Luận văn Thạc sĩ Thị trường chứng khoán Việt Nam trong mối tương quan với các nhân tố kinh tế vĩ mô - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TRẦN TUẤN CƯỜNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG MỐI
TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP.HCM - Năm 2013BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM


Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự giúp
đỡ tận tình của người hướng dẫn khoa học là PGS. TS. Phan Thị Bích Nguyệt. Các
nội dung và kết quả trong nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào. Số liệu trong mô hình được chính tác giả thu thập,
xử lý và có ghi rõ nguồn gốc. Ngoài ra, trong luận văn còn có sử dụng một số trích
dẫn từ các nghiên cứu khác có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo và phần trích
dẫn. Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội
Đồng nhà trường. TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2013
Người cam đoan
Trần Tuấn Cường

LỜI CÁM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Phan Thị Bích
Nguyệt đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu
của mình.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã truyền đạt
cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt những năm học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học trường
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
của mình.


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Các biến nghiên cứu 24
3.2 Cơ sở dữ liệu 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 25
3.3.2 Kiểm định đồng liên kết 26
3.3.3 Kiểm định nhân quả Granger 27
3.3.4 Mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM và phương pháp phân tách phương
sai VDC 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 29
4.2 Kiểm định đồng liên kết 29
4.3 Kiểm định nhân quả Granger 31
4.4 Mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM và phương pháp phân tách phương
sai VDC 36
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
 ADF: Augmented Dickey Fuller – Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp
của Dickey và Fuller
 APT: Arbitrage Pricing Theory – Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá
 CPI: Consumer Price Index – Chỉ số giá tiêu dùng
 FX: Foreign Exchange – Tỷ giá hối đoái
 GDP: Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội
 IMF: International Monetary Fund – Quỹ tiền tệ Quốc tế
 LR: Lending rate – Lãi suất cho vay
 OLS: Ordinary Least Squares – Phương pháp bình phương bé nhất
 USD: United State Dollar – Đô la Mỹ
 VAR: Vector Auto Regression – Mô hình vector tự hồi quy
 VDC: Variance Decompositions – Phân tách phương sai

trường chứng khoán VN-Index, với các nhân tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh
tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay. Kết quả thu được từ phân tích quan
hệ nhân quả Granger, đồng liên kết Johansen cũng như mô hình VECM dài hạn và
phân tách phương sai đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng về sự tồn tại của
mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa thị trường chứng khoán với tăng trưởng
kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay cũng như cho thấy vai trò của
thị trường chứng khoán trong nền kinh tế.

2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Xuất hiện từ giữa thế kỷ 15 tại châu Âu với những hình thức sơ khai nhất, thị
trường chứng khoán trên thế giới đã trải qua đầy đủ những thăng trầm trong suốt
quá trình hình thành và phát triển của mình. Đó là những ngày tháng huy hoàng
cùng với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế trong giai đoạn giữa thập niên 70
đến giữa thập niên 80 của thế kỷ trước. Đó còn là những ngày tháng kinh hoàng
trong tháng 10/1929, ngày thứ hai đen tối 19/10/1987 hay cuộc khủng hoảng kinh tế
1997 tại thị trường châu Á. Tuy nhiên, cho đến tận ngày hôm nay, không ai có thể
phủ nhận được rằng thị trường chứng khoán đã và đang đóng vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế của các nước trên thế giới.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đã đưa đến kết luận về sự tồn
tại của mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô.
Atje và Jovanovic (1993) cũng như Levine và Zervos (1996) cho rằng phát triển tài
chính, đặc biệt là phát triển thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến mức độ và tốc
độ tăng trưởng của hoạt động kinh tế. Murherjee và Naka (1995) phát hiện giá
chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô có mối quan hệ cân bằng kinh tế trong
dài hạn. Chamberlin (1997), cho thấy các cổ phiếu ngân hàng Mỹ bị ảnh hưởng bởi
những thay đổi trong tỷ giá đồng đô la Mỹ. Feridun (2006) đã tìm ra bằng chứng về
mối quan hệ hai chiều giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế ở


1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sẽ giúp chúng ta trả lời được hai câu hỏi:
- Tồn tại hay không sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường
chứng khoán?
- Tồn tại hay không sự tác động trở lại của thị trường chứng khoán đối với các
nhân tố kinh tế vĩ mô?
4

1.4 Kết cấu đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời được các câu hỏi nghiên cứu, đề tài
hướng đến những nội dung sau:
- Chương 2 sẽ trình bày tổng quan kết quả của các nghiêu cứu trước đây về
mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô tại một số
nước.
- Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu và các biến dữ liệu được sử
dụng trong đề tài.
- Chương 4 sẽ đưa ra những phân tích về kết quả nghiên cứu.
- Chương 5 sẽ trình bày kết luận và những hạn chế.
5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô
2.1.1 Thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế
Nhiều năm qua, câu hỏi liệu phát triển thị trường chứng khoán đi trước tăng
trưởng kinh tế, hoặc ngược lại, đã được nghiên cứu thực nghiệm và ghi nhận trong
nhiều tài liệu kinh tế khác nhau. Hầu hết các nghiên cứu kết luận rằng sự phát triển

tạo ra một khuôn khổ thể chế cho hoạt động của thị trường chứng khoán trong đó
không có tham nhũng và kiểm soát quá mức của chính phủ.
Rousseau và Wachtel (2000) xem xét mối quan hệ giữa thị trường chứng
khoán, các ngân hàng và tăng trưởng bằng cách sử dụng phân tích các khoảng thời
gian ngắn để đánh giá tự tương quan cho một tập hợp số liệu hàng năm của 47 nước
từ 1980-1995. Kết quả cho thấy cả hai việc phát triển thị trường chứng khoán và
phát triển ngành ngân hàng đã giải thích cho tăng trưởng kinh tế.
Khan và Senhadji (2000), nghiên cứu trên 159 quốc gia, trong giai đoạn 1960-
1999, về mối quan hệ giữa độ sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế. Hệ số hồi quy
của các chỉ số độ sâu tài chính đại diện bởi vốn hóa thị trường chứng khoán là cùng
chiều và rất có ý nghĩa, cho thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa phát triển thị
trường chứng khoán và tăng trưởng.
Arestis và cộng sự (2001), trong khi sử dụng phương pháp chuỗi thời gian và
dữ liệu hàng quý từ năm quốc gia công nghiệp phát triển, thấy rằng thị trường
chứng khoán góp phần vào tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tuy nhiên, phát hiện của họ
cho thấy rằng hệ thống tài chính ngân hàng có tác động lớn hơn để thúc đẩy tăng
trưởng dài hạn hơn so với những nhân tố thị trường. Họ cũng thấy rằng sự đóng góp
của thị trường chứng khoán trong tăng trưởng kinh tế đã được phóng đại bởi các
nghiên cứu sử dụng hồi quy tăng trưởng xuyên quốc gia.
Minier (2002), dựa trên phân tích hồi quy và dữ liệu của Levine và Zervos
(1998), nghiên cứu xem sự tương quan một phần giữa tăng trưởng và phát triển tài
chính có khác nhau dựa trên mức độ phát triển tài chính và kinh tế quốc gia. Nghiên
cứu cho thấy có mối tương quan thuận giữa phát triển thị trường chứng khoán và
tăng trưởng kinh tế ở các nước có mức vốn hóa thị trường cao. Tuy nhiên, mối quan
7

hệ này không xuất hiện cho các nước có mức vốn hóa thị trường thấp. Phát hiện này
cũng được hỗ trợ bởi Rioja và Valev (2004), khi xem xét các tác động của phát triển
tài chính trên các nguồn tăng trưởng trong các nhóm khác nhau của các quốc gia.
Arestis và cộng sự (2005), phân tích vai trò tiềm năng của cấu trúc tài chính và

trong giai đoạn 1980-2004, sử dụng kiểm định giới hạn độ trễ phân phối tự hồi quy
và kiểm định nhân quả Granger trong bối cảnh của khuôn khổ VECM. Các kết quả
của nghiên cứu này cho thấy rằng sự phát triển thị trường chứng khoán có tác động
lâu dài cùng chiều đối với tăng trưởng. Kiểm định nhân quả Granger trong khuôn
khổ VECM tiếp tục cho thấy một mối quan hệ một chiều chạy từ phát triển thị
trường chứng khoán tới tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quan hệ nhân quả Granger
trong khuôn khổ VAR ngắn hạn cho thấy quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển
thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế cho Bờ Biển Ngà, Kenya, Ma-rốc và
Zimbabwe. Trong trường hợp của Nigeria, một chứng cứ yếu của quan hệ nhân quả
một chiều chạy từ tăng trưởng kinh tế để phát triển thị trường chứng khoán được
tìm thấy.
Zivengwa và cộng sự (2011) khám phá những quan hệ nhân quả giữa phát
triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế ở Zimbabwe trong giai đoạn
1980-2008. Sử dụng phân tích chuỗi thời gian, kết quả cho thấy một liên kết đơn
hướng nhân quả chạy từ phát triển thị trường chứng khoán tới tăng trưởng kinh tế.
Alajekwu, Udoka Bernard và Achubu, Austin A (2012) sử dụng dữ liệu trong
15 năm từ năm 1994 đến năm 2008 để nghiên cứu vai trò của phát triển thị trường
chứng khoán tới tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chu chuyển
có một tương quan rất mạnh với tăng trưởng kinh tế. Cũng thế, vốn hoá thị trường
chứng khoán cũng có mối tương quan chắn chắn với tỷ lệ chu chuyển chứng khoán.
Nghiên cứu này bao hàm thanh khoản có khuynh hướng kích thích tăng trưởng kinh
tế ở Nigeria và vốn hoá thị trường ảnh hưởng tới thanh khoản thị trường.
Kolapo và Adaramola (2012), nghiên cứu tác động của thị trường vốn
Nigerian tới tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ 1990 – 2010, tác giả cho thấy thị
trường vốn Nigeria và tăng trưởng kinh tế có mối liên kết trong dài hạn thông qua
9

kiểm định đồng liên kết. Kiểm định nhân quả Granger cho thấy mối quan hệ hai
chiều giữa GDP và giá trị giao dịch và quan hệ một chiều từ vốn hoá thị trường tới
GDP.

và lạm phát tại Mỹ và 10 quốc gia châu Á Thái Bình Dương cho giai đoạn 1990-
1997. Sự tương tác của các rối loạn sản lượng thực tế và tiền tệ xuất hiện để giải
thích mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và lạm phát ở ít nhất chín quốc gia.
Ở những nước này, các rối loạn sản lượng thực tế dẫn đến tương quan nghịch giữa
lợi nhuận chứng khoán và lạm phát, trong khi rối loạn tiền tệ mang lại quan hệ cùng
chiều trong mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và lạm phát. Tuy nhiên,
Indonesia và Malaysia không đi theo mô hình nêu trên. Ở Malaysia, cả hai thành
phần thực và tiền tệ mang lại một mối quan hệ cùng chiều giữa lợi nhuận cổ phiếu
và lạm phát. Tại Indonesia, cả hai thành phần thực và tiền tệ mang lại một mối quan
hệ ngược chiều giữa lợi nhuận cổ phiếu và lạm phát.
Ioannides, Katrakilidis và Ho (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa lợi nhuận
thị trường chứng khoán và tỷ lệ lạm phát cho Hy Lạp trong giai đoạn 1985-2000.
Nghiên cứu này đã cố gắng để phân tích nhằm xem xét thị trường chứng khoán Hy
Lạp có phải là một nơi an toàn cho các nhà đầu tư. Bằng chứng thực nghiệm phân
loại các mối quan hệ thành ba loại. Trước tiên, có mối quan hệ cùng chiều giữa lợi
nhuận thị trường chứng khoán và lạm phát, phù hợp với giả thuyết Fisher. Các tác
giả sử dụng kỹ thuật kiểm định đồng liên kết, kiểm định giới hạn độ trễ phân phối
tự hồi quy kết hợp với kiểm định nhân quả Granger để kiểm tra tác động dài hạn và
ngắn hạn giữa các biến có liên quan cũng như chiều của những hiệu ứng này. Có
một mối quan hệ ngược chiều từ lạm phát đến thị trường chứng khoán trong giai
đoạn đầu tiên. Kết quả này phù hợp với Fama (1981). Trong giai đoạn thứ hai, đã có
một quan hệ nhân quả chạy từ lợi nhuận thị trường chứng khoán đến lạm phát. Bằng
chứng cũng cho thấy quan hệ nhân quả chạy từ lạm phát trở lại thị trường chứng
khoán trong giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ hai cho thấy mối quan hệ hỗn hợp phù
hợp với kết quả nghiên cứu của Spyrou (2001).
11

Al-Khazali (2003) đã nghiên cứu giả thuyết Fisher tổng quát cho chín thị
trường chứng khoán ở các nước Châu Á: Australia, Hồng Kông, Indonesia, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Thái Lan. Kết quả thu được nói

lạm phát trước đó đã được tìm thấy đã tác động ít hơn so với trung bình của ba
tháng tỷ lệ lạm phát trên cổ phiếu trả về biến động trong hai thị trường. Những kết
quả này, do đó, sẽ có ích cho các nhà đầu tư và các nhà vận hành thị trường ở hai
nước trong việc đưa ra tốt quyết định danh mục đầu tư trước biến động trong thị
trường chứng khoán. Các nhà hoạch định chính sách cũng có thể đưa ra các biện
pháp để kiểm soát lạm phát do tác động bất lợi của nó trên thị trường chứng khoán
ở hai nước.
Francis và Tewari (2011) xem xét liệu giả thuyết Fisher tổng quát, trong đó
nói rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa lợi nhuận thị trường chứng khoán và
tỷ lệ lạm phát có tồn tại ở Ghana trong giai đoạn của 1998-2007 hay không. Kết quả
thực nghiệm cho thấy mức độ lạm phát có mối quan hệ ngược chiều cả ngắn hạn và
lâu dài với lợi nhuận cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng thị trường chứng khoán
Ghana không hoàn toàn đóng vai trò như một hàng rào chống lại lạm phát như vậy,
nếu nhà nước muốn thu hút vốn danh mục đầu tư hơn vào nước này, nhiều sự chú ý
phải được tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là các yếu tố có tác động trực
tiếp đến lạm phát.
Katrakilidis, Lake và Trachanas (2012) phân tích tác động của các cú sốc lạm
phát trên thị trường chứng khoán Hy Lạp. Các tác giả đã phát hiện một mối quan hệ
cùng chiều trong dài hạn giữa cổ phiếu và lạm phát. Chính sách tiền tệ nới lỏng làm
tăng cả hai thị trường chứng khoán và lạm phát (Thorbecke, 1997; Bordo và
Wheelock, 2004). Những tác động không đối xứng trong thời gian dài, tiếp tục cho
thấy sự can thiệp chống lạm phát gây ra một tác động nhỏ hơn về lợi nhuận thị
trường chứng khoán hơn lạm phát. Các nhà đầu tư sử dụng thị trường chứng khoán
như một hàng rào chống lại lạm phát. Tỷ lệ lạm phát giảm làm điều chỉnh danh mục
đầu tư và do đó chúng ta sẽ thấy được tác động ngược chiều lên chỉ số thị trường
chứng khoán. Cộng đồng đầu tư ước tính độ lớn của áp lực lạm phát và tiền thu
được để mua chứng khoán để có được bảo vệ chống lại sự mất giá trị của tài sản của
13

họ. Chính sách thắt chặt tiền tệ, được sử dụng như một công cụ chống lạm phát, ảnh

giá chứng khoán điều chỉnh một cách nhanh chóng với những thay đổi trong tỷ giá
hối đoái . Aggarwal (1981) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa USD và giá chứng
khoán Mỹ trong thời gian năm năm (1974-1978), và kết luận rằng USD và giá
chứng khoán Mỹ có tương quan cùng chiều.
Smith (1992), sử dụng các mô hình khác nhau để điều tra các mối quan hệ
nhân quả giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái, và kết luận rằng giá trị của các cổ
phiếu có ảnh hưởng đáng kể đối với tỷ giá hối đoái.
Libly (1993) sử dụng ba phương pháp khác nhau để lựa chọn kiểm định cho
các quan hệ nhân quả. Nghiên cứu cho thấy rằng có quan hệ nhân quả một chiều
trong đó giá cổ phiếu tác động đến tỷ giá, nhưng không có mối quan hệ nhân quả
ngược lại.
Sử dụng dữ liệu hàng ngày trong giai đoạn 1985-1991 trong tám nền kinh tế
tiên tiến, Ajayi và Mougoue (1996), cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động đáng kể rất mạnh với giá cổ phiếu của các nền kinh tế này.
Yu, Q (1997), sử dụng dữ liệu hàng ngày từ ba thị trường khác nhau (Hồng
Kông, Tokyo và Singapore) cho giai đoạn (1983-1994) và tìm thấy một quan hệ
nhân quả một chiều từ tỷ giá đến giá cổ phiếu Singapore, và quan hệ nhân quả hai
chiều cho thị trường Tokyo.
Abdalla và Murinde (1997), sử dụng phương pháp tiếp cận đồng tích hợp để
kiểm tra bất kỳ mối quan hệ nhân quả trong tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu trong
bốn thị trường châu Á Pakistan, Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines. Ở Pakistan và
Hàn Quốc, họ đã không tìm thấy bất kỳ quan hệ nhân quả nào, nhưng họ phát hiện
quan hệ nhân quả một chiều từ tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ở Ấn Độ và ngược
lại ở Philippines.
Chamberlin (1997), cho thấy các cổ phiếu ngân hàng Mỹ bị ảnh hưởng bởi
những thay đổi trong tỷ giá đồng đô la Mỹ. Pan, Fok và Lui (1999), báo cáo kết quả
thực nghiệm tương tự mà tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động vào giá cổ phiếu.
Sử dụng dữ liệu từ các nước phát triển và đang phát triển Moradoglu, Taskin
và Bigen (2001), phát hiện mối quan hệ nhân quả một chiều từ tỷ giá hối đoái đối
15

16

cho hai biến, chứng tỏ quan hệ nhân quả một chiều chạy từ lợi nhuận cổ phiếu đến
tỷ giá ngoại tệ, có nghĩa là, sự gia tăng lợi nhuận của thị trường chứng khoán Ấn Độ
gây ra một sự suy giảm trong tỷ giá hối đoái.

2.1.4 Thị trường chứng khoán và lãi suất
Lãi suất đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu chống lại lạm phát
hay sự nóng lên quá mức của nền kinh tế. Một tỷ lệ thấp hơn trong lãi suất sẽ làm
giảm chi phí vay cho ngành công nghiệp, có thể làm tăng động lực cho các chủ
doanh nghiệp để mở rộng kinh doanh của họ. Mặt khác, khi tăng lạm phát, ngân
hàng trung ương của hầu hết các nước sẽ tăng lãi suất cơ bản để hạ nhiệt nền kinh tế
của họ.
Theo Murherjee và Naka (1995), giá chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ
mô có mối quan hệ cân bằng kinh tế trong dài hạn. Lãi suất là một trong những
nhân tố có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Điều này được chứng minh bởi các nghiên
cứu khác nhau như nghiên cứu tại Singapore của Maysami và Koh (2000), cũng như
nghiên cứu tại 29 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latin, châu Mỹ, châu Phi và
Trung Đông của Adjasi và Biekpe (2006) và Eita (2011).
Các phương pháp kinh tế lượng được thực hiện bởi Eita (2011) cho thấy, giá
cả thị trường chứng khoán Namibia bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Kết quả bằng cách sử
dụng tỷ lệ chiết khấu như biến đại diện của lãi suất cho thấy, lãi suất và giá cổ phiếu
có mối quan hệ ngược chiều. Tác giả giải thích rằng trong chính sách tiền tệ, nếu
Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thông qua việc giảm
lãi suất, thanh khoản thị trường sẽ tăng lên, tiền sẽ chảy vào thị trường. Bên cạnh
đó, dòng tiền sẽ được tăng lên sau khi được chiết khấu về giá trị hiện tại. Kết quả là,
đầu tư trở nên hấp dẫn hơn và tăng giá cổ phiếu.
Menike (2006) đã kiểm tra những tác động của lãi suất trên giá cổ phiếu ở thị
trường chứng khoán Sri Lanka. Tác giả đã sử dụng dữ liệu hàng tháng từ tháng
9/1991 đến tháng 12/2001 và lãi suất tín phiếu kho bạc như biến đại diện của lãi

bằng không trong năm 1999 và chính sách nới lỏng định lượng tiền tệ trong năm
2001.

Trích đoạn Abdelbaki (2013) Mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và Các biến nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status