BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ TẤN PHƯỚC ĐÓNG GÓP CỦA TFP ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ CỦA CÁC TỈNH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
PHÍA NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan :
1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của thầy TS. Trần Anh Tuấn
2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên
tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố. Người thực hiện
VÕ TẤN PHƯỚC
TRƯỞNG SOLOW) 6
2.1.1 HÀM SẢN XUẤT 6
2.1.2 ĐIỂM MẠNH – ĐIỂM YẾU MÔ HÌNH SOLOW 8
2.2 MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH 9
2.2.1 MÔ HÌNH AK 10
2.2.2 MÔ HÌNH “HỌC HAY LÀM” 11
2.2.3 MÔ HÌNH R & D 12
2.2.4 ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH 14
2.3 GIỚI THIỆU NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ TỔNG HỢP (TFP) 15 2.3.1 KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT 15
2.3.2 KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ TỔNG HỢP (TFP) 17
2.3.3 Ý NGHĨA 18
2.3.4 TỐC ĐỘ TĂNG TFP 18
2.3.5 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG TFP 19
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 24
2.5 KHUNG LÝ THUYẾT 31
CHƯƠNG III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1. HÀM SẢN XUẤT VÀ CÁCH TÍNH TFP 33
3.2 MÔ HÌNH HỒI QUY 35
3.3 CHỌN MẪU VÀ DỮ LIỆU 36
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1. SƠ LƯỢC VỀ VỊ THẾ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 39
4.2 TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC ĐỊA PHƯƠNG VKTTĐPN
41
4.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY
48
4.3.1 KẾT QUẢ HỒI QUY CHO VKTTĐPN 48
4.3.2. KẾT QUẢ HỒI QUA CHO CÁC TỈNH/THÀNH VKTTĐPN 49
Hình 4.5. So sánh chỉ số TFP các tỉnh/thành 51 1
TÓM TẮT Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với khoa
học công nghệ, phát triển nền kinh tế tri thức là mục tiêu theo đuổi dài hạn của các nền
kinh tế. Dựa trên các cơ sở lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và lý thuyết tăng
trưởng kinh tế nội sinh, các lý thuyết này sử dụng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP)
như thành phần giải thích tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu đã phân tích đóng góp của
TFP đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm phía nam trong giai
đoạn 2001– 2010cũng như xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố TFP đến tăng trưởng
kinh tế của Vùng cũng như cho các tỉnh/thành trong vùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
khi các yếu tố vốn và lao động không đổi thì sự tác động của TFP đến tăng trưởng kinh tế
của VKTTĐPN là làm gia tăng sản lượng GDP thêm 7.93%. Ngoài ra, phân tích TFP
từng địa phương cho kết quả các tỉnh/thành của vùng trong giai đoạn 2001 – 2010 đều có
mức tác động của TFP là tích cực, Vũng Tàu là địa phương có mức TFP cao nhất, cao
hơn mức trung bình của Vùng. Vàtừ những kết quả đạt được đề xuất các giải pháp nhằm
tăng cường đóng góp của yếu tố này đến tăng trưởng kinh tế cho vùng và các địa phương
nhằm phát triển bền vững trong thời gian tới.
2
tỷ lệ dân số đô thị gần 50% so với mức bình quân 25% của cả nước (Cục Xúc tiến thương
mại, 2011). Do đó, VKTTĐPN thực sự là đầu tàu, đóng vai trò động lực, thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển kinh tế Việt Nam. Với tầm vóc và vị thế như vậy nhưng chất lượng tăng
trưởng chưa tương xứng với tiềm năng của Vùng. Tăng trưởng kinh tế VKTTĐPN trong
giai đoạn vừa qua phụ thuộc nhiều vào sự tích lũy của các yếu tố đầu vào gồm vốn và lao
động. Hiện nay nền kinh tế đã phát triển ở mức cao hơn, bên cạnh chiến lược tăng trưởng
dựa vào đầu vào thì phải định hướng vào nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và lao
động, do đó đề tài “Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế của các tỉnh Vùng kinh
tế trọng điểm phía nam giai đoạn 2001 - 2010” sẽ phân tích đóng góp của TFP đối với
tăng trưởng kinh tế của trong giai đoạn 2001 – 2010, từ đó đánh giá được vai trò của của
các nguồn lực đối với tăng trưởng và khuyến nghị những chính sách thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn cho Vùng.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhận diện được sự đóng góp của yếu tố này sẽ giúp ích
cho việc đưa ra các khuyến nghị chính sách phát triển nhằm nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn.
Với mục tiêu tổng quát như trên, luận văn đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:
- Phân tích đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh Vùng kinh tế
trọng điểm phía nam trong giai đoạn 2001 – 2010 để từ đó tiếp tục tăng cường
khả năng đóng góp của các yếu tố này vào tăng trưởng kinh tế dài hạn cho các
địa phương VKTTĐPN.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố TFP đến tăng trưởng kinh tế
VKTTĐPN, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường đóng góp của yếu tố
này đến tăng trưởng kinh tế cho vùng.
4
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Luận văn được chia làm 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
6
CHƯ
Ơ
Ơ
NG II. C
Ơ
Ơ
SỞ LÝ
T
T
HUYẾT Đ
T
T
n
Đ
ể làm sá
n
T
c
h cho tăn
g
g
trưởng, c
h
ớ
i thiệu cá
c
g
trưởng ki
n
h
ương này
n
c
lý thuyết
n
h
t
ế bao g
ồ
n
êu lên nh
ữ
tăng trưởn
g
ồ
m lý thuy
ế
I
NH TẾ T
Â
Â
N CỔ Đ
I
I
ỂN (MÔ
H
H
ÌNH
M
đ
t
M
ô hình
t
ă
đ
ược phát
t
t
ăng trưởn
g
ă
ng trưởng
t
riển bởi
R
g
ăn
g
n
ay được x
tăng trưởn
g
g
trưởng k
i
em như là
g
kinh
t
ế tr
o
i
nh
t
ế Solo
w
một mô hì
n
o
ng dài dạn
w
,
n
h
.
2.1.
à
g
.
à
cả lao độ
n
n
g và sự th
a
a
y đổi côn
g
g
nghệ đều có
Đ
t
Đ
ầu tiên S
o
t
ăng trưởn
g
o
low giả đ
ị
g
nên hàm
s
ị
nh rằng c
V
V
ới :
Y l
à
à
sản lượng đầu ra
K l
à
à
vốn (vốn
ở
ở
đây là vố
n
n
vật thể)
L là lao động
t là
g
g
iai đoạn t
h
h
ời gian
k
Giả thiết r
ằ
k
hông đổi
c (2.2)7
Chia
p
p
hương t
r
ì
n
n
h (2.2) ch
o
o
Y và sắ
p
x
x
ếp lại ta đ
ư
ư
ợc:
Tron
g
à
L, hay ký
h
p
hương t
r
ìn
h
G(
Y
(
K) và (GL
)
ư
ợc phần
đ
c
ó số liệu c
G
(K) và βG
(
các hiệu ứ
n
a
o động và
v
l
ại, G(A) c
ệu G(Y)
giản của s
ả
ả
n lượng theo vốn, ha
y
y
ký hiệu α
ộ tăng trưở
n
n
g vốn ha
y
y
ký hiệu G
(
(
K)
o
giản của s
ả
ả
n lượng t
h
h
eo lao độn
g
g
, hay ký h
i
là
t
ốc độ
t
đ
óng góp c
ủ
t
ăng trưởn
g
ủ
a sự gia tă
n
g
của vốn
v
n
g K và L
đ
v
à lao động
,
đ
ối với tăn
g
,
nên khi n
h
g
trưởng củ
(
2.4). Vì G
(
ước lượng
T
họ Đạt, 2
0
tính được
(
A) là phần
được tăng
0
10, trang 2
G(A) bằng
dư của tăn
trưởng sả
n
37).
cách lấy
G
g trưởng Y
n
lượng khi
G
(Y) t
r
ừ
sau khi
các đầu
h
ư
vậy, ý n
g
c
h bởi tốc
đ
kỹ thuật)
h
g
hĩa của p
h
đ
ộ tăng trư
ở
h
ay còn gọ
i
h
ương t
r
ình
ở
ng của vố
n
i
là tăng
(2.4) là
n
và lao
9
sinh. Hơn nữa, giả sử rằng mức sinh lợi trên vốn phản ánh đóng góp của vốn
trong sản lượng, và rằng tỷ phần của nó trong tổng thu nhập được thiết lập ở
mức hợp lý thì sự chênh lệch về vốn không thể giải thích được sự chênh lệch về
thu nhập giữa các quốc gia” (Trần Thọ Đạt, 2010, trang 173).
Tóm lại, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, bất chấp những giới hạn của nó, đã chỉ ra hai
điểm quan trọng. Thứ nhất, đã làm sáng tỏ sự tồn tại của một nhân tố mới trong tăng
trưởng kinh tế, đó là tiến bộ công nghệ. Thứ hai, lý thuyết tân cổ điển đã nhấn mạnh tầm
quan trọng của tích lũy vốn, một nhân tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
2.2 MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH
Trong mô hình Solow không đưa ra được sự giải thích tại sao TFP đôi khi tăng trưởng
nhanh, đôi khi tăng trưởng chậm. Căn nguyên của tăng trưởng TFP trong lý thuyết tân cổ
điển về cơ bản xuất phát từ sự tiến bộ công nghệ. Yếu tố này chỉ đạt yêu cầu ở giai đoạn
đầu của thời kỳ tăng trưởng, sau đó khi một nước nghèo có thể đảm bảo kỹ thuật và tiếp
thu công nghệ sản xuất từ các nước giàu thông qua các hoạt động thương mại hay viện trợ
nước ngoài, vì thế yếu tố này không thể giải thích thỏa đáng về tồn tại khoảng cách thu
nhập bình quân đầu người của mỗi nước. Ngoài ra, trong lý thuyết tân cổ điển thì tăng
trưởng kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tích lũy vốn là không hợp lý. Do đó cần tìm ra
những đặc tính mới của TFP để có thể giải thích hoàn toàn khác biệt về GDP bình quân
đầu người trong mỗi quốc gia.
Với những lý do trên đã dẫn đến sự ra đời một loạt mô hình tăng trưởng (vẫn dựa trên
khuôn khổ lý thuyết tân cổ điển) được gọi là các mô hình tăng trưởng nội sinh. Trong các
mô hình này thì giả định chung là lợi nhuận không đổi theo quy mô, còn giả định sinh lợi
của vốn giảm dần không được sử dung, đây là điểm mới.
Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, TFP không chỉ là phần không giải thích được của
các tỷ lệ tăng trưởng từ các yếu tố đầu vào bao gồm vốn và lao động mà TFP còn có ý
nghĩa rộng hơn, đó là tất cả các yếu tố có thể dẫn đến đổi mới công nghệ như ý tưởng
người. Trong mô hình AK, các thành phần của tăng trưởng kinh tế là một mức độ cải tiến
của công nghệ lấy từ đổi mới công nghệ trong khi trong các mô hình tân cổ điển TFP chỉ
là một biến ngoại sinh gắn với tiến bộ kỹ thuật. Nhưng điểm giống nhau của hai mô hình
là nhấn mạnh vai trò quan trọng của vốn trong tăng trưởng. 11
2.2.2 MÔ HÌNH “HỌC HAY LÀM”
Mô hình học hay làm được đưa ra bởi Paul Romer (năm 1986 và 1989) và Kenneth Arrow
(1962).Trong mô hình này, mỗi hoạt động đầu tư của các cá nhân hay các công ty có thể
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Theo giả định lợi tức không đổi theo quy mô, hàm số theo dạng Cobb-Douglas như sau:
Y(t) = K(t)
α
[A(t).L(t)]
1-α
(2.6)
Trong đó: Y là sản lượng
K là vốn bao gồm vốn vật chất và các thành phần nguồn vốn con người
L là lao động
A là gia tăng kiến thức (kiến thức mới), bắt nguồn từ quá trình vừa học vừa
làm
Lưu ý rằng, trong mô hình này sự gia tăng kiến thức không phải là một biến cho trước, nó
là một hàm số của sự gia tăng trong vốn và do đó tích lũy kiến thức A(t) là một hàm số
của tích lũy vốn K(t) và được mô tả trong hàm dưới đây:
A(t) = B.K(t)
θ
với B > 0, θ > 0 (2.7)
Theo phương trình (2.7), sự gia tăng trong đầu tư có thể dẫn đến sự gia tăng trình độ kiến
thức, và sự gia tăng kiến thức lần lượt mang lại sự gia tăng sản lượng sản xuất trong một
thích sự tăng trưởng kinh tế. Tương tự trường phái trên, Griffin (1994) đã đồng ý vốn con
người bao gồm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lượng và sáng tạo của người dân.
Một cá nhân có thể đạt được nó bằng nhiều cách khác nhau như được đào tạo nghề, giáo
dục chính quy, học hỏi qua công việc hoặc các hoạt động khác.
Trong mô hình, hàm sản xuất có dạng Cobb-Douglas, với hai hàm phụ: hàm sản xuất
hàng hóa và hàm sản xuất kiến thức
Hàm sản xuất hàng hóa:
Y(t) = AK
α
(uH)
1-α
(2.8) 13
Hàm sản xuất:
H
*
+ δH = B(1-u)H (2.9)
Trong đó: Y là sản lượng hàng hóa
A,B> 0 là tham số công nghệ
H là vốn con người
α (0 ≤ α ≤ 1) là tỷ phần của vốn vật chất
1 – α (0 ≤ α ≤ 1) là tỷ phần của lao động
u (0 ≤ u ≤ 1) là phân số của vốn con người được sử dụng trong sản xuất
1 – u (0 ≤ u ≤ 1) là phân số của vốn con người được sử dụng trong vốn con
người tạo ra
H
*
+ δH là tổng đầu tư vào vốn con người
các hoạt động R & D trong quá trình sản xuất.
Lưu ý rằng mặc dù vai trò của nguồn nhân lực trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh là
đáng chú ý, vai trò của vốn vật chất và tiến bộ kỹ thuật không được bỏ qua, trong kiểm tra
mối quan hệ giữa TFP và tăng trưởng. Người lao động ngay cả khi có đầy đủ kiến thức
cũng không thể sản xuất bất cứ điều gì mà không có thiết bị máy móc và công cụ. Tương
tự như vậy, một công nhân sử dụng máy cũ không có thể sản xuất nhiều như một công
nhân sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại và tốt hơn.
2.2.4 ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU CỦA MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI
SINH
2.2.4.1 .ĐIỂM MẠNH
- TFP không còn là một yếu tố ngoại sinh. Từ bây giờ, nó là một nội sinh: đây là
sự tiến bộ vượt trội so với lý thuyết tân cổ điển. Điểm này đặc biệt nhấn mạnh
vào mô hình học hay làm và mô hình R & D : gia tăng kiến thức xuất phát từ sự
gia tăng đầu tư ; do đó, tỷ lệ đổi mới là nội sinh. 15
- Trong các mô hình này, TFP được mở rộng trong những biểu hiện của nó: nó
không chỉ là tiến bộ kỹ thuật mà còn cải thiện trình độ công nghệ (mô hình AK)
và kiến thức mới (mô hình học hay làm và mô hình R & D).
- ‘‘Các mô hình tăng trưởng nội sinh đề cao vai trò của chính phủ trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào giáo dục đào
tạo, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghiệp sử
dụng nhiều tri thức như phần mềm máy tính, viễn thông ‘’ (Trần Thọ Đạt,
2010, trang 226).
2.2.4.2 .ĐIỂM YẾU
- Các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn phụ thuộc vào một số giả định tân cổ
điển truyền thống mà không phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển. Chẳng
hạn, các mô hình này còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạ
tầng, cấu trúc thể chế, các thị trường vốn và thị trường hàng hóa không hoàn
tăng thêm giá trị, do đó không chỉ sử dụng hợp lý, tiết kiệm Đầu vào mà còn chú trọng
chất lượng và tính hữu ích của Đầu ra.
Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải vất vả hơn.
Nguồn nhân lực và khả năng tư duy của con người đóng vai trò quan trọng trong việc đạt
năng suất cao hơn và hành động là kết quả của quá trình tư duy. Vốn và công nghệ là
quan trọng nhưng chính con người với khả năng tư duy và kỹ năng cao là yếu tố quyết
định nhất.
Năng suất không chỉ là năng suất bộ phận như năng suất lao động, năng suất vốn, mà còn
là năng suất các nhân tố tổng hợp.
Năng suất được coi là biểu hiện cho cả hiệu lực và hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực
để đạt mục tiêu, vì năng suất cao nhưng không được lãng phí tài nguyên và hủy hoại môi
trường, phải là năng suất xanh tức là năng suất được tạo ra trong các hệ thống sản xuất
sạch.
Đặc biệt năng suất theo cách tiếp cận mới không đối lập mà đồng hướng, cùng tạo nên
hiệu quả với chất lượng. Chất lượng hóa các yếu tố và các quá trình là điều kiện để tăng
năng suất với tốc độ cao và ổn định, bền vững. 17
Tóm lại, định nghĩa năng suất theo Eatwell năm 1991 thì năng suất là một tỷ lệ đo lường
sản lượng một số chỉ tiêu sử dụng đầu vào. Tương tự như vậy, Shim và Siegel (1995) đã
định nghĩa về năng suất như một "sản lượng trên một đơn vị đầu vào làm việc" trong từ
điển của họ về kinh tế hiện đại.
2.3.2 KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ TỔNG HỢP (TFP)
Case (1996) đã định nghĩa năng suất là “sản lượng đầu ra chia cho 1 đơn vị đầu vào”,
còn Tổ chức Năng suất Châu Á (APO
) xác định “
năng suất là một mối quan hệ giữa số
lượng đầu ra và số lượng đầu vào được sử dụng để tạo đầu ra”, hiểu khái quát nhất năng
suất là quan hệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào. Để tăng thêm giá trị không chỉ sử dụng
TFP sẽ tác động đến tăng trường kinh tế.
Tóm lại, TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổi
mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công
nhân,v.v
2.3.3 Ý NGHĨA
TFP phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất, phản ảnh sự thay đổi công
nghệ, trình độ lành nghề của công nhân, trình độ quản lý
TFP phản ánh chất lượng của tăng trưởng, phản ánh tăng trưởng theo chiều sâu
Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào. Điều này là rất
quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Đối với người lao
động, nâng cao TFP sẽ có góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được
cải thiện, công việc ổn định hơn. Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản
xuất.Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao
phúc lợi xã hội.
2.3.4 TỐC ĐỘ TĂNG TFP
Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP (TFPG – total factor productivity growth) là tỉ lệ tăng lên của kết
quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp theo nguồn lực, nó phản ánh toàn diện về
chiều sâu của quá trình sản xuất kinh doanh, là một trong những chỉ tiêu chất lượng quan
trọng nhất để đánh giá chất lượng tăng trưởng của một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ 19
nền kinh tế quốc dân.
Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp phản ánh tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ
là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong một
thời gian nhất định
2.3.5 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG TFP
Tăng trưởng TFP chịu tác động bởi nhiều nhân tố. Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu thực