để đảm
bảo khả năng sinh lời với mức độ rủi ro có thể chấp nhận. Quá trình ra quyết định
mang tính phối hợp và tổng hợp như vậy được gọi là phương pháp quản lý TSN và
TSC của ngân hàng. Quản lý tốt TSN và TSC sẽ giúp các Ngân hàng chống lại
những rủi ro do sự thay đổi lãi suất.
Mục đích của quản trị TSN và TSC là tạo lập và thực hiện các chiến lược

đối mặt.
Thu nhập và chi phí có thể phát sinh từ cả TSC và TSN. Do đó, chính sách
của ngân hàng cần được điều chỉnh phù hợp nhằm tối đa hóa thu nhập, tối thiểu hóa
chi phí trong mọi hoạt động của ngân hàng dù hoạt động đó xuất phát từ phía TSN
hay TSC.
1.4.1 Quản trị tài sản nợ.
1.4.1.1 Khái niệm.
Quản trị TSN là quản trị nguồn vốn phải trả cho ngân hàng nhằm đảm bảo
cho ngân hàng luôn có đủ nguồn vốn để duy trì và phát triển một cách hiệu quả hoạt
động kinh doanh của mình, đồng thời đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thanh khoản với
chi phí thấp nhất.
1.4.1.2 Các nguyên tắc.
Khi huy động vốn, các Ngân hàng cần phải chấp hành các quy định của luật
pháp và các cơ quan quản lý: Tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá nhiều
so với vốn tự có nhằm đảm bảo khả năng chi trả (Theo Pháp lệnh ngân hàng năm
1990, tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại phải nhỏ hơn hoặc bằng
17

20 lần vốn tự có), áp dụng lãi suất huy động phù hợp so với cơ chế quản lý về lãi
suất của ngân hàng Nhà nước,…
Ngoài ra các ngân hàng phải đảm bảo đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu
thanh khoản của ngân hàng, hạn chế đến mức tối đa sự sụt giảm đột ngột về nguồn
vốn của ngân hàng với chi phí thấp nhất. Đồng thời phải sử dụng các công cụ huy
động vốn đa dạng để hạn chế rủi ro và phù hợp với đặc điểm của ngân hàng.
1.4.1.3 Mục đích.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc quản trị TSN tốt sẽ giúp các
ngân hàng khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đảm bảo sự tăng trưởng
nguồn vốn ổn định, bền vững để nâng cao thị phần, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu
vốn cho khách hàng cả về số lượng, thời hạn và lãi suất. Nhưng vẫn phải đảm bảo
khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status