Luận văn Thạc sĩ Một số yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may mặc hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Dương - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THIỆN THẢO NGUYÊN MỘT SỐ YẾU TỐ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC HÀNG
XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THIỆN THẢO NGUYÊN MỘT SỐ YẾU TỐ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Một số khái niệm: 6
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh: 6
1.1.2 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh: 8
1.1.3 Khái niệm về khả năng hay năng lực cạnh tranh: 8
1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: 10
1.3 Một số quan điểm về chiến lược cạnh tranh: 10
1.4 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: 13
1.4.1 Mô hình hình thoi của Michael Porter: 13
1.4.2 Chuỗi giá trị: 19
1.4.3 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may
mặc xuất khẩu tỉnh Bình Dương: 20
Tóm tắt chương 1 24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NGÀNH MAY TỈNH BÌNH DƢƠNG 25
2.1 Thực trạng ngành may mặc tỉnh Bình Dương: 25
2.1.1 Về đầu tư: 25
2.1.2 Về lao động: 26
2.1.3 Máy móc thiết bị: 30
2.1.4 Ngành công nghiệp hỗ trợ: 31
2.1.5 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: 32
2.1.6 Thị trường tiêu thụ: 33
2.1.7 Tác động của các chính sách: 36
2.1.8 Vai trò của Hiệp hội dệt may tỉnh Bình Dương: 37
2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may mặc gia công xuất
khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Dương: 38
Tóm tắt chương 2 42
Chƣơng 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Quy trình nghiên cứu: 43
3.2 Nghiên cứu định tính: 45

4.2.2.4 Kiểm tra giả định phần dư có phân phối chuẩn: 67
4.2.2.5 Kiểm tra giả định không có tương quan giữa các phần dư: 67
4.2.3 Phân tích kết quả hồi quy tuyến tính bội: 68
4.2.3.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình: 68
4.2.3.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình: 68
4.2.3.3 Phương trình hồi quy tuyến tính bội: 68
4.2.3.4 Kiểm định các giả thiết: 70
4.3 Tổng kết kết quả nghiên cứu: 71
Tóm tắt chương 4 74
Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận: 75
5.2 Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp may mặc hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Dương 76
5.2.1 Kiến nghị về các chính sách: 76
5.2.2 Kiến nghị về cơ sở hạ tầng: 78
5.2.3 Kiến nghị đối với Hiệp hội dệt may tỉnh Bình Dương: 78
5.2.4 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ: 80
5.2.5 Kiến nghị về thị trường tiêu thụ: 81
5.2.6 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh
Bình Dương: 82
5.3 Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo: 84
Tóm tắt chương 5 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Bảng 5.4: Giá trị trung bình của thang đo ngành công nghiệp hỗ trợ 80
Bảng 5.5: Giá trị trung bình của thang đo thị trường tiêu thụ 81
Bảng 5.6: Giá trị trung bình của thang đo nội lực doanh nghiệp 82
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1. 1: Khuôn khổ 4 hành động 12
Biểu đồ 2.1: Số lượng doanh nghiệp may mặc tỉnh Bình Dương 25
Biểu đồ 2.2: Số DN MM Bình Dương phân theo quy mô vốn năm 2011 26
Biểu đồ 2.3: Số lượng lao động trong ngành may mặc Bình Dương 27
Biểu đồ 2.4: Thiếu hụt số lượng và chất lượng lao động 28
Biểu đồ 2.5: Trình độ máy móc thiết bị 31
Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu 44
Hình: 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 47
1

PHẦN MỞ ĐẦU
May mặc là một trong những ngành kinh tế nổi bật của Việt Nam trong
những năm vừa qua, không những đã tạo một lượng lớn việc làm mà còn là một
trong những ngành kinh tế đóng góp chủ yếu vào GDP của đất nước cũng như mang
về một lượng lớn ngoại tệ từ việc xuất khẩu. Trong thời gian qua, ngành này đã có
những cải thiện đáng kể như năng suất sản xuất tăng lên, năng lực sản xuất cũng cải
thiện đáng kể, chất lượng hàng hóa đạt yêu cầu của khách hàng nước ngoài, Đặc
biệt với cung cách kinh doanh hướng tới khách hàng, các doanh nghiệp may mặc
Việt Nam đã tạo được lòng tin nơi khách hàng cũng như tạo cho hàng may mặc Việt
nam có một chỗ đứng tương đối trên thị trường thế giới và ngày càng có nhiều
người tiêu dùng biết đến và sử dụng hàng may mặc của Việt Nam. Điều này thể
hiện qua việc trong những năm vừa qua Việt Nam luôn là một trong 10 nước xuất

nhập khẩu. Do đó có thể nói may mặc là một trong những ngành góp phần đáng kể
vào sản lượng công nghiệp của tỉnh Bình Dương nhưng lại chủ yếu được tạo ra từ
việc sử dụng thâm dụng lao động và tài nguyên hơn là các giá trị gia tăng mà ngành
này tạo ra, bên cạnh đó kim ngạch xuất khẩu mà ngành này tạo ra lại dựa vào chủ
yếu từ việc nhập khẩu nguyên vật liệu.
Mặc dù nhận được nhiều ưu đãi, hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương cũng
như của các bộ, sở, ban ngành; ngành may mặc của Việt Nam nói chung và của tỉnh
Bình Dương nói riêng cũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các
nước khác như Bangladesh, Myanmar,… cũng như những áp lực nặng nề từ tốc độ
gia tăng chi phí ngày càng cao như hiện nay đặc biệt là chi phí nhân công, chi phí
nguyên vật liệu đầu vào,…Bên cạnh đó, cạnh tranh đến từ các doanh nghiệp may
mặc từ những vùng miền khác lên các doanh nghiệp may của tỉnh Bình Dương cũng
không phải nhỏ khi mà một lượng lớn lao động hiện đang làm việc tại các doanh
nghiệp may ở Bình Dương là đến từ các tỉnh thành khác đặc biệt là từ khu vực miền
Trung và miền Bắc, khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp may mới mở ra đều đặt
tại những khu vực này sẽ thu hút một lượng lớn lao động quay ngược về quê hương
3

họ để làm việc. Điều này cho thấy lợi thế cạnh tranh mà các doanh nghiệp may mặc
Việt Nam nói chung và doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng
hiện nắm giữ đang mất dần đi. Câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp này làm thế nào
để có thể tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt từ bên
ngoài cũng như những áp lực từ bên trong như hiện tại đặc biệt là chi phí nhân công
ngày càng gia tăng với tốc độ “chóng mặt”, trong khi đó, đến thời điểm này vẫn còn
không ít doanh nghiệp may vẫn tự cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp họ
chủ yếu vẫn dựa vào chi phí thấp, với quan điểm chủ quan như thế này thì liệu
doanh nghiệp của họ sẽ “trụ” lại được bao lâu. Thêm vào đó, để có thể phát triển
bền vững cho cả một ngành công nghiệp trong một địa phương, liệu rằng chỉ dựa
vào sự nổ lực hay chiến lược của mỗi một doanh nghiệp riêng rẽ sẽ mang lại thành
công hay còn cần cả sự quy hoạch tổng thể và đồng bộ cũng như những chính sách

 Phương pháp định tính: được thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ.
 Phương pháp định lượng: được thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ
và nghiên cứu chính thức.
5. Tính mới của đề tài:
Trong thời gian qua, có một số nghiên cứu về ngành dệt may cũng như
ngành công nghiệp hỗ trợ cho dệt may nhưng chủ yếu ở cấp độ vĩ mô hoặc ở phạm
vi là cả nước như nghiên cứu “Phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may của Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tiến sĩ Nguyễn Thị Dung Huệ trường Đại học
Ngoại thương (2013) hay Luận án tiến sĩ “Lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt
Nam” của Lê Anh Tuấn trường Đại học Thái Nguyên (2013) đã đưa ra những mô
hình và phương pháp đo lường lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam cũng
5

như đánh giá các nhân tố quyết định đến lợi thế này từ đó đề xuất một số kiến nghị
về chính sách nhằm cải thiện lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam. Tuy
nhiên, nhìn chung nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu ở tầm vĩ mô và đề xuất dành
cho chính phủ là chủ đạo. Năm 2011, The Asian Foundation (Quỹ Châu Á) và
CIEM (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) cũng đã đưa ra báo cáo nghiên
cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành ở Việt Nam
trong đó có ngành may mặc. Báo cáo này đã nêu thực trạng hoạt động xuất khẩu
của ngành may mặc cũng như các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành này cũng như các
chính sách ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong ngành, tuy nhiên phạm vi nghiên
cứu là cả nước. Trong khi đó, Bình Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía nam, trong đó may mặc là một trong những ngành kinh tế quan trọng đối
với sự phát triển của tỉnh này với kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm trên 10%
tổng kim ngạch xuất khẩu cùng ngành của cả nước, tuy nhiên đến nay chưa có một
nghiên cứu toàn diện nào về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may mặc
hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh này. Do đó, với nghiên cứu này, tác giả mong
muốn sẽ mang lại cho đọc giả một cái nhìn tổng thể về năng lực cạnh tranh hiện tại

bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Nguyễn Viết Thông và cộng sự, 2012, trang 286)
viết rằng “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản
xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và
tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận cao nhất”.
Tuy có sự khác biệt trong cách thức và phạm vi diễn đạt, nhưng các quan
niệm trên đều có những có những nét tương đồng về nội dung, đó là:
- Chủ thể tham gia cạnh tranh là người sản xuất, người kinh doanh.
- Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia cạnh tranh là mối quan hệ đối kháng.
7

- Môi trường diễn ra cạnh tranh là thị trường mà các chủ thể tham gia.
- Phương thức cạnh tranh nhằm vào giá cả và chất lượng hàng hóa.
- Mục tiêu của cạnh tranh là giành được nhiều khách hàng về mình để thu
được nhiều lợi nhuận hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên, khi điều kiện thị trường thay đổi chẳng hạn như những thay đổi
về hành vi người tiêu dùng, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, sự can
thiệp của chính phủ thông qua các chính sách,… đã làm thay đổi quan niệm về cạnh
tranh cũng như phương cách mà các chủ thể sử dụng để cạnh tranh lẫn nhau. Nếu
theo quan niệm trên các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau đơn thuần là thông qua
giá cả thì chúng ta không thể giải thích được hiện tượng làn sóng Ipad của Apple,
mặc dù với chiến lược giá hớt váng nhưng Ipad vẫn chiếm lĩnh được thị trường thu
về lợi nhuận khổng lồ vì họ cung cấp được hàng hóa mà người tiêu dùng mong
muốn. Tương tự như thế, nếu cho rằng cạnh tranh phải là mối quan hệ đối đầu thì
cũng không giải thích được sự hình thành của những liên minh liên kết kinh tế, sự ra
đời của các cartel, các tập đoàn. Gần đây, Kim và Mauborgne với lý thuyết Chiến
lược đại dương xanh đã đưa ra một quan điểm cạnh tranh mới là vô hiệu hóa cạnh
tranh thông qua việc tìm những thị trường ngách hay những mãng thị trường mới
mà ở đó chưa có đối thủ cạnh tranh nào tham gia. Mặc dù lý thuyết này chưa hẳn là
hoàn hảo để có thể áp dụng trong mọi trường hợp, nhưng nó đã giải thích được
những hiện tượng mới nổi như Ipad cũng như phần nào phản ánh được bản chất và

“Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành hay quốc gia có
thể hiện thực hóa các những nguồn lực tiềm tàng thành các lợi thế cạnh tranh. Nói
cách khác, năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành hay quốc gia
có thể phát huy các điểm mạnh để tận dụng các cơ hội, giảm thiểu các điểm yếu và
đối phó có hiệu quả với những thách thức, để tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh bền
9

vững” (Nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, Bùi Thị Thanh và Nguyễn
Xuân Hiệp, 2012, trang 34).
Theo Michael E. Porter, khả năng cạnh tranh là khả năng tạo ra những sản
phẩm có quy trình công nghệ độc đáo, tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu
cầu của khách hàng, chi phí thấp và năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận (Quản
trị chiến lược, Đoàn Thị Hồng Vân, 2011, trang 450).
Đồng thời, khả năng cạnh tranh vùng, theo Michael E. Porter (1985), ông coi
sức cạnh tranh của một quốc gia hay một khu vực một vùng địa lý phụ thuộc vào
sức cạnh tranh của ngành và cụ thể hơn là cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
ngành. Không có một nước nào hay khu vực nào lại có sức cạnh tranh hơn một
nước hay khu vực khác mà chỉ có các doanh nghiệp của nước hay khu vực này có sức
cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp nước khác hay khu vực khác.
Bên cạnh đó, trong tác phẩm “ Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Michael E.
Porter (1985) đã cho rằng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp không những
chỉ tồn tại bên trong doanh nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào những lợi thế bên
ngoài doanh nghiệp; đó là tổ hợp các doanh nghiệp, các nhà cung cấp, các thể
chế,…Cùng với chính phủ, khu vực tư nhân có vai trò đầu tư một số tài sản tập thể
hoặc hàng hóa công cộng ở một số địa phương nhất định, cũng như sự phụ thuộc lẫn
nhau không tránh khỏi giữa chính phủ và các doanh nghiệp trong việc quyết định
năng suất của quốc gia. Thêm vào đó, vai trò chủ động của các hiệp hội công nghiệp
và các thể chế kinh doanh khác cũng góp phần to lớn vào việc hình thành nên năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành hay trong vùng.
Như vậy, khả năng hay năng lực cạnh tranh được xem xét ở 3 góc độ:

cạnh tranh trước các đối thủ cạnh tranh, trong đó có thể kể đến:
11

Quan điểm của của Michael E. Porter: Michael E. Porter (1980, 1985) cho
rằng có 3 chiến lược cạnh tranh phổ quát có thể giúp các doanh nghiệp vượt qua các
đối thủ khác trong ngành đó là: chiến lược tổng chi phí thấp, chiến lược đặc trưng
hóa khác biệt và chiến lược đặt trọng tâm vào một phân khúc thị trường hẹp.
Quan điểm của Scott Hoenig: không đồng tình với quan điểm chi phí thấp,
Scott Hoenig cho rằng hiện nay giá cả không phải là yếu tố quan trọng nhất trong
quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Tập quán hay thói quen mua sắm, uy tín
của thương hiệu, ảnh hưởng của quảng cáo,… có ảnh hưởng lớn hơn giá cả trong
quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Do đó, Scott Hoenig nhấn mạnh đến giải
pháp nhằm tăng doanh thu cao hơn để tạo ra lợi nhuận cao hơn là quan trọng hơn
việc giảm chi phí để làm ra sản phẩm.
Quan điểm của John Naisbitt: trong tác phẩm Nghịch lý toàn cầu (1995) ông
cho rằng khuynh hướng chính của kinh doanh toàn cầu trong thế kỷ 21 là liên minh
chiến lược. Yếu tố cạnh tranh hoặc là mờ nhạt hoặc là đã thay đổi ý nghĩa và các
liên minh chiến lược đang cùng nhau căng thật rộng tấm lưới để hứng mọi cơ hội
đến trong tương lai. (Quản trị chiến lược, Đoàn Thị Hồng Vân, 2011, trang 454).
Quan điểm của Kim và Mauborgne: so với các lý thuyết cạnh tranh trước,
Kim và Mauborgne lại tiếp cận vấn đề cạnh tranh ở một góc độ rất khác, thay vì đối
đầu hay thỏa hiệp với các đối thủ cạnh tranh thì trong lý thuyết đại dương xanh,
Kim và Mauborgne (2005) đưa ra một khái niệm khá mới mẽ là các doanh nghiệp
tận dụng các lợi thế và nguồn lực của mình để tạo ra và chiếm lĩnh một đại dương
xanh - đó là tạo ra những khoảng trống thị trường mới mà ở đó chưa có đối thủ cạnh
tranh nào tham gia qua đó sẽ vô hiệu hóa cạnh tranh hoặc cạnh tranh là không cần
thiết. Né tránh cạnh tranh hay tìm kiếm các thị trường ngách, những mãng thị
trường mà các đối thủ cạnh tranh chưa để ý hay chưa quan tâm đến vẫn đã và đang
là một trong những con đường mà nhiều doanh nghiệp vẫn đang lựa chọn. Điểm
khác biệt “mấu chốt”, theo quan điểm của Kim và Mauborgne là không phải tránh

hơn mức tiêu chuẩn trong ngành
Loại bỏ
Những yếu tố nào từng được xem là tất
yếu trong ngành cần được loại bỏ
Hình thành
Những yếu tố nào chưa tồn tại trong
ngành và cần được hình thành
Đường
giá trị
mới
13

Như vậy, không có một chiến lược cạnh tranh nào được xem là hoàn hảo để
có thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong mọi hoàn cảnh. Do đó, việc lựa
chọn và vận dụng một chiến lược phù hợp với môi trường kinh doanh bên ngoài và
vừa sức với nội lực doanh nghiệp là điều cần thiết đối với các doanh nghiệp.
1.4 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
1.4.1 Mô hình hình thoi của Michael Porter:
Theo Michael E. Porter (1990), khả năng cạnh tranh quốc gia (cũng được áp
dụng cho vùng hay khu vực) được thể hiện ở sự liên kết của bốn nhóm yếu tố, mối
liên hệ này tạo thành mô hình có tên là mô hình hình thoi Porter. Tuy nhiên cũng
theo Michael E. Porter không phải là một quốc gia này cạnh tranh với một quốc gia
khác trên thị trường quốc tế mà chính là các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau trên
thương trường. Do đó, có thể nói các yếu tố tác động này cũng chính là các yếu tố
tác động đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quốc gia đó.
Các nhóm yếu tố tác động bao gồm:
 Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất được quan niệm là tất
cả những gì không phải là „„đầu ra‟‟ cần thiết để cạnh tranh trong bất kỳ ngành công
nghiệp như lao động, tài nguyên thiên nhiên, đất đai vốn và cơ sở hạ tầng. Có nhiều
cách phân loại điều kiện các yếu tố sản xuất, trong đó có 3 cách cơ bản như sau:

và phát triển tất cả các loại yếu tố sản xuất. Loại nào được tạo ra và nâng cấp và
hiệu quả như thế nào còn phụ thuộc vào các yếu tố quyết định khác như điều kiện
cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan hiện có, mục tiêu công ty, bản chất
cạnh tranh trong nước. Sự hiện diện của các yếu tố sản xuất chuyên sâu và tiên tiến
trong một quốc gia thường không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của lợi thế
quốc gia. Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng những thuận lợi về các yếu tố đầu vào
15

sản xuất tạo nên vị thế cạnh tranh hiện tại nhưng những bất lợi lại là nền tảng cho
việc nâng cao vị thế cạnh tranh vì chính những bất lợi về yếu tố sản xuất sẽ tạo ra áp
lực cũng như kích thích các doanh nghiệp đổi mới. Thiếu sức ép nghĩa là ít tiến bộ,
nhưng quá nhiều khó khăn lại dẫn đến tê liệt. Áp lực ở mức trung bình, bao gồm sự
cân bằng giữa lợi thế trong một vài khu vực và bất lợi ở những khu vực khác dường
như là sự kết hợp tốt nhất cho cải tiến và đổi mới.
 Điều kiện về cầu: được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của thị trường. Thị
trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Thị trường
trong nước có những đòi hỏi cao về sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty
thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và
phát triển. Cũng tương tự như vậy, thị trường nước ngoài đặt ra những tiêu chuẩn
cao đối với các sản phẩm và các dịch vụ, đặt ra cho những công ty muốn thành công
trên thị trường quốc tế phải luôn đổi mới và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của thị
trường nước ngoài (để kinh doanh thành công thì phải biết bán cái gì người ta cần
chứ không phải bán cái gì mình có).
Đồng thời, thị trường trong nước đang tiến đến xu hướng quốc tế hóa nghĩa
là không còn sự khác biệt giữa các thị trường nước ngoài, thị trường nội địa và nhu
cầu nội địa. Các sản phẩm được sản xuất ra được tiêu chuẩn hóa ngày càng cao và
có tính chất quốc tế. Vì vậy, các yêu cầu đặt ra đối với thị trường nội địa sẽ càng
ngày càng cao gắn với nhu cầu của thị trường quốc tế. Để nắm bắt thị trường thành
công thì không những phải nghiên cứu và nắm rõ kết cấu của cầu thị trường mà còn
phải hiểu thật sâu về quy mô cầu, hình mẫu tăng trưởng của cầu và cả sự tương tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status