BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TRẦN TUẤN CƯỜNG
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG MỐI
TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP.HCM - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TRẦN TUẤN CƯỜNG
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG MỐI
TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
của mình.
MỤC LỤC
TÓM TẮT......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU................................................................................................ 2
1.1 Lý do lựa chọn đề tài .................................................................................... 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................... 3
1.4 Kết cấu đề tài ................................................................................................ 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .................. 5
2.1 Mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô... 5
2.1.1
Thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế ............................................. 5
2.1.2
Thị trường chứng khoán và lạm phát ............................................................. 9
2.1.3
Thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái .................................................. 13
2.1.4
3.3.1
Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu ........................................................ 25
3.3.2
Kiểm định đồng liên kết .............................................................................. 26
3.3.3
Kiểm định nhân quả Granger ...................................................................... 27
3.3.4
Mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM và phương pháp phân tách phương
sai VDC ................................................................................................................... 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 29
4.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu ....................................................... 29
4.2 Kiểm định đồng liên kết .............................................................................. 29
4.3 Kiểm định nhân quả Granger ...................................................................... 31
4.4 Mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM và phương pháp phân tách phương
sai VDC ............................................................................................................. 36
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ............................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 48
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 4.12: Kết quả mô hình VECM với CPI là biến phụ thuộc ............................. 40
Bảng 4.13: Kết quả phân tách phương sai với CPI là biến phụ thuộc ..................... 41
Bảng 4.14: Kết quả mô hình VECM với FX là biến phụ thuộc .............................. 42
Bảng 4.15: Kết quả phân tách phương sai với FX là biến phụ thuộc ...................... 43
Bảng 4.16: Kết quả mô hình VECM với LR là biến phụ thuộc .............................. 44
Bảng 4.17: Kết quả phân tách phương sai với LR là biến phụ thuộc ...................... 45
1
TÓM TẮT
Từ nhiều năm nay, mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và các nhân
tố kinh tế vĩ mô vẫn luôn là một đề tại thu hút được sự chú ý và nghiên cứu của
nhiều tác giả. Thông qua việc phân tích dữ liệu theo quý từ quý ba năm 2000 đến
hết quý bốn năm 2012 tại Việt Nam, bài nghiên cứu này hướng đến việc xác định sự
tồn tại của mối tương quan giữa thị trường chứng khoán, mà đại diện là chỉ số thị
trường chứng khoán VN-Index, với các nhân tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh
tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay. Kết quả thu được từ phân tích quan
hệ nhân quả Granger, đồng liên kết Johansen cũng như mô hình VECM dài hạn và
phân tách phương sai đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng về sự tồn tại của
mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa thị trường chứng khoán với tăng trưởng
kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay cũng như cho thấy vai trò của
thị trường chứng khoán trong nền kinh tế.
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Xuất hiện từ giữa thế kỷ 15 tại châu Âu với những hình thức sơ khai nhất, thị
những ý kiến về sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến sự sụt giảm của thị
trường chứng khoán, đồng thời cũng có những quan điểm cho rằng chính sự phát
triển không bền vững của thị trường chứng khoán đã dẫn tới tình hình kinh tế bất ổn
như hiện nay. Việc hiểu rõ mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và các
nhân tố kinh tế vĩ mô lúc này là một yêu cầu tất yếu để có thể giúp cho thị trường
chứng khoán phát triển bền vững, phát huy được vai trò của thị trường chứng khoán
trong nền kinh tế. Tuy nhiên tại Việt Nam vẫn chưa có những nghiên cứu và những
số liệu phân tích cụ thể để chứng minh sự chính xác của các quan điểm này. Chính
vì vậy mà tác giả lựa chọn đề tài “Thị trường chứng khoán Việt Nam trong mối
tương quan với các nhân tố kinh tế vĩ mô” để nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích mối tương quan giữa thị trường
chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Từ đó hỗ trợ cho các nhà
hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, phù
hợp để không chỉ ổn định kinh tế mà còn hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của thị
trường chứng khoán. Có như vậy thì thị trường chứng khoán mới phát huy được vai
trò kênh huy động vốn hiệu quả của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng
và ổn định của nền kinh tế.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sẽ giúp chúng ta trả lời được hai câu hỏi:
- Tồn tại hay không sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường
chứng khoán?
- Tồn tại hay không sự tác động trở lại của thị trường chứng khoán đối với các
nhân tố kinh tế vĩ mô?
chứng khoán trên GDP cho 40 quốc gia.
Để đánh giá liệu thị trường chứng khoán chỉ đơn thuần là đang phát triển sòng
bạc, hay thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng liên quan đến tăng trưởng
kinh tế, Levine và Zervos (1996) sử dụng hồi quy chuỗi thời gian để đánh giá mối
quan hệ giữa phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế. Sử dụng dữ
liệu trên 41 quốc gia trong giai đoạn 1976-1993, họ nhận thấy rằng sự phát triển thị
trường chứng khoán có tương quan cùng chiều với tăng trưởng kinh tế. Kết quả
nghiên cứu cho thấy thị trường chứng khoán có thể thúc đẩy tăng trưởng thông qua
thanh khoản, làm giảm rủi ro đầu tư và cho phép các công ty được tiếp cận thường
xuyên với nguồn vốn.
Filer và cộng sự (1999) nghiên cứu xem liệu phát triển tài chính gây ra sự tăng
trưởng kinh tế, hay đó là một hệ quả của hoạt động kinh tế gia tăng - dựa trên dữ
liệu từ 64 quốc gia trong giai đoạn 1985-1997. Kết quả kiểm định nhân quả Granger
chứng minh rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển thị trường chứng
khoán và tăng trưởng kinh tế trong tương lai cho các nước thu nhập trung bình và
thấp, nhưng điều này không được tìm thấy ở các nước thu nhập cao với sự phát triển
của nhiều cơ chế tài chính thay thế. Họ cũng thấy rằng không có tác động của việc
6
gia tăng hoạt động trên thị trường chứng khoán tới tăng trưởng kinh tế ở các nước
đang phát triển, nơi thiếu các khuôn khổ thể chế thích hợp cản trở khả năng của các
thị trường này hoạt động. Vì vậy, để có một tác động lớn trong việc tăng tốc độ tăng
trưởng dài hạn, họ đề nghị rằng chính sách công cộng và viện trợ quốc tế nên hướng
trực tiếp đến việc giới thiệu, bồi dưỡng thị trường chứng khoán, đồng thời cũng cần
tạo ra một khuôn khổ thể chế cho hoạt động của thị trường chứng khoán trong đó
không có tham nhũng và kiểm soát quá mức của chính phủ.
Rousseau và Wachtel (2000) xem xét mối quan hệ giữa thị trường chứng
khoán, các ngân hàng và tăng trưởng bằng cách sử dụng phân tích các khoảng thời
việc giải thích tăng trưởng kinh tế.
Adjasi và Biekpe (2006) nghiên cứu tác động của sự phát triển thị trường
chứng khoán tăng trưởng kinh tế tại 14 quốc gia châu Phi, sử dụng phân tích dữ liệu
bảng năng động. Phát hiện của họ có ba điểm. Thứ nhất, kết quả của họ cho thấy
một mối quan hệ cùng chiều giữa phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng
kinh tế của nhóm các nước châu Phi. Thứ hai, thị trường chứng khoán chỉ đóng một
vai trò cùng chiều trong sự phát triển của giữa các nước châu Phi có thu nhập cao.
Cuối cùng, căn cứ trên cơ sở vốn hóa thị trường, phát triển thị trường chứng khoán
đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng chỉ đúng cho thị trường có mức
vốn hóa nhất định. Kết quả cho thấy các nước châu Phi có thu nhập thấp và thị
trường chứng khoán kém phát triển cần phải phát triển hơn và phát triển thị trường
của họ - để nhận ra lợi ích kinh tế từ thị trường chứng khoán.
Feridun (2006) phân tích mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán, lãi suất
trái phiếu và tăng trưởng kinh tế ở Canada và Mỹ đã phát hiện thị trường chứng
khoán góp phần làm tăng trưởng kinh tế thông qua các chức năng riêng có của mình
phản ánh một cách trực tiếp và gián tiếp như huy động vốn nhàn rỗi, tạo ra tính
thanh khoản cho các khoản vốn đầu tư, đa dạng hóa rủi ro, cải thiện việc cung cấp
thông tin và tạo động cơ cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn so với các
hình thức huy động vốn truyền thống khác. Với một thị trường vốn linh hoạt, thông
suốt, rủi ro liên quan đến đầu tư có xu hướng giảm, góp phần thu hút các nhà đầu tư
làm gia tăng triển vọng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đặc biệt mối quan hệ hai
8
chiều giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế đã được tìm thấy ở
Canada.
Akinlo, A. E. và Akinlo, O. O (2009) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa
phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế cho bảy quốc gia châu Phi
trong giai đoạn 1980-2004, sử dụng kiểm định giới hạn độ trễ phân phối tự hồi quy
GDP.
Ho và Odhiambo (2012) đã xem xét các mối quan hệ nhân quả giữa phát triển
thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế ở Hồng Kông - sử dụng dữ liệu chuỗi
thời gian hàng năm từ 1980-2010. Nghiên cứu sử dụng ba chỉ số để đo lường sự
phát triển của thị trường chứng khoán, cụ thể là: giá trị vốn hóa, giá trị giao dịch và
doanh thu thị trường chứng khoán, tất cả đều được thể hiện dưới dạng một tỷ lệ của
GDP. Các tác giả đã sử dụng kiểm định giới hạn độ trễ phân phối tự hồi quy để
kiểm tra mối liên kết này. Kết quả thực nghiệm cho thấy quan hệ nhân quả giữa
phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chỉ số sử
dụng để đo mức độ phát triển thị trường chứng khoán. Khi vốn hóa thị trường
chứng khoán được sử dụng như chỉ số để phát triển thị trường chứng khoán, tương
quan một chiều từ sự phát triển thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế
được tìm thấy. Điều này áp dụng không phân biệt là quan hệ nhân quả được kiểm
tra trong thời gian ngắn hoặc trong thời gian dài. Tuy nhiên, khi doanh thu thị
trường chứng khoán được sử dụng, tương quan từ tăng trưởng kinh tế để phát triển
thị trường chứng khoán lại được tìm thấy chiếm ưu thế trong ngắn hạn và trong dài
hạn, trong khi một tương quan từ sự phát triển thị trường chứng khoán dẫn đến tăng
trưởng kinh tế chỉ được tìm thấy trong các kiểm định ngắn hạn. Các quan hệ nhân
quả giữa giá trị giao dịch và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, không mang lại bất kỳ
mối quan hệ nhân quả lâu dài từ hai hướng. Chỉ có quan hệ nhân quả ngắn hạn từ
tăng trưởng kinh tế đến giá trị giao dịch được phát hiện trong trường hợp này.
2.1.2 Thị trường chứng khoán và lạm phát
Mối quan hệ giữa lạm phát và thị trường chứng khoán đã được kiểm tra rộng
rãi trong các tài liệu. Bằng chứng thực nghiệm là khá hỗn hợp và có thể được phân
thành ba loại. Một số nghiên cứu hỗ trợ sự tồn tại của một mối quan hệ cùng chiều
10
Al-Khazali (2003) đã nghiên cứu giả thuyết Fisher tổng quát cho chín thị
trường chứng khoán ở các nước Châu Á: Australia, Hồng Kông, Indonesia, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Thái Lan. Kết quả thu được nói
rằng thực tế lợi nhuận trên cổ phiếu phổ thông và tỷ lệ lạm phát dự kiến là độc lập.
Lạm phát không xuất hiện để giải thích sự thay đổi trong lợi nhuận chứng khoán, lợi
nhuận cổ phiếu cũng không giải thích sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng. Các quá
trình ngẫu nhiên của lợi nhuận cổ phiếu danh nghĩa không bị ảnh hưởng bởi lạm
phát kỳ vọng. Nghiên cứu không tìm thấy hoặc là một phản ứng ngược chiều nhất
quán của lợi nhuận chứng khoán với những cú sốc về lạm phát và phản ứng ngược
chiều của lạm phát phù hợp với những cú sốc trong lợi nhuận cổ phiếu trong tất cả
các nước. Giả thuyết Fisher tổng quát đã bị từ chối trong tất cả các nước.
Saryal (2007) nghiên cứu tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán ở
Thổ Nhĩ Kỳ và Canada. Ông đã kiểm tra hai câu hỏi. Đầu tiên, làm thế nào lạm phát
tạo ra những biến động trên thị trường chứng khoán, được ước tính bằng cách sử
dụng lợi nhuận chứng khoán danh nghĩa. Thứ hai, mối quan hệ có khác nhau giữa
các quốc gia với mức độ khác nhau của lạm phát hay không. Các dữ liệu Canada và
Thổ Nhĩ Kỳ đã được chọn để so sánh trên cơ sở mức độ lạm phát của họ. Lý do của
các quốc gia được lựa chọn bởi vì Thổ Nhĩ Kỳ là một đất nước thị trường mới nổi
với tỷ lệ lạm phát cao và Canada là một quốc gia phát triển với tỷ lệ lạm phát thấp.
Kết quả cho thấy khi tỷ lệ lạm phát cao hơn, lợi nhuận cổ phiếu danh nghĩa cao hơn
phù hợp với hiệu ứng Fisher. Kết quả cho thấy tỷ lệ lạm phát là một trong những
yếu tố quyết định cơ bản của điều kiện biến động thị trường chứng khoán đặc biệt là
ở một đất nước lạm phát cao như Thổ Nhĩ Kỳ. Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát đã
có tác động mạnh mẽ trong dự báo biến động thị trường chứng khoán ở Thổ Nhĩ Kỳ
hơn ở Canada.
Aliyu (2010) đã ước tính một mô hình GARCH phi tuyến cho biến động lợi
nhuận chứng khoán hàng tháng và lạm phát trong hai nước Tây Phi là Nigeria và
Ghana. Ảnh hưởng bất đối xứng của lạm phát và biến động lợi nhuận cổ phiếu đã
được điều tra sử dụng cả tỷ lệ lạm phát và mức trung bình của ba tháng tỷ lệ lạm
đầu tư và do đó chúng ta sẽ thấy được tác động ngược chiều lên chỉ số thị trường
chứng khoán. Cộng đồng đầu tư ước tính độ lớn của áp lực lạm phát và tiền thu
được để mua chứng khoán để có được bảo vệ chống lại sự mất giá trị của tài sản của
13
họ. Chính sách thắt chặt tiền tệ, được sử dụng như một công cụ chống lạm phát, ảnh
hưởng ngược chiều đến lợi nhuận thị trường chứng khoán (Conover, 1999; Durham,
2001). Lý do là, cho những lợi ích của đa dạng hóa quốc tế, các nhà quản lý danh
mục đầu tư hoạt động nên bán cổ phiếu trong nước mà ngân hàng trung ương thắt
chặt chính sách tiền tệ của mình.
2.1.3 Thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái
Cùng với tăng trưởng kinh tế, lạm phát, mối tương quan giữa thị trường chứng
khoán và tỷ giá hối đoái cũng là một đề tài dành được nhiều sự quan tâm và cũng đã
có không ít những nghiên cứu về vấn đề này với những kết quả đáng được lưu tâm.
Frank và Young (1972) được coi là những người tiên phong nghiên cứu mối
quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu. Nghiên cứu của họ đã kết thúc với
những kết quả mà hai biến không có liên quan đáng kể nhưng đó chính là bước gợi
mở cho sự phát triển của nhiều nghiên cứu sau này.
Jorion (1990, 1991), Bodnar và Gentry (1993), và Bartov và Bodnar (1994) hỗ
trợ tất cả các kết quả thực nghiệm của Frank và Young (1972).
Naeem và Rasheed (2002) nghiên cứu các mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và tỷ
giá hối đoái cho bốn quốc gia nam châu Á trong giai đoạn từ 1994-2000 sử dụng dữ
liệu hàng tháng. Họ kết luận rằng không có mối quan hệ ngắn hạn và lâu dài giữa
giá cổ phiếu và tỷ giá ở Pakistan và Ấn Độ. Không có mối quan hệ ngắn hạn cũng
đã được tìm thấy cho Bangladesh và Sri Lanka, tuy nhiên, mối quan hệ dài hạn giữa
giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái tồn tại ở hai quốc gia này. Một nghiên cứu khác được
tiến hành bởi Lutfur Rahman và Jashim (2009) đã nghiên cứu mối quan hệ giá cổ
bốn thị trường châu Á Pakistan, Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines. Ở Pakistan và
Hàn Quốc, họ đã không tìm thấy bất kỳ quan hệ nhân quả nào, nhưng họ phát hiện
quan hệ nhân quả một chiều từ tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ở Ấn Độ và ngược
lại ở Philippines.
Chamberlin (1997), cho thấy các cổ phiếu ngân hàng Mỹ bị ảnh hưởng bởi
những thay đổi trong tỷ giá đồng đô la Mỹ. Pan, Fok và Lui (1999), báo cáo kết quả
thực nghiệm tương tự mà tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động vào giá cổ phiếu.
Sử dụng dữ liệu từ các nước phát triển và đang phát triển Moradoglu, Taskin
và Bigen (2001), phát hiện mối quan hệ nhân quả một chiều từ tỷ giá hối đoái đối
15
với lợi nhuận cổ phiếu. Duy nhất họ tìm thấy quan hệ nhân quả hai chiều giữa các
biến ở Mexico.
Granger, Huang và Yang (2000) đã tiến hành một nghiên cứu chi tiết về thị
trường Philippines và Hàn Quốc và kết luận rằng ở Philippines quan hệ nhân quả
một chiều tồn tại giữa thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái, và chiều của quan
hệ nhân quả là từ thị trường chứng khoán đến tỷ giá hối đoái.
Mansoor (2000) không tìm thấy có mối quan hệ lâu dài giữa giá cổ phiếu và tỷ
giá hối đoái, nhưng tìm thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ giá cổ phiếu với tỷ
giá hối đoái trong ngắn hạn.
Sheng và Shuh (2004) đã nghiên cứu biến động lan toả giữa thị trường chứng
khoán và thị trường ngoại hối trong khoảng thời gian tháng 5 năm 1979 đến tháng
Giêng năm 1999, và kết luận rằng biến động thị trường chứng khoán ảnh hưởng
đáng kể tới biến động của thị trường ngoại hối.
Erbaykal và Okuyan (2007) đã nghiên cứu 13 nước đang phát triển và nhận
thấy quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và tỷ giá tồn tại trong tám nước và quan hệ
nhân quả hai chiều được tìm thấy trong ba quốc gia.
Sevuktekin và Nargelecekenler (2007), phát hiện quan hệ nhân quả cùng chiều
nghiên cứu tại 29 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latin, châu Mỹ, châu Phi và
Trung Đông của Adjasi và Biekpe (2006) và Eita (2011).
Các phương pháp kinh tế lượng được thực hiện bởi Eita (2011) cho thấy, giá
cả thị trường chứng khoán Namibia bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Kết quả bằng cách sử
dụng tỷ lệ chiết khấu như biến đại diện của lãi suất cho thấy, lãi suất và giá cổ phiếu
có mối quan hệ ngược chiều. Tác giả giải thích rằng trong chính sách tiền tệ, nếu
Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thông qua việc giảm
lãi suất, thanh khoản thị trường sẽ tăng lên, tiền sẽ chảy vào thị trường. Bên cạnh
đó, dòng tiền sẽ được tăng lên sau khi được chiết khấu về giá trị hiện tại. Kết quả là,
đầu tư trở nên hấp dẫn hơn và tăng giá cổ phiếu.
Menike (2006) đã kiểm tra những tác động của lãi suất trên giá cổ phiếu ở thị
trường chứng khoán Sri Lanka. Tác giả đã sử dụng dữ liệu hàng tháng từ tháng
9/1991 đến tháng 12/2001 và lãi suất tín phiếu kho bạc như biến đại diện của lãi
suất trong khi chọn chỉ số thị trường chứng khoán Colombo như biến đại diện của
17
giá cổ phiếu. Hồi quy đa biến cho thấy có sự tác động ngược chiều của lãi suất tín
phiếu kho bạc trên giá cổ phiếu trong thị trường chứng khoán Colombo. Tác giả giải
thích rằng bất cứ khi nào lãi suất tín phiếu kho bạc tăng, nhà đầu tư sẽ chuyển từ thị
trường chứng khoán để mua trái phiếu, khiến giá cổ phiếu giảm.
Điều này được hỗ trợ bởi Sohail và Hussain (2011), những người đã nghiên
cứu mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu ở Pakistan bằng cách sử dụng phương
pháp kiểm định đồng liên kết Johansen. Nghiên cứu của họ tiến hành bằng cách sử
dụng lãi suất tín phiếu kho bạc kỳ hạn ba tháng như biến đại diện cho lãi suất và dao
động trong khoảng từ tháng 10/1991 đến tháng 6/2008. Kết quả cho thấy lãi suất tín
phiếu kho bạc kỳ hạn ba tháng đã có một tác động lâu dài có ý nghĩa ngược chiều
đến giá cổ phiếu ở Pakistan.
Mashayekh và cộng sự (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất và giá