TÁC ĐỘNG CỦA MỞ CỦA THƯƠNG MẠI VÀ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM - Pdf 29

TR
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG

ĐẠI

HỌC

KINH

TẾ

THÀNH

PHỐ

HỒ

CHÍ

MINH NGUYỄN THỊ KIM KHÁNH TÁC ĐỘNG CỦA MỞ CỬA THƢƠNG MẠI VÀ
THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN HIỆU


2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG

ĐẠI

HỌC

KINH

TẾ

THÀNH

PHỐ

HỒ

CHÍ

MINH

NGUYỄN THỊ KIM KHÁNH




KINH

TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn

khoa

học:

GS.TS.Trần Ngọc

Thơ

TP.

HỒ

CHÍ

MINH - NĂM

2013
1



Nguyễn Thị Kim Khánh

2

MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
1
LỜI

CAM

ĐOAN
1
MỤC LỤC 2
DANH

MỤC

TỪ

VIẾT

TẮT
4
DANH


2.2 Mô hình nghiên cứu 24
2.3 Phân chia các giai đoạn nghiên cứu 25
2.4 Các bƣớc thực hiện nghiên cứu 28
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Kiểm định đơn vị 29
3.2 Kiểm định nhân quả Ganger 31
3.3 Chọn độ trễ tối ƣu của mô hình 31
3.4 Kiểm định tính ổn định của mô hình 33
3

3.5 Phân tích phản ứng xung 33
3.6 Kết quả phân rã phƣơng sai giá tiêu dùng 40
KẾT LUẬN CHUNG 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Phụ lục 1: Các kiểm định đơn vị ADF cho các biến trong mô hình Var cho từng giai đoạn 48
Phụ lục 2: Kết quả kiểm định Ganger 57
Phụ lục 3: Kết quả chạy mô hình VAR đầy đủ của giai đoạn 2001-2006 62
Phụ lục 4: Kết quả chạy mô hình VAR đầy đủ của giai đoạn 2007-2012 67

- USD: Đô la Mỹ
- VAR: Vector Autoregression – Mô hình tự hồi quy véc tơ
- WB: Ngân hàng thế giới
- WTO: Tổ chức thương mại thế giới
5 DANH

MỤC

BẢNG- Bảng 3.1: Kết quả kiểm định đơn vị cho CPI giai đoạn 2001-2006
- Bảng 3.2: Kết quả chọn độ trễ tối ưu
- Bảng 3.3: Tóm tắt kết quả ước lượng hệ số trong mô hình VAR cho CPI trong
hai giai đoạn
- Bảng 3.4: Tóm tắt phản ứng tích lũy của giá tiêu dùng trước cú sốc 1% của IP,
M2, NEER giai đoạn 2001-2006 và 2007-2012
- Bảng 3.5: Tóm tắt kết quả phân rã phương sai của CPI theo cơ chế cơ chế phân
rã phương sai Cholesky cho giai đoạn 2001-2006
- Bảng 3.6: Tóm tắt kết quả phân rã phương sai của CPI theo cơ chế cơ chế phân
rã phương sai Cholesky cho giai đoạn 2007-2012

giá trị sản xuất công nghiệp, cung tiền, tỷ giá, và giá tiêu dùng được ước tính
cho từng thời kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong khi không phải là yếu tố
quyết định lớn nhất của sự biến đổi giá cả, tỷ giá hối đoái đã tăng tầm quan
trọng trong giai đoạn 2007-2013. Bằng chứng cho thấy sự hỗ trợ yếu về tầm
quan trọng của môi trường lạm phát trong khi sự mở cửa là một yếu tố chi
phối trong việc xác định mức độ ERPT. 7

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, biến động chỉ số giá tiêu dùng luôn ở mức cao, đó
không chỉ là mối quan tâm của chính phủ, các nhà kinh tế học mà còn là mối
quan tâm củatừng cá nhân. Vấn đề đặt ra là độ mở cửa thương mại và chính
sáchtiền tệ có tác động lên hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng ở Việt
Nam hay không? Và nếu có thì xu hướng và mức độ tác động như thế nào?Để
trả lời cho các câu hỏinày, tác giả đã thực hiện nghiên cứu: “Tác động của mở
cửa thương mại và thay đổi chính sách tiền tệ lên hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá
ở Việt Nam” để làmluận văn bảo vệ khóa học thạc sĩ của mình.

- Cung tiền (M2) của Việt Nam
- Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực (NEER) của VND/USD.
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam.
- Chính sách thương mại của Việt Nam.
- Chính sách tiền tệ của Việt Nam.
- Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực vào chỉ số
giátiêu dùng tại Việt Nam.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào
chỉ sốgiá tiêu dùng của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá vào giá cả tiêu
dùng tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2001-2012.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
9

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn: Phương
pháp định lượng:
o Tác giả sử dụng kiểm định đơn vị ADF để kiểm định tính dừng của
các biến nghiên cứu, kiểm định Ganger để kiểm định mối quan hệ
nhân quả giữa các biến nghiên cứu.
o Tác giả sử dụng mô hình VAR để đo lường mức độ truyền dẫn của
tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu Việt Nam dùng trong ngắn hạn từ
2001-2012.
6. Dữ liệu nghiên cứu
Trong luận văn tác giả đã sử dụng số liệu thống kê từ các nguồn dữ liệu:Ngân
hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹtiền tệ quốc tế (IMF), Tổng cục thống kê
Việt Nam (GSO) trong khoảngthời gian từnăm 2001 đến 2012.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, giới thiệu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận
văngồm các phần sau:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào giá

1.1 Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào giá cả trong nƣớc
1.1.1 Sự truyền dẫn của tỷ giá vào giá nhập khẩu
Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá nhập khẩu được hiểu là
phần trăm thay đổi giá cả hàng hóa nhập khẩu tính theo đồng tiền của quốc
gia nhập khẩu từ việc thay đổi một phần trăm của tỷ giá hối đoái giữa đồng
tiền của quốc gia nhập khẩu và đồng tiền của quốc gia xuất khẩu.
Theo thuyết Ngang giá sức mua (PPP), một lý thuyết được phát triển vào năm
1920 bởi Gustav Cassel. Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái
giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này. Lý thuyết ngang
giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị
trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá.
Công thức tính ngang giá sức mua như sau:
S=P
1
/P
2

Trong đó: S: là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2
P
1
: là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1
P
2
: là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2
Như vậy theo PPP thì EPRT vào giá cả hàng hóa là toàn phần. Tuy nhiên trên
thực tế có nhiều nguyên nhân khiến tỷ giá lệch khỏi PPP, một trong những
nguyên nhân đó là chi phí vận chuyển và phân phối theoObstfeld & Rogoff
(2000).
1.1.2 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng
12

nếu các công ty xuất khẩu cho rằng sự biến động này chỉ là tạmthời thì công
ty xuất khẩu sẽ chấpnhận giảm lợi nhuận để không điều chỉnh giá bán hàng
hóa vì việc điều chỉnh giáhàng hóa sẽ phải phát sinh thêm các chi phí khác.
Trongtrường hợp này mức độ truyền dẫn của tỷ giá có mối quan hệ ngược
chiều với sựbiến động của tỷ giá.Ngược lại, nếu như các công ty xuất khẩu
nhận thấy rằng sựbiến động này sẽ kéo dài và tồn tại lâu thì sẽ điều chỉnh giá
bán.Trong trường hợpnày mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái sẽ có mối
quan hệ cùng chiều với mức độbiến động của tỷ giá hối đoái.Như vậy mức độ
biến động của tỷ giá hối đoái có thể có mối tương quan thuận, cũng có thể có
mối tương quan nghịch với mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào giá cả
hàng hóa.
1.2.2 Chính sách tiền tệ và lạm phát trong nƣớc
Theo
McLeod

(2003):
Xem xét tiền cơ sở tác động đến cú sốc chính sách tiền
tệ, cho rằng,lạm phát cao của Indonesia sau cuộc khủng hoảng tiền tệ chủ yếu
gây ra bởisự gia tăng tiền cơ sở, hệ quả của các chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Indonesia.Bernanke và các cộng sự (1999):cho rằng duy trì một mục
tiêu lạm phát trên 0% nhưng không quá cao (dưới 3%), trong khoảng thời gian
dài không dẫn đến sự bất ổn trong kỳ vọng lạm phát của công chúng hoặc làm
giảm sự tín nhiệm của NHTW.
Môi trường lạm phát cũng ảnh hưởng đến phản ứng giá đối với các thay đổi
trong tỷ giá (Taylor, 2000). Ca 'Zorzi, Hahn và Sánchez (2007): một môi
trường lạm phát tăng ERPT và ngược lại. Xu hướng giảm gần đây trong ERPT
14

quan sát thấy trong nghiên cứu, như lập luận của Taylor (2000), trùng hợp với
một sự thay đổi môi trường lạm phát thấp (gọi là giả thuyết của Taylor).

truyền dẫn tỷ giá cao hơn.Một quốc gia có tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu lớn
thì mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào giá cả sẽ lớn.
1.3 Các nghiên cứu trƣớc đây
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, các nhà nguyên cứu kinh tế đã sử dụng các phương pháp khác
nhau để nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ sốgiá, cũng như
các yếu tố tác động đến sự truyền dẫn tỷ giá, có thể kể tóm lược một số
nghiên cứu như sau:
Phƣơng pháp Var
McCarthy, J. (2000): sử dụng Mô hình VAR đệ qui (recursiveVAR) để
nghiên cứu mức tác động của tỷ giá hối đoái và chỉ số giánhập khẩu đến chỉ
số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng tại một số nền kinh tế pháttriển giai
đoạn 1976 – 1998. Kết quả nghiên cứu cho thấy: 1) việc nâng giá đồng nộitệ
sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài với thời gian ít nhất là 1
năm ởhầu hết các nước khảo sát. 2) Phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số
giá tiêudùng đối với chỉ số giá nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở
hầu hết cácnước được khảo sát.
Faruqee (2006): Tác giả sử dụng mô hình VAR để xem xét mức độ truyền
dẫn củanhững cú sốc tỷ giá vào các chỉ số giá ở khu vực sử dụng đồng tiền
16

EURO. Kết quảnghiên cứu như sau: (1) mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn
vào các chỉ số giá thì thấp, tương tự như Mỹ, mức tác động của các cú sốc về
tỷ giá trong ngắn hạn vàochỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá
nhập khẩu gần như bằng 0; (2)mức độ truyền dẫn có xu hướng gia tăng và có
tác động lớn nhất vào chỉ số giá nhậpkhẩu, tiếp theo là chỉ số giá sản xuất và
nhỏ nhất là chỉ số giá tiêu dùng. Các yếu tốvề hệ thống bán lẻ và chi phí phân
phối được cho là ảnh hưởng đến sự khác nhaugiữa mức độ truyền dẫn vào chỉ
số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng.
Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato (2006):Tác giả đã sử dụng mô hình VAR để

khi không phải là yếu tố quyết định lớn nhất của sự biến đổi giá cả, tỷ giá hối
đoái đã tăng tầm quan trọng trong giai đoạn mẫu. Kết quả cũng cho thấy rằng
có rất có ý nghĩa nhưng không đầy đủ ERPT đang gia tăng trong giai đoạn
mẫu. Bằng chứng cho thấy sự hỗ trợ yếu về tầm quan trọng của môi trường
lạm phát trong khi sự mở cửa là một yếu tố chi phối trong việc xác định mức
độ ERPT.
Phƣơng pháp khác:
McLeod (2003): Phát triển nghiên cứu tiền cơ sở tác động đến cú sốc
chínhsách tiền tệ, cho rằng lạm phát cao của Indonesia sau cuộc khủng hoảng
tiềntệ chủ yếu gây ra bởi sự gia tăng tiền cơ sở, hệ quả của các chính sách tiền
tệcủa Ngân hàng Indonesia.
Cook, David & Devereux, Michael B., (2006): Kiểm tra phản ứng chính sách
tiền tệ của các nước Đông Á trong cuộc khủng hoảng bằng cách sử dụng một
mô hình cân bằng tổng quát động (Dynamic General Equilibrium Model).Kết
18

quả nghiên cứu cho thấy: Thứ nhất, cuộc khủng hoảng là một hiện tượng khu
vực; độ sâu và mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng đã làm trầm trọng
thêm bởi sự sụt giảm lớn trong nhu cầu trong khu vực. Thứ hai, sự thống trị
của đồng đô la Mỹ trong việc định giá hàng xuất khẩu ở châu Á dẫn đến một
hiệu ứng lan truyền nội bộ mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng trong khu vực,
góp phần to lớn cho sự suy giảm trong hoạt động thương mại trong khu
vực. Ưu điểm chính của mô hình trên là nó có thể giải thích những phản ứng
rất chậm từxuất khẩu sang tỷ giá thực tế lớn diễn ra trong cuộc khủng hoảng.
Ghosh và Rajan (2007):. Bằng phươngpháp hồi qui theo mô hình VECM và
ECM, tác giả đã đo lường mức độ truyền dẫncủa tỷ giá (ERPT) vào chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) ở Ấn Độ trong giai đoạn 1980 đến 2005, kết quả nghiên cứu
chỉra rằng mức độ truyền dẫn của tỷ giá song phương giữa đồng Rubee với
USD vàoCPI vào hoảng 0,4% trong dài hạn và 0,1% trong ngắn hạn; mức độ
truyền dẫn củatỷ giá danh nghĩa hiệu lực ở Ấn Độ (Neer) vào CPI thì không

cho phù hợp với điều kiện thực tế (tồn tại rào cản thương mại, chi chíphân
phối…) như độ trễ của biến giá hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc
gianhập khẩu và xuất khẩu, độ trễ của biến tỷ giá hối đoái giữa hai quốc gia
và biến độchênh sản lượng (output gap) để phân tích mối quan hệ giữa chỉ số
giá nhập khẩuhay chỉ số giá tiêu dùng và sự biến động của tỷ giá hối đoái ở
các quốc gia trong nhóm G7 trong giai đoạn từ 1975 đến 2004. Kết quả
nghiên cứu cho thấy có sự sụtgiảm trong mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối
đoái vào chỉ số giá nhập khẩu và chỉ sốgiá tiêu dùng trong giai đoạn nghiên
cứu. Cụ thể, đối với chỉ số giá nhập khẩu, tronggiai đoạn từ 1975 đến 1980
nếu đồng tiền ở quốc gia nhập khẩu bị mất giá 10% thìgiá nhập khẩu sẽ gia
tăng khoảng 7% và gia tăng khoảng 4% trong giai đoạn từ1980 đến 2004; đối
20

với giá tiêu dùng, trong giai đoạn từ 1975 đến 1980, nếu đồngtiền của quốc
gia nhập khẩu bị mất giá 10% thì giá tiêu dùng tăng khoảng 2% vàgần như
không thay đổi trong giai đoạn còn lại.
Ilan Goldfajn and Sergio R.C. Werlang (2000): bài nghiên cứu này xem xét
mốiquan hệ giữa phá giá và lạm phát ở 71 quốc gia trong giai đoạn 1980 –
1998. Nhữngyếu tố quyết định mức truyền dẫn từ việc phá giá (hay định giá
cao) đồng tiền đếnlạm phát là chu kỳ kinh doanh, mức độ định giá cao của tỷ
giá ban đầu, điều kiệnlạm phát và độ mở của nền kinh tế. Bài nghiên cứu đã
chứng minh rằng: Thứ nhất, mức độtruyền dẫn khi phá giá (hoặc định giá
cao) vào lạm phát gia tăng theo thời gian vàlớn nhất sau 12 tháng; Thứ hai,
các yếu tố mức độ định giá cao tỷ giá, lạm phát ban đầu,độ mở nền kinh tế và
độ chênh sản lượng (output gap) đều ảnh hưởng đến độ lớncủa sự truyền dẫn
ở những mức độ khác nhau, trong đó mức độ định giá cao của tỷgiá ảnh
hưởng lớn đến mức độ truyền dẫn ở các nước đang phát triển, trong khi
đóđiều kiện lạm phát ban đầu lại có ý nghĩa ở các nước đã phát triển; Thứ ba,
tác giả cũngphát hiện ra yếu tố kỳ vọng có ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn
nhưng rất nhỏ.

nhập khẩu sau 6 tháng là 1.04, sau 1 năm là 0.21; tuy nhiên mức truyền dẫn
đến chỉ số giá tiêu dùng trong 4 tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy sau
1 năm chỉ là 0,13 – ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Do việc tác
động ERPT lên chỉ số giá tiêu dùng là khá thấp, một sự linh hoạt hơn của cơ
chế tỷ giá hối đoái ví dụ như cho phép sự biến động biên độ tỷ giá hối đoái
lớn hơn được tác giả khuyến nghị.
22

Bạch Thị Phương Thảo (2011): tác giả đã sử dụng phương pháp VAR để tính
mứcđộ truyền dẫn của các cú sốc tỷ giá danh nghĩa hiệu lực vào các chỉ số giá
tiêu dùng(CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá nhập khẩu (IMP) của Việt
Nam tronggiaiđoạn Q1 2001 đến Q2 2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức
độ truyền dẫn của tỷgiá vào chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất (IMP), kế tiếp là
chỉ số giá sản xuất (PPI)và nhỏ nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), cụ thể mức
độ truyền dẫn của các cú sốctỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng sau 4 quý là 0,13
và sau 5 quý là 0,39.
Nguyễn Thị Ngọc Trang & Lục Văn Cường (2012): nghiên cứu sự chuyển
dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại VN cho giai đoạn từ quý 1 năm 2001
đến quý 4 năm 2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong dài hạn, sự
chuyển dịch là hoàn toàn.Điều này có nghĩa là khi tỷ giá tăng 1% (đồng nội tệ
mất giá 1%) thì giá nhập khẩu tăng 1%. Tác giả cũng tìm ra được bằng chứng
cho thấy sự chuyển dịch vào chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó đến chỉ
số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng. Bài viết cũng phát hiện không có sự
chuyển dịch bất cân xứng (sự chuyển dịch là như nhau) vào giá nhập khẩu
cho dù là mức độ thay đổi tỷ giá hối đoái lớn hay nhỏ.
Trần Ngọc Thơ & Nguyễn Hữu Tuấn (2013): tác giả sử dụng mô hình SVAR
để nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn từ
tháng 1 năm 2000 đến tháng 4 năm 2012, được chia thành 2 giai đoạn trước
và sau khi gia nhập WTO. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thắt chặt tiền tệ
để giảm lạm phát có hiệu quả sau khi VN gia nhập WTO. Tuy nhiên hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status