BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HUỲNH THỊ CẨM KHUÊ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TIỀN TỆ
CỦA MỘT NỀN KINH TẾ:
TRƯỜNG HỢP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hướng dẫn khoa học
PGS. TS LÊ THỊ LANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM VỀ TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 4
2.1. Tiếp cận chính sách tiền tệ: 4
2.1.1. Chính sách tiền tệ: 4
2.1.2. Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ: 4
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 7
2.2.1. Các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ của các nước phát triển: 7
2.2.2. Các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ của các nước đang phát
triển:………………………………………………………………………………. 8
2.2.3. Các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ trong nước: 10
2.3. Lựa chọn mô hình đo lường truyền dẫn tiền tệ: 11
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1. Dữ liệu nghiên cứu: 14
3.2. Mô hình Structural VAR với khối biến ngoại sinh: 14
3.3. Kiểm định tính dừng của các biến và độ trễ của mô hình: 19
3.3.1. Kiểm định tính dừng: 19
3.3.2. Kiểm định độ trễ của mô hình: 20
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
iii
4.1. Những kết quả ước lượng: 22
4.2. Những phản hồi vĩ mô đến cú sốc chính sách tiền tệ thắt chặt: 26
4.2.1. Mô hình cơ bản: 26
4.2.2. Các mô hình loại trừ: 29
4.3. Sự biến động sản lượng Việt Nam bởi những cú sốc từ các biến trong và ngoài
nước: 40
4.4. Phân tích phân rã phương sai: 40
4.5. Kiểm định Robustness: 41
v
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ Lục 1: Bảng số liệu PL1
Phụ Lục 2: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến PL7
Phụ Lục 3: Kết quả chạy mô hình VAR PL17
Phụ Lục 4: Phân tích phân rã phương sai PL20
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR để phân tích và đánh giá cơ chế truyền
dẫn tiền tệ ở Việt Nam, trong đó lãi suất cơ bản là công cụ chính sách. Tác giả chấp
nhận biến chính sách, biến trong và ngoài nước tương tác một cách đồng thời. Sự phát
hiện quan trọng của bài nghiên cứu là chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế
thông qua kênh truyền dẫn lãi suất và tỷ giá hối đoái, trong đó phản ứng lãi suất Việt
Nam là mạnh và phản ứng tỷ giá hối đoái là yếu hơn do bởi cú sốc chính sách tiền tệ:
một cú sốc chính sách tiền tệ thắt chặt làm gia tăng lãi suất, đánh giá cao đồng Việt
Nam, cung tiền M2 tăng lên, sản lượng sụt giảm và giá cả gia tăng. Tác giả cũng tìm
thấy giá cả phản ứng chậm hơn so với sản lượng do tính cứng nhắc của giá cả hoặc do
độ trễ của hiệu ứng chính sách. Hơn nữa, những cú sốc bên ngoài và cung tiền là nguồn
quan trọng trong việc giải thích sự biến động của sản lượng Việt Nam.
Từ khóa: Chính sách tiền tệ, mô hình Structural VAR, lãi suất cơ bản, xung
động phản hồi.
Nam, trong đó lãi suất cơ bản là công cụ chính sách
Câu hỏi nghiên cứu:
- Mức độ ảnh hưởng của các công cụ chính sách đến các biến vĩ mô của nền kinh
tế như thế nào?
3
- Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế thực thông qua các biến kinh tế
nào? Kênh dẫn truyền nào đóng vai trò quan trọng trong cơ chế dẫn truyền chính sách
tiền tệ ở Việt Nam?
- Hướng tác động của chính sách tiền tệ như thế nào? Các biến vĩ mô phản ứng
như thế nào trước một cú sốc chính sách? Mức độ và thời gian tác động bao lâu?
Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào các yếu tố như: lãi suất cơ bản Việt Nam,
lãi suất cho vay Việt Nam, cung tiền M2 Việt Nam, tỷ giá hối đoái danh nghĩa
USD/VND, Sản lượng công nghiệp Việt Nam, Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam, lãi suất
quỹ liên bang Mỹ, Sản lượng công nghiệp Mỹ, Chỉ số giá tiêu dùng Mỹ, chỉ số tổng
hàng hóa xuất khẩu trên thế giới từ tháng 8/2000 -12/2012. Toàn bộ dữ liệu được lấy
theo tháng.
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng mô hình SVAR để phân tích cơ chế
truyền dẫn tiền tệ đối với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam. Ý chính của mô
hình Structural VAR, tin tưởng hơn mô hình recursive Cloleski là, nó cho phép sự
tương tác đồng thời giữa các biến được sử dụng trong mô hình, bằng cách này, đã cho
phép mô tả hoàn toàn mối quan hệ giữa chúng.
Luận văn được trình bày thành 5 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Giới thiệu.
- Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về truyền
dẫn chính sách tiền tệ.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
trong nước (ir) giảm xuống. Vì thế, tài sản được định giá bằng đồng nội tệ sẽ ít hấp dẫn
hơn tài sản được định giá bằng đồng ngoại tệ, kết quả là đồng nội tệ bị đánh giá thấp
(E). Sự giảm giá của đồng nội tệ làm cho hàng hóa trong nước rẻ hơn hàng hóa nước
ngoài, và do đó làm tăng xuất khẩu ròng (NX) và sản lượng. Quá trình này được tổng
hợp trong sơ đồ sau:
5
M ↑ => i
r
↓ => E ↓=> NX ↑ => Y ↑
2.1.2.3. Kênh giá tài sản:
Kênh này hoạt động chủ yếu thông qua hai hiệu ứng: lý thuyết q của Tobin về
đầu tư và của cải tác động lên tiêu dùng (Mishkin, 1995). Theo Tobin (1969), q được
định nghĩa là giá trị thị trường của công ty chia cho chi phí sử dụng vốn (the
replacement cost of capital). Nếu q cao, chi phí sử dụng vốn là thấp so với giá trị thị
trường công ty. Điều này cho phép công ty mua nhiều nhà máy và thiết bị với vốn cổ
phần hiện đang được định giá cao của họ. Vì thế, chi đầu tư gia tăng. Ngược lại, nếu q
thấp, giá trị thị trường công ty thấp hơn chi phí sử dụng vốn và công ty sẽ không mua
các hàng hóa đầu tư. Vì vậy, đầu tư giảm.
Theo thuyết trọng tiền, hiệu ứng này được giải thích bởi thực tế, nếu giảm cung
tiền, công chúng sẽ có ít tiền hơn và cố gắng giảm đầu tư. Một cách để làm điều này là
giảm lượng tiền đầu tư vào chứng khoán, vì vậy, nhu cầu và giá cổ phần (P
e
) giảm. Kết
hợp với hiệu ứng q của Tobin, kênh truyền dẫn này được thể hiện theo mô hình sau:
M↓ => P
e
công ty có nghĩa là người cho vay có ít tài sản thế chấp cho các khoản vay của họ, lúc
này làm gia tăng rủi ro của sự lựa chọn đối nghịch và giảm khoản cho vay chi tiêu đầu
tư. Giá trị ròng của các công ty thấp cũng làm tăng vấn đề rủi ro đạo đức, bởi vì người
chủ sở hữu có cổ phần hoặc tài sản có giá trị thấp trong công ty khiến họ có nhiều động
lực tham gia các dự án đầu tư rủi ro hơn. Kết quả là, làm giảm cho vay và chi tiêu đầu
tư (Mishkin, 1995). Sơ đồ truyền dẫn Chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản
như sau:
M ↓ => Pe ↓ => adverse selection & moral hazard ↑=> lending ↓=> I ↓ => Y ↓
Chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến sự sụt giảm trong giá cổ phiếu (Pe), làm gia
tăng vấn đề sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Kết quả là, khoản cho vay cho
chi tiêu đầu tư giảm xuống.
M↑=> i↑=>cash flow↓=>adverse selection & moral hazard↑=> lending ↓=> I
↓=> Y ↓
Chính sách tiền tệ nới lỏng làm gia tăng lãi suất, lần lượt dẫn đến sự gia tăng các
vấn đề sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Tương tự với chính sách tiền tệ thắt
7
chặt, khi một chính sách tiền tệ mở rộng thi hành, sự cho vay và chi tiêu đầu tư sẽ sụt
giảm.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây:
2.2.1. Các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ của các nước phát triển:
Sims & Zha (1995) đã đề xuất mô hình SVAR cho nền kinh tế tương đối đóng
Mỹ, sử dụng các xung động phản hồi của các biến vĩ mô từ mô hình SVAR cho việc
phân tích chính sách tiền tệ.
Cushman & Zha (1997) và Kim & Roubini (2000) mở rộng mô hình SVAR cho
nền kinh tế mở nhỏ, với việc xem xét các biến ngoài nước như là biến ngoại sinh của
mô hình, và cho phép các biến chính sách phản ứng lại các biến ngoài nước một cách
đồng thời. Cushman & Zha (1997) kết luận rằng phản ứng của lãi suất Canada là yếu
lãi suất trong thị trường ô tô, khi Ngân hàng Thái Lan thực hiện đòn bẩy trên nền kinh
tế Thái Lan. Thêm vào đó, tác giả tìm thấy giá tiêu dùng chạy dài đến điểm thấp nhất
chỉ sau 3-4 năm sau cú sốc chính sách tiền tệ. Kết quả này đề nghị rằng chính sách tiền
tệ Ngân hàng Thái Lan đòi hỏi một thời gian dài hơn 8 quý- trong phạm vi mục tiêu –
có sự tác động hoàn toàn lên nền kinh tế. Tác giả cũng mở rộng mô hình SVAR để
xem xét cơ chế truyền dẫn quốc tế. Tác giả tìm thấy một chính sách tiền tệ thắt chặt có
sự tác động nhanh và ngược chiều trên nhu cầu nhập khẩu thay vì lập luận giá nhập
khẩu sụt giảm một cách đồng thời.
Liu Xiaonam (2011) sử dụng cách tiếp cận VAR đối với nền kinh tế Trung
Quốc. Do mục tiêu của chính sách tiền tệ Trung Quốc thay đổi theo từng thời kỳ nên
các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ cũng khác nhau. (i) Trước năm 1978 là giai
đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ bao
gồm hai mục tiêu là phát triển kinh tế và đảm bảo nguồn cung hàng hóa và dịch vụ. (ii)
Từ năm 1979-1992 là giai đoạn đầu của nền kinh tế chuyển đổi, nên tồn tại song song
9
cơ chế kế hoạch và cơ chế thị trường, mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ trong
giai đoạn này là phát triển kinh tế và duy trì sự ổn định giá cả. (iii) Từ năm 1993 đến
nay, là giai đoạn nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nên mục tiêu
cuối cùng của chính sách tiền tệ chỉ có mục tiêu là duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sau khi phân tích, tác giả nhận thấy: Trước thời kỳ đầu
của quá trình chuyển đổi của kinh tế tín dụng đóng một vai trò quan trọng trong việc
truyền dẫn chính sách tiền tệ, nhưng sau khi chuyển đổi kênh này yếu dần không còn
đủ hiệu quả để truyền dẫn chính sách tiền tệ. Kênh tỷ giá ít có tác động từ chính sách
tiền tệ. Kênh lãi suất là kênh truyền dẫn yếu của chính sách tiền tệ, hơn nữa việc truyền
dẫn từ lĩnh vực lãi suất tại Trung Quốc không phải là quan trọng như ở Hoa Kỳ hoặc ở
Ấn Độ.
Mala Raghavan, Paramsothy Silvapulle, và George Athanasopoulos (2012) đã
Kỳ nói riêng cũng như các động thái điều hành chính sách tiền tệ của FED; (iv) việc
thay đổi lãi suất VND trên thị trường tiền tệ thông qua các công cụ tiền tệ như OMO
hay tái cấp vốn… sẽ mất khoảng là 3-5 tháng để có hiệu lực. Việc đồng VND bị mất
giá cũng khiến lãi suất VND trên thị trường tiền tệ giảm xuống nhưng mất khoảng thời
gian từ 5 đến 10 tháng; (v) trước các cú sốc về tăng trưởng kinh tế, cụ thể là nền kinh
tế đang ở trạng thái tăng trưởng nóng, chỉ số CPI có xu hướng tăng nhanh và liên tục
trong khoảng 5-10 tháng. Tuy nhiên, chỉ số CPI tương đối nhạy cảm và phản ứng mạnh
trước động thái thắt chặt chính sách tiền tệ, cụ thể là giảm mạnh trong khoảng 6-9
tháng kể từ khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.
Phạm Thế Anh (2008) cũng sử dụng mô hình SVAR đối với nền kinh tế Việt
Nam để nghiên cứu chính sách tiền tệ và ảnh hưởng của nó đối với các biến số kinh tế
vĩ mô khác như tăng trưởng và lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Tăng trưởng
và lạm phát sẽ giảm khi Ngân hàng nhà nước thắt chặt tiền tệ, trong đó lạm phát phản
ứng chậm hơn so với tăng trưởng do tính cứng nhắc của giá cả hoặc do độ trễ của hiệu
ứng chính sách; (ii) Lãi suất và cung tiền chưa thực sự phản ứng tốt đối với những biến
11
động nhằm bình ổn nền kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn; (iii) Và kết quả dự báo cho thấy
chính sách trợ giá xăng dầu trong thời gian qua khiến cho nền kinh tế Việt Nam trong
ngắn hạn tương đối độc lập với cú sốc giá dầu trên thế giới. Điều này có ảnh hưởng
quan trọng đến xu hướng biến đổi của các biến số kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn.
2.3. Lựa chọn mô hình đo lường truyền dẫn tiền tệ:
Sims (1980) đề nghị việc sử dụng các xung động phản hồi từ mô hình VAR cho
việc phân tích chính sách tiền tệ. Sau đó có nhiều tài liệu VAR được phát triển để ước
lượng các xung động phản hồi của các biến vĩ mô bởi các cú sốc chính sách tiền tệ.
Trong nỗ lực nhận diện chính sách thực tế hơn, các nhà kinh tế đã sử dụng nhiều mô
hình phát triển từ mô hình VAR, như mô hình recursive VAR (Eichebaum & Evans
(1995) và Strongin (1995) cho nền kinh tế đóng Mỹ), và mô hình SVAR (Sims & Zha
Trong mô hình này, tác giả cũng thiết lập các điều kiện cần thiết để tìm ra
những cú sốc tiền tệ và tỷ giá của Việt Nam. Khi các cú sốc trong và ngoài nước tác
động đến lạm phát, tác giả giả định rằng trong việc đặt lãi suất cơ bản, những phản
ứng nội sinh của ngân hàng đến số lượng biến bên ngoài, như lãi suất quỹ liên bang,
sản lượng Mỹ, giá Mỹ, và giá hàng hóa thế giới, thêm vào đó là cung tiền trong nước,
lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, sản lượng và giá. Tác giả giả định rằng Ngân hàng
phản ứng đến sản lượng và giá với một độ trễ, trong đó nó phản ứng đến các biến khác
một cách đồng thời. Vì mô hình SVAR nhận diện trong bài nghiên cứu này chấp nhận
các biến chính sách có phản ứng nội sinh với tất cả các biến trong nước và nước
ngoài, tác giả có thể ước lượng các cú sốc chính nội sinh đến lãi suất cơ bản để trực
giao đến các biến khác. Tác giả cũng giả định thị trường ngoại hối hiệu quả có tất cả
thông tin liên quan trong tháng và để tỷ giá hối đoái phản ứng đến tất cả các biến
trong tháng. Mặt khác, tác giả cũng giả định hàm cầu tiền thông thường, nơi nhu cầu
cho cán cân thực phụ thuộc vào lãi suất và thu nhập. Tác giả cũng giả định lãi suất thị
trường phản ứng đồng thời tới lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay, cung tiền, tỷ giá hối
đoái và lãi suất quỹ liên bang. Tác giả cũng giả định sự tương tác đồng thời giữa lãi
13
suất cơ bản, lãi suất cho vay, cung tiền và tỷ giá hối đoái, giả định rằng các biến này
tương tác ngay lập tức.
là:
- i
0
: lãi suất cơ bản Việt Nam
- i: lãi suất cho vay Việt Nam
- s: logarit của tỷ giá hối đoái danh nghĩa USD/VND
- p: logarit của chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam
- y: logarit của sản lượng công nghiệp Việt Nam
- m: logarit của cung tiền M2 Việt Nam
- i_us: lãi suất quỹ liên bang Mỹ
- y_us: logarit của sản lượng công nghiệp Mỹ
- p_us: logarit của chỉ số giá tiêu dùng Mỹ
- wxp: logarit của chỉ số tổng hàng hóa xuất khẩu trên thế giới
1
3.2. Mô hình Structural VAR với khối biến ngoại sinh:
Bỏ qua thời kỳ không đổi, hệ thống tiêu chuẩn SVAR được viết tuyến tính và
ngẫu nhiên động như sau : 1
Bộ phận nghiên cứu IMF tính toán chỉ số giá hàng hóa theo trọng lượng của những chỉ số giá hàng hóa với mức
trung bình xuất khẩu tiền lãi của hàng hóa trên 175 quốc gia. Phần tram trọng lượng cho các hàng hóa khác nhau
như sau: thức ăn và đồ uống 18.5, nguyên liệu nông nghiệp thô 7.7, kim loại 10.7, và năng lượng 63.1
15
Ax
t
/x
t
,……, x
t-1
) = I.
Trong mô hình này, x gồm có khối biến Việt Nam, x
1
: (i
0
, m, i, s, y, p) và khối
biến không phải Việt Nam, x
2
: (y_us, p_us, i_us, wxp). Với mục đích rõ ràng, tác giả
viết lại mô hình structural (1) theo lời chú thích ma trận như sau :
Ax
t
=Fz
t
+ ε
t
(2)
Trong đó z
t
= (x
t-1
…x
t-p
) và F = (B
1…
B
A, chỉ những giới hạn trên những hệ số độ trễ là giới hạn ngoại sinh trong các biến
ngoài nước, như được trình bày bởi ma trận hệ số độ trễ F, trong phương trình SVAR
(3). Tác giả mô tả đặc điểm sơ đồ nhận diện của mô hình SVAR thành 4 loại : thị
trường tiền tệ, thị trường thông tin (phương trình tỷ giá hối đoái), khu vực sản xuất và
khu vực ngoài nước. Ở đây có 3 phương trình cho thị trường tiền tệ : phương trình
chính sách tiền tệ, phương trình cầu tiền, và phương trình lãi suất thị trường. Trong
phương trình chính sách tiền tệ, tác giả giả định Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam phản
ứng với lãi suất cho vay, cung tiền M2, tỷ giá hối đoái, lãi suất quỹ liên bang và chỉ số
giá hàng hóa xuất khẩu thế giới, trong việc thể hiện qua lãi suất cơ bản. Mặt khác,
Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam không thể quan sát dữ liệu của sản lượng và chỉ số
giá tiêu dùng trong nước và ngoài nước trong tháng. Theo Cushman & Zha (2003), tác
giả sử dụng chỉ số giá tiêu dùng như phương pháp đo lường của sự kỳ vọng lạm phát
mà Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam có thể tận dụng để đưa ra các quyết định chính
sách. Đối với phương trình cầu tiền, tác giả giả định cầu tiền phụ thuộc vào lãi suất
cho vay, tỷ giá hối đoái, sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng. Để nhận diện phương trình
lãi suất thị trường, tác giả giả định rằng tỷ lệ này phản ứng đồng thời tới lãi suất cơ
bản, cung tiền M2, tỷ giá hối đoái và lãi suất quỹ liên bang. Mặc khác, vì tỷ giá hối
đoái liên quan đến giá tài sản trong tương lai, tác giả giả định thị thường ngoại hối
hiệu quả có thể phản ứng với tất cả biến vĩ mô trong mô hình trong tháng. Việc nhận
diện phương trình tỷ giá hối đoái này là quan trọng đối với việc nhận diện chính sách
tiền tệ bởi vì dữ liệu tỷ giá hối đoái phản ánh các nguồn thông tin khác có thể không
nhận thấy trong tháng một cách gián tiếp. Bên cạnh đó, lãi suất cơ bản và lãi suất cho
vay không phản ứng trực tiếp với sản lượng và lạm phát trong tháng, nhưng các biến
17
này phản ứng gián tiếp đến các biến không qua tài chính thông qua việc phản ứng với
tỷ giá hối đoái.
Mô hình SVAR chấp nhận các biến chính sách, cung tiền, lãi suất cho vay và tỷ
110
wxp
Phương trình cầu tiền: ε
m
= a
23
i + a
24
s + a
25
y + a
26
p
Phương trình lãi suất thị trường: ε
i
= a
31
i
0
+ a
32
m + a
34
s + a
12
i_us
- Phương trình thông tin:
Phương trình tỷ giá hối đoái:
18
ε
i0
1
a
12
a
13
a
14
0
0
0
0
a
19
a
110
e
i0
ε
m
0
1
a
23
a
24
a
25
e
i
ε
s
a
41
a
42
a
43
1
a
45
a
46
a
47
a
48
a
49
a
65
1
0
0
0
0
e
p
ε
y_us
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
e
y_us
ε
p_us
1
0
e
i_us
ε
wxp
0
0
0
0
0
0
a
107
a
108
a
109
1
e
wxp
Để so sánh thành quả của mô hình SVAR, tác giả phát triển ba mô hình loại trừ
với những sơ đồ nhận diện khác nhau.
Trong mô hình loại trừ đầu tiên, tác giả giả định chính sách tiền tệ không bị tác
liệu. Kết quả kiểm định ADF cho chuỗi dữ liệu theo tháng từ tháng 8/2000 đến tháng
12/2012, cho thấy :
- Biến i dừng ở chuỗi gốc
- Biến i
0
dừng ở chuỗi gốc
- Biến i_us dừng ở sai phân bậc 1
- Biến m dừng ở sai phân bậc 1
- Biến p dừng ở sai phân bậc 1
- Biến p_us dừng ở sai phân bậc 1
- Biến s dừng ở sai phân bậc 1
- Biến wxp dừng ở sai phân bậc 1