B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T THÀNH PH H CHÍ MINH TRNH TH BÉ NGC NH HNG CA QUYT NH CU TRÚC VN N
HIU QU HOT NG CA CÁC DOANH NGHIP
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIP NIÊM YT TI TH
TRNG CHNG KHOÁN VIT NAM LUN VN THC S KINH T
Thành Ph H Chí Minh - Nm 2013
B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T THÀNH PH H CHÍ MINH
Li u tiên tôi xin gi li cm ơn sâu sc n Cô Nguyn Th Uyên Uyên,
ging viên trưng i hc Kinh T là giáo viên trc tip hưng dn tôi làm
tài này, cô ã tn tình hưng dn tôi, truyn t cho tôi nhng li khuyên có giá
tr, h tr tôi trong sut quá trình tôi làm lun văn này.
Tip n, tôi xin kính gi li cám ơn chân thành ti Ban giám hiu, các thy cô
trưng Ði Hc Kinh T TPHCM, ã truyn t kin thc, cung cp tài liu cn
thit cùng vi nhng câu tr li giúp tôi hoàn thành bài lun văn này.
Và cui cùng tôi cũng xin cm ơn tt c các khách hàng, các anh ch ng
nghip, các chuyên gia trong lĩnh vc tài chính, gia ình, bn bè, ã giúp tôi
trong thi gian qua.
Lun văn này chc chn không th tránh khi nhng thiu sót, tôi mong nhn
ưc nhng ý kin óng góp xây dng ca Quý thy cô và các bn.
Trân trng,
Trnh Th Bé Ngc - Trưng Ði Hc Kinh T TPHCM
ii
MỤC LỤC
TÓM T
Ắ
T 1
CH
ƯƠ
NG 1 – GI
Ớ
I THI
Ệ
U
ĐỀ
TÀI 2
1.1. Lý do chn tài
2
1.2. Mc tiêu nghiên cu 3
1.3. Vn nghiên cu 3
1.4. Phương pháp nghiên cu 4
1.5. Ý nghĩa công trình nghiên cu 4
1.6. B cc lun văn 4
CH
ƯƠ
NG 2 – CÁC B
Ằ
NG CH
Ứ
NG TH
Ự
HO
Ạ
T
ĐỘ
NG C
Ủ
A DOANH NGHI
Ệ
P 6
CH
ƯƠ
NG 3 – PH
ƯƠ
NG PHÁP NGHIÊN C
Ứ
U 19
3.1. Phương pháp nghiên cu
19
3.1.1 Mô hình kinh t lưng
19
3.1.2 D liu nghiên cu 20
3.1.3 Mô t các bin nghiên cu 21
3.1.3.1 Hiu qu hot ng doanh nghip 22
3.1.3.2 Cu trúc vn 24
3.1.3.3 Bin kim soát 24
3.2. X lý d liu và phương pháp ưc lưng 25
iv
HO
Ạ
T
ĐỘ
NG C
Ủ
A CÁC DOANH NGHI
Ệ
P
TRONG NGÀNH CÔNG NGHI
Ệ
P NIÊM Y
Ế
T TRÊN TH
Ị
TR
ƯỜ
NG
CH
Ứ
NG KHOÁN VI
Ệ
T NAM 27
4.1. Mô t d liu
27
4.2. Kt qu hi quy và tho lun 29
CH
ƯƠ
NG 5 – K
PH
Ụ
L
Ụ
C 2 – Danh m
ụ
c các doanh nghi
ệ
p ngành công nghi
ệ
p trên th
ị
tr
ườ
ng ch
ứ
ng khoán Vi
ệ
t Nam.
PH
Ụ
L
Ụ
C 3 – K
ế
t qu
ả
ch
ạ
C CÁC CH
Ữ
VI
Ế
T T
Ắ
T
1
CPT C phn thưng
2
CPƯ C phn ưu ãi
3
CTV Cu trúc vn
4
GM T sut li nhun gp biên
5
HSX Th trưng chng khoán Thành ph H Chí Minh
6
HNX Th trưng chng khoán Hà Ni
7
LEV T l n trên vn ch s hu
8
LTDTA N dài hn trên tng tài sn
9
OCS Cu trúc vn ti ưu
10
OLS Phương pháp hi quy bình phương bé nht
11
PROF Li nhun trưc thu và lãi vay cng khu hao trên tng tài sn
ca quyt nh cu trúc vn n hiu qu hot ng doanh nghip
B
ả
ng 3.1:
Mô t khái quát mô hình nghiên cu
B
ả
ng 3.2:
Phân loi mu theo các lĩnh vc công nghip
B
ả
ng 3.3
: Tng hp mt s các bin v cu trúc vn và hiu qu hot ng ca
doanh nghip trong các nghiên cu trên th gii
B
ả
ng 4.1:
Mô t thng kê (Descriptive Statistics)
B
ả
ng 4.2:
Cu trúc vn và hiu qu hot ng qua thang o ROA
B
ả
ng 4.3:
hoạt động qua ROE. Với thang đo tỷ suất lợi nhuận gộp biên (GM) thì STDTA,
TDTA có tác động ngược chiều, còn LTDTA thể hiện tác động cùng chiều với
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tiếp theo, với thang đo Tobin’s Q có mối
tương quan cùng chiều nhưng không đáng kể. Yếu tố quy mô thể hiện tác động
ngược chiều đến hiệu quả doanh nghiệp qua các biến ROA, ROE, GM và không
có tương quan qua thang đo Tobin’s Q. Nhìn chung, các công ty trong các ngành
công nghiệp của Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào nợ ngắn hạn, việc sử dụng nợ
không đạt hiệu quả đã ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong
giai đoạn nghiên cứu.
Từ khóa: cấu trúc vốn; hiệu quả hoạt động; lĩnh vực công nghiệp
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Quyt định cấu trúc vốn của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tối
đa hóa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới đã dấy
lên mối lo ngại về việc sử dụng đòn bẩy quá mức của các doanh nghiệp và tác
động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu
đặt ra là xem xét ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng.
Thời gian qua, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về ảnh hưởng của quyết định
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trên thế giới nhưng hầu hết
trong số đó là sự xem xét trong các nền kinh tế phát triển và hạn chế ở các nước
đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam. Vì vậy, chúng ta không thể khái quát hóa
các kết quả của các nền kinh tế phát triển cho các nền kinh tế đang phát triển mà
không có bất kỳ nghiên cứu nào về sự ảnh hưởng này ở chính các quốc gia đó,
đặc biệt là ở Việt Nam. Eldomiaty (2007) cho biết, thị trường vốn ở các nước thị
trường mới nổi là không đầy đủ hoặc không hiệu quả so với các thị trường các
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng như xây dựng cho doanh
nghiệp mình một cấu trúc vốn tối ưu, một nền tảng tài chính vững mạnh trong bối
cảnh cạnh tranh gay gắt và vực dậy doanh nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng
hiện nay.
1.3 Vấn đề nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả xem xét đặc điểm cấu trúc vốn và sự
ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp Việt Nam. Nói cách khác, nghiên cứu nhằm ước tính có một tỷ lệ nợ cao
trong cấu trúc vốn có ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
và ngược lại. Trên cơ sở đó, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau:
4
Có hay không sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn, quy mô doanh
nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp?
Sự thay đổi trong cấu trúc vốn có liên quan đến sự thay đổi trong hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Sự thay đổi trong cấu trúc vốn có phải là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi
trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng các nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho việc kiểm
định sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp trong ngành công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam trong giai đoạn năm 2008 đến năm 2012. Dữ liệu chạy mô hình được
thu thập từ các báo cáo tài chính của 312 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp
trên sàn HSX và sàn HNX được công bố hàng năm tại trang web
www.tvsi.com.vn. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất
(OLS – Ordinary Least Squares) để tiến hành chạy mô hình hồi quy qua chương
trình SPSS 20.
1.5 Ý nghĩa của công trình nghiên cứu
Hệ thống lại các nghiên cứu trước đây về sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc
Kết luận của bài nghiên cứu. Qua đó, đưa ra các hạn chế cần khắc phục và hướng
cho các nghiên cứu tiếp theo.
6
CHƯƠNG 2
CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH
HƯỞNG CỦA QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
nh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đã được nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đề cập. Trong đó, lần đầu tiên
được đề cập bởi Modigliani và Miller (1958), bài nghiên cứu được đăng trên tạp
chí Amerian Economic Review số ra 48, tháng 6 năm 1958 với tựa đề “The Cost
of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment”. Các ông cho
rằng các quyết định về cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị của doanh
nghiệp trong trường hợp không có thuế, không có thông tin bất cân xứng, không
có chi phí phá sản, không có chi phí giao dịch và trong một thị trường hiệu quả
với kỳ vọng thị trường đồng nhất. Theo các giả định nghiêm ngặt trên, các loại
nguồn tài trợ sử dụng không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Nhưng các thị
trường thế giới đã không hoạt động trên các giả định đó. Trong thực tế, luôn tồn
tại các vấn đề như: bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện…
Trong đó, vấn đề về chi phí đại diện được đề cập trong bài nghiên cứu của Jensen
& Meckling (1976) “Theory of the firm: managerial behavior, agency cost and
ownership structure” đã chỉ ra sự tồn tại của chi phí đại diện là do quyền sở hữu
đại diện là các cổ đông và quyền kiểm soát là các nhà quản lý của công ty nằm
trong tay hai chủ thể khác nhau ở hầu hết các doanh nghiệp. Các nhà quản lý
không có động lực để nỗ lực hết mình nhằm gia tăng tối đa giá trị doanh nghiệp,
mà sẽ quan tâm nhiều hơn đến lợi ích cá nhân hoặc đưa ra các chính sách phù
đó với các nhà đầu tư mới. Đây là cơ sở mà lý thuyết phát tín hiệu cho rằng khi
các doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường thì đồng nghĩa với quan
điểm của các nhà quản lý là giá chứng khoán bị đánh giá quá cao.
Trong khi đó, lý thuyết trật tự phân hạng được đặt nền tảng bởi Myers và Majluf
(1984) trong nghiên cứu “Corporate financing and investment decisions when
8
firm have information that investors do not have” về cấu trúc vốn doanh nghiệp
nói rằng các công ty đang phải đối mặt với vấn đề bất cân xứng thông tin và chi
phí giao dịch. Điều đó làm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và tài trợ của doanh
nghiệp. Bởi vì các nhà quản lý có nhiều thông tin hơn những nhà đầu tư bên
ngoài, đứng ở vị thế của những nhà đầu tư đang hiện hữu thì những nhà đầu tư
mới yêu cầu một mức chiết khấu cao khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán và
điều này dẫn đến việc chi phí cho các nguồn tài trợ bên ngoài thì rất đắt đỏ.
Chính vì vậy, khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, họ thường sử dụng nguồn tài
trợ nội bộ, là lợi nhuận giữ lại đầu tiên và chỉ cân nhắc đến nguồn tài trợ bên
ngoài khi mà nguồn tài trợ nội bộ thiếu hoặc không đủ, khi đó nguồn tài trợ bên
ngoài đầu tiên xem xét là chứng khoán nợ và phát hành cổ phần thường mới là
lựa chọn cuối cùng.
Jensen (1986) trong nghiên cứu về lý thuyết dòng tiền tự do“Agency costs free
cash flow, corporate finance, and takeovers” đã cho rằng dòng tiền mặt dư thừa
được sử dụng để đầu tư vào các dự án có mức sinh lợi kém hoặc đầu tư vào các
tổ chức hoạt động không hiệu quả tạo ra mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà
quản lý, bởi các nhà quản lý vì lợi ích bản thân thường có xu hướng mở rộng quy
mô của công ty thậm chí là thực hiện cả những dự án gây hại đến lợi ích của cổ
đông, dẫn đến “đầu tư quá mức” (over-investment). Trong trường hợp này nếu sử
dụng nợ vay sẽ giúp hạn chế vấn đề đầu tư quá mức và nợ được xem là một công
cụ hữu ích để giải quyết vấn đề dòng tiền tự do.
Trong nghiên cứu “the theory of capital structure” của Harris và Raviv (1991)
về lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng các quyết định của doanh nghiệp về
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cấu trúc vốn đều ảnh hưởng bởi đặc
điểm nền kinh tế của từng quốc gia. Cụ thể hơn, nhóm tác giả tìm thấy các doanh
nghiệp Hồng Kông có tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao hơn đáng kể và
vốn được đầu tư nhiều hơn những doanh nghiệp đến từ các nước khác. Điều này
có thể do cấu trúc kinh doanh đặc trưng của Hồng Kông. Sự khác biệt trong hiệu
10
quả hoạt động giữa các doanh nghiệp từ các nước khác nhau mang tính thống kê
không cao. Những doanh nghiệp từ Hàn Quốc có đòn bẩy tài chính cao hơn đáng
kể so với các doanh nghiệp từ các nước khác.
Kích thước của công ty cũng là một yếu tố quan trọng trong quyết định cấu trúc
vốn của doanh nghiệp và tối đa hóa hiệu quả hoạt động. Shergill và Sarkaria
(1999), trong bài nghiên cứu”Impact of Industry Type and Firm Characteristics
on Firm - Financial Performance- Evidence from Indian Industry level”, tìm thấy
sự tác động cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của các
công ty ở Ấn Độ. Các doanh nghiệp có quy mô lớn đã tăng cường đa dạng hóa,
mở rộng quy mô, từ đó được tiếp cận với công nghệ tiên tiến và dễ dàng cho họ
để có được nguồn vốn với chi phí thấp hơn.
Schiantarelli và Sembenelli (1999) trong nghiên cứu“The Maturity Structure of
Debt: Determinants and Effects on Firms’ Performance: Evidence from the
United Kingdom and Italy” đã sử dụng dữ liệu bảng của các doanh nghiệp ở Anh
và Ý để điều tra các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thông
qua cấu trúc kỳ hạn của nợ, sự ảnh hưởng của thời gian đáo hạn lên các khoản nợ
gọi là cấu trúc kỳ hạn của nợ. Các tác giả tìm thấy việc lựa chọn cấu trúc vốn có
tính tương thích giữa kỳ hạn nợ với tài sản được tài trợ. Tác giả tìm thấy tác động
cùng chiều giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiêp thông qua
biến nợ dài hạn trên tổng tài sản. Nhóm tác giả kết luận rằng những doanh nghiệp
hoạt động có lợi nhuận cao có xu hướng sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn. Phát hiện
này phù hợp bởi vì các doanh nghiệp thường đương đầu với rủi ro thanh khoản và
sự thất bại trong quản lý liên quan đến tài trợ bằng nợ ngắn hạn. Điều này có thể
số nợ của các doanh nghiệp tại Ghana và là một thành phần chính trong nguồn tài
trợ của họ. Tuy nhiên, có tác động ngược chiều tồn tại giữa nợ dài hạn và tỷ suất
sinh lời của vốn chủ sở hữu, do các khoản nợ dài hạn có chi phí sử dụng tốn kém
hơn trong thị trường này. Tác động của tổng nợ trên tổng tài sản lên tỷ suất sinh
lời của vốn chủ sở hữu là cùng chiều bởi tỷ nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn
12
trong tổng số nợ. Ông cho rằng các công ty hoạt động có hiệu quả phụ thuộc rất
lớn vào nợ như một nguồn tài trợ chính của doanh nghiệp.
Huang và Song (2006), trong nghiên cứu “The determinants of capital structure:
Evidence from China” đã phát hiện ra rằng có ảnh hưởng ngược chiều tồn tại
giữa đòn bẩy tài chính được đo bằng nợ dài hạn trên tổng tài sản, tổng nợ trên
tổng tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng tỷ suất sinh
lời trên tổng tài sản (ROA). Hơn nữa, các công ty có quy mô lớn sử dụng nợ
nhiều hơn để tăng kích thước của công ty từ đó dẫn đến tăng mức độ sử dụng đòn
bẩy của doanh nghiệp.
Abor (2007), trong bài nghiên cứu “Debt policy and performance of SMEs:
evidence from Ghanaian and South Africa firms” đã đánh giá ảnh hưởng của
quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(SMEs) ở Nam Phi và Ghana. Ông đã tìm thấy tác động ngược chiều giữa đòn
bẩy tài chính được đo bằng tỷ lệ nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tổng nợ trên tổng tài
sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng tỷ suất lợi nhuận gộp
biên cho cả Nam Phi và Ghana. Tiếp tục cũng là sự tác động ngược chiều tồn tại
trong việc đo lường cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đo bằng tỷ
suất sinh lời của tổng tài sản trong các công ty vừa và nhỏ ở Ghana.
Zeitun và Tian (2007),
trong bài nghiên cứu
“
Capital structure and corporate
nhiều doanh nghiệp ở Pakistan là các doanh nghiệp gia đình. Họ thổi phồng chi
phí sản xuất và vẽ ra lợi nhuận, vì vậy, có sự khác biệt so với hiệu quả hoạt động
thực tế. Báo cáo thu nhập cho thấy hiệu quả hoạt động tiêu cực. Dẫn đến sự sụt
giảm mức độ sử dụng vốn cổ phần và tỷ lệ nợ gia tăng trong cấu trúc vốn của các
doanh nghiệp ở Pakistan.
Narendar V. Rao cùng cộng sự (2007), trong bài nghiên cứu”Capital Structure
and Financial Performance: Evidence from Oman” kiểm tra ảnh hưởng giữa cấu
trúc vốn và hiệu quả hoạt động trong trường hợp các doanh nghiệp ở Omani.
Công trình nghiên cứu đã phát hiện ra có sự trái ngược với lý thuyết đánh đổi cấu
14
trúc vốn và có sự ảnh hưởng ngược chiều giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa rằng tăng tỷ lệ sử dụng nợ cao sẽ làm
giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nguyên nhân là do chi phí sử dụng
vốn vay khá tốn kém và thị trường tài chính kém phát triển tại Omani. Các lợi ích
từ tấm chắn thuế dường như không đủ để bù đắp chi phí cho việc sử dụng nợ.
Ebaid (2009) trong nghiên cứu “The impact of capital-structure choice on firm
performance: empirical evidence from Egypt” của mình trên các nền kinh tế thị
trường mới nổi của Ai Cập đã tìm thấy rằng việc lựa chọn cấu trúc vốn phù hợp
có ảnh hưởng không đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ông tìm
thấy rằng các biến cấu trúc vốn bao gồm cả nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ
trên tổng tài sản có ảnh hưởng không đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp được đo bằng tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE). Trong khi đó, sự
ảnh hưởng của nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng tài sản là ngược
chiều và đáng kể với hiệu quả hoạt động qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản,
nhưng lại có ảnh hưởng ngược chiều nhưng không đáng kể tồn tại đối với các
khoản nợ dài hạn trên tổng tài sản qua ROA. Hơn nữa, ảnh hưởng của cấu trúc
vốn với hiệu quả hoạt động được đo bằng tỷ suất lợi nhuận gộp biên là không
đáng kể.
Omran và Pointon (2009) trong nghiên cứu“Capital structure and firm
đến hiệu quả hoạt động của các công ty trong ngành công nghiệp xây dựng ở
Malaysia, phát hiện ra rằng, cuộc khủng hoảng tài chính không có sự tác động
lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng ở Malaysia vì
công cuộc phát triển quy mô lớn trong cả nước đang diễn ra. Và có ảnh hưởng
không đáng kể tồn tại giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động được đo bằng
tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xây dựng của Malaysia bao
gồm cả các công ty cỡ nhỏ, vừa và lớn.
Abdul G. Khan (2012) trong nghiên cứu “The relationship of capital structure
16
decisions with firm performance: A study of the engineering sector of Pakistan”
về quan hệ giữa quyết định cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động trên 36 công ty
trong lĩnh vực kỹ thuật trên thị trường chứng khoán Pakistan trong giai đoạn
2003 - 2009 và kết quả chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính được đo bằng nợ ngắn hạn
trên tổng tài sản (STDTA) và tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA) có ảnh hưởng
ngược chiều đáng kể đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp qua chỉ số tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận gộp biên (GM), và chỉ số
Tobin’s Q. Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp đo lường qua thang đo tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) có tác
động ngược chiều nhưng không đáng kể. Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng
không đáng kể với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đo bằng thang đo ROA và
GM, nhưng có tác động ngược chiều đáng kể qua chỉ số Tobin’s Q. Các doanh
nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật tại Pakistan phụ thuộc phần lớn vào nợ ngắn hạn
mà điều kiện để tiếp xúc với nguồn tài trợ này đòi hỏi nhiều các điều khoản
nghiêm ngặt. Vì vậy, có sự ảnh hưởng của quyết định cấu trúc vốn đến hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự ảnh hưởng của
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
ộng2 Shergill và Sarkaria
1999 Ấn Độ Cùng chiều
3
Schiantarelli và
Sembenelli
1976-1991 Anh & Ý Cùng chiều
4 Gleason và cộng sự 1994-2005 14 Quốc gia Châu âu Ngược chiều
5 Deesomsak 1993-2001 Khu vực Châu Á Ngược chiều
6 Abor 2005 Ghana
Cùng chi
ều nợ
ngắn hạn, ngược
chi
ều nợ d
ài h
ạn
7 Huang và Song 1994-2000 Trung Quốc Ngược chiều
8 Abor 1998-2003 Nam Phi & Ghana Ngược chiều
9 Zeitun và Tian 1989-2003 Jordan Cùng chiều
10 Shah và Khan 1994-2002 Pakistan Ngược chiều
11
Narendar V. Rao
&