Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên giá nhập khẩu và giá tiêu dùng tại Việt Nam - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH



ĐINH LỆ MỸ TRANG

NGHIÊN CỨU SỰ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI LÊN GIÁ NHẬP KHẨU VÀ GIÁ TIÊU DÙNG
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - 2012BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

ĐINH LỆ MỸ TRANG

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, bạn bè, gia đình và các đồng nghiệp.
Trước hết tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành đến người hướng dẫn
khoa học, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Định, về những ý kiến đóng góp, những chỉ
dẫn có giá trị giúp tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin gửi lời cám ơn đến gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã hết
lòng ủng hộ và động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2012
Học viên
Đinh Lệ Mỹ Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi
xin cam đoan luận văn “Đo lường sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên giá nhập khẩu
và giá tiêu dùng tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011” được thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS. TS Nguyễn Ngọc Định là công trình nghiên cứu nghiêm túc và được đầu tư kỹ
lưỡng của tôi. Các số liệu và nội dung trong luận văn là hoàn toàn trung thực và đáng tin
cậy.

Tác giả Đinh Lệ Mỹ Trang



DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng cho các biến: 14.
Bảng 4.2 Chọn độ trễ tối ưu cho mô hình Var: 15.
Bảng 4.3: Kết quả hàm phản ứng xung của các chỉ số giá với cú sốc 1% từ NEER: 18.
Bảng 4.4 Kết quả nghiên cứu độ lơn ERPT của Võ Văn Minh (2009): 20.
Bảng 4.5 kết quả nghiên cứu ERPT ở một số nước Châu Á trong khu vực: 21.
Bảng 4.6: Kết quả hàm phản ứng xung của các chỉ số giá với cú sốc 1% từ NEER
theo thứ tự 2: 22.
Bảng 4.7: Kết quả hàm phản ứng xung của các chỉ số giá với cú sốc 1% từ NEER
theo thứ tự 3: 23.
Bảng 4.8: Kết quả hàm phản ứng xung của các chỉ số giá với cú sốc 1% từ NEER
theo thứ tự 4: 24.
Bảng 4.9 Tầm quan trọng của các biến số trong việc thay đổi của IMP : 25.
Bảng 4.10 Tầm quan trọng của các biến số trong việc thay đổi của CPI : 26.

MỤC LỤC
1. TÓM TẮT 1
2. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU 8
3.1 Phương pháp nghiên cứu chung: 8
3.2 Mô hình thực nghiệm: 9
3.3 Các bước thực hiện trong quá trình thực nghiệm mô hình Var : 10
3.4 Lựa chọn các biến cho mô hình và cơ sở dữ liệu phục vụ cho phân tích 11
3.4.1 Tỷ giá hối đoái: 12
3.4.2 Giá dầu: 13
3.4.3 Biến sản lượng (GDP): 13

PHỤ LỤC 12 phân rã phương sai mô hình thứ tự số 4 75
PHỤ LỤC 13: KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI, LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM: 79
1. Tổng quan tình hình Kinh tế Việt Nam qua các năm: 79
2. Môi trường lạm phát cao của Việt Nam: 81
2.1 Diễn biến lạm phát Việt Nam cụ thể qua các thời kỳ như sau: 81
2.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát tại Việt Nam: 82
3 Thực trạng tỷ giá hối đoái tại Việt Nam: 85
3.1 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 2000-2011 85
3.2 Việt Nam đồng đang được định giá cao hay thấp? 86
3.4 Tỷ giá hối đoái và chỉ số giá tiêu dùng CPI: 90
- 1 -
1. TÓM TẮT
Trong nhiều cuộc thảo luận về kinh tế quốc tế, vấn đề tỷ giá hối đoái thường đặt ở
vị trí trung tâm. Qua đó càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của tỷ giá trong sự ổn
định nền kinh tế. Vấn đề về sự biến động của tỷ giá làm ta nhớ lại nhiều cuộc khủng
hoảng tài chính nền kinh tế mới nổi như ở Mexico vào năm 1994, Thái Lan,
Indonesia và Hàn Quốc vào năm 1997, Brazil và Nga vào năm 1998, Argentina vào
năm 2000, và Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2000, và một lần nữa vào năm 2001, liên quan
đến một cuộc khủng hoảng tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái, một trong những yếu tố kết nối các nền kinh tế quốc gia, chính vì
đặc tính kết nối này, cho nên một sự biến động trong tỷ giá hối đoái đã gây ra cho
một số cuộc khủng hoảng tài chính khu vực hoặc toàn cầu. Tùy vào đặc điểm của
từng nền kinh tế khác nhau mà việc nhanh chóng toàn cầu hóa và đóng góp quốc tế
là khác nhau. Điều này đã làm cho tỷ giá hối đoái càng trở nên quan trọng hơn bao
giờ hết trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức ổn định
kinh tế vĩ mô như hiện nay. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến một
yếu tố bên ngoài, mà còn tác động toàn bộ đến nền kinh tế. Một trong những tác
động quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái trong một nền kinh tế đó là tác động của nó
đối với lạm phát, và nhập khẩu. Tác động mạnh mẽ của tỷ giá đến lạm phát thông

tăng qua các quý. Mức truyền dẫn lên chỉ số giá nhập khẩu là cùng chiều và lớn
nhất ở quý thứ 8 (2,65). Mức truyền dẫn lên chỉ số giá nhập khẩu là hoàn toàn kể từ
quý thứ 6 trở đi. Mức truyền dẫn tỷ giá lên chỉ số CPI trong 6 quý đầu là không
cùng chiều, tức là trong giai đoạn đầu (từ quý 1 đến quý 6) thì khi tỷ giá tăng 1%
thì làm cho chỉ số CPI giảm lần lượt 0,07%(quý 1), 0,14% (quý 2), 0,6% (quý 3),
1,04% (quý 4), 1,04% (quý 5), 0,6% (quý 6). Mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ
số CPI là cùng chiều kể từ quý thứ 7 trở đi. Đặc biệt mức truyền dẫn này là hoàn
toàn ở quý thứ 8.
- 3 -
2. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trải qua 2 thập kỷ, một lượng lớn tài liệu kinh tế về ERPT ngày càng được
phát triển. Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm xem
xét vai trò của ERPT ở nền kinh tế lớn và cả nền kinh tế nhỏ. Những đề tài hướng
vào các quốc gia phát triển như đề tài của Anderton (2003), Campa và Goldberg
(2004), Campa (2005), Gagnon và Ihrig (2004), Hahn (2003), Ihrig (2006) và
McCarthy (2000), Mann (1986), Goldberg and Knetter (1997). Cũng có 1 học thuyết
phát triển nhanh được ứng dụng cho các nền kinh tế mới nổi có cùng nét tương
đồng như thuyết của Choudhri và Hakura (2006), Frankel (2005) và Mihaljet
(2000), Ito và Sato (2006), Rudrani Bhattacharya (2008).
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái
niệm “truyền dẫn tỷ giá hối đoái”. Khi nghiên cứu về vấn đề “truyền dẫn tỷ giá hối
đoái” tại các nước công nghiệp, các nhà kinh tế học thường chú ý mức biến động của
tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu và mức ấn định giá bán của từng lĩnh vực sản
xuất. Theo như Mann (1986) nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số
giá nhập khẩu của Hoa Kỳ và xem xét mức tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái
đến việc thiết lập giá bán của một số lĩnh vực sản xuất tại Hoa Kỳ. Hay theo như
Goldberg and Knetter (1997) trong nghiên cứu của mình đã định nghĩa truyền dẫn

Trong trường hợp của Việt Nam (nằm trong nhóm nước đang phát triển) nên
luận văn này tác giả sẽ định nghĩa truyền dẫn tỷ giá theo như các nghiên cứu thực
nghiệm áp dụng cho các nước đang phát triển tức là: “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái là
phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay
đổi một phần trăm”. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu (IMP)
và chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nếu tỷ giá thay đổi 1% làm cho chỉ số giá cả thay đổi
1% thì sự truyền dẫn được gọi là hoàn toàn (complete pass-through), và nếu nhỏ
- 5 -
hơn 1% thì sẽ được gọi là sự truyền dẫn không hoàn toàn (incomplete pass-
through).
Cái gì gây nên sự khác biệt về ERPT giữa các quốc gia?
Các nhà kinh tế học thường giả định đơn giản rằng giá của hàng hóa ngoại thương
được quy đổi về cùng 1 loại tiền tệ thì như nhau ở các quốc gia. Có nghĩa rằng giữ
vững trạng thái ngang bằng sức mua. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn các giả định này
thường ít thuyết phục, ít nhất là trong trường hợp mẫu nhỏ và thời gian kéo dài từ
ngắn hạn đến trung hạn. Theo những bằng chứng mà học thuyết về ERPT đã phát
triển qua 2 thập kỷ này đã cung cấp những lý giải khác nhau về tại sao ERPT lại
không hoàn toàn và khác biệt giữa các quốc gia. Nhiều kiểm định thực nghiệm cho
thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi nước và thời gian, cũng như giá
cả ở những mắc xích của dây chuyền sản xuất (gía nhập khẩu, giá nhà sản xuất và
giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi một quốc gia.
Xét trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công
ty, đến lượt nó chính sách định giá của công ty lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành.
Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổi
mức lợi nhuận của công ty nhằm đối phó với sự thay đổi của tỷ giá. Cơ sở lý luận
của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Donbursch (1987), trong
đó những khác biệt về ERPT được lý giải là do mức độ tập trung hóa của thị trường,
mức độ thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế của hàng hóa nhập khẩu
và hàng hóa sản xuất trong nước. Còn Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh
tranh càng cao (lợi nhuận biên nhỏ) và tỷ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh

thì mức độ truyền dẫn tỷ giá càng lớn. Điều này đã được khẳng định qua các nghiên
cứu của McCarthy (2000), Katherine H. Anderson (2005). Một biến kinh tế vĩ mô
khác có ảnh hưởng đến độ lớn ERPT, đó là tính ổn định của tổng cầu (Mann, 1986).
Những thay đổi của tổng cầu cùng với giao động của tỷ giá ảnh hưởng đến tỷ suất
lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đồng thời
làm giảm ERPT. Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia có tổng cầu biến động
nhiều hơn. Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đến ERPT. Một nước với
- 7 -
đồng tiền quốc gia kém ổn định có tỷ lệ nhập khẩu khá lớn được định giá bằng
ngoại tệ thì việc yết giá bằng ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơn đối với các công ty chỉ
kinh doanh trên thị trường nội địa. trong tình huống này, tỷ giá có những tác động
không chỉ đối với hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với hàng hóa chỉ sản xuất và tiêu
dùng trong nước (non-tradables), và ERPT sẽ toàn phần ( Tsesliuk, 2002). Một nhân
tố khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là những khác
biệt trong mức lạm phát. Nhiều nghiên cứu chứng minh mức truyền dân tỷ giá là
thấp đối với các quốc gia có môi trường lạm phát ban đầu thấp, ngược lại ở các
quốc gia có môi trường lạm phát cao thì mức truyền dẫn tỷ giá sẽ lơn hơn, tiêu biểu
là nghiên cứu của Taylor (2000) đối với các nước phát triển, Michele Ca’ Zorzi
(2007) đối với các nước đang phát triển và Anderson (2005) đối với các nền kinh tế
nhỏ và có độ mở cao. Giải thích cho kết luận trên có thể được lập luận rằng tại các
nước có môi trường lạm phát cao tỷ giá hối đoái danh nghĩa được các NHTW công
bố chỉ mang tính chất tạm thời và dễ biến động, tỷ giá được điều chỉnh nhiều lần
khiến các công ty có nhiều lý do để tăng giá bán sản phẩm; hơn thế nữa trong môi
trường lạm phát cao giá cả mọi mặt hàng đều tăng cao nên người tiêu dùng dễ chấp
nhận việc tăng giá hơn là trong môi trường lạm phát thấp.
Joseph E. Gagnon và Jane Ihrig (2004) trong nghiên cứu của mình cho thấy rằng ở
các nước thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì ERPT là thấp hơn hẳn so với các
nước khác; nguyên nhân là do những nhà sản xuất và phân phối khi biết Chính phủ
thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì sẽ e ngại hơn trong việc điều chỉnh tăng giá
bán sản phẩm mà thay vào đó họ chấp nhận giảm lợi nhuận biên (trong một giới hạn

ycy
1
1


Trong đó:
t
Y
: là vecto đại diện cho biến nội sinh
c
: là giá trị trung bình không đổi
i

: là ma trận hệ số tự động hồi quy

t

: là sai số ngẫu nhiên (thường là nhiễu trắng)
Mô hình Var về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình)
và có các trễ của các biến số. Var là mô hình động của một số biến thời gian. Trong
mô hình trên, mỗi phương trình đều chứa p trễ của mỗi biến.
- 9 -
Giá trị của một biến số trong mô hình VaR chỉ phụ thuộc vào giá trị trong
quá khứ của các biến số. Do đó, việc ước lượng các phương trình không đòi hỏi các
thông tin nào khác ngoài các biến số của mô hình. Khi dự báo, sử dụng mô hình
VaR chỉ sử dụng trong ngắn hạn ngay cả trường hợp sử dụng dự báo động.
Mô hình VaR đòi hỏi các biến số đều là biến dừng. Cho nên khi xét đến mô
hình VaR ta phải xét đến tính dừng của các biến trong mô hình. Yêu cầu đặt ra khi
ta ước lượng mô hình VaR là tất cả các biến phải dừng, nếu trong trường hợp các
biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng. Càng khó khăn

- 10 -
đồng thời sẽ tác động đến các biến tương ứng và các biến ở phía sau, nhưng lại
không có tác động gì đến những biến đứng trước.
Trong trường hợp của chúng tôi là giá dầu được đặt lên đầu tiên. Những biến
động của giá dầu có thể ảnh hưởng đến tất cả các biến khác trong mô hình nhưng giá
dầu không thể chính nó bị ảnh hưởng cùng lúc bởi bất kỳ biến động nào khác.
Những biến số tiếp theo trong mô hình là biến sản lượng đầu ra, lãi suất cơ
bản và tỉ giá hối đoái. Những biến số giá được sắp xếp tiếp theo và theo đó được
ảnh hưởng cùng lúc đến tất cả những biến động đã đề cập ở trên (cú sốc giá dầu, cú
sốc cầu, cú sốc tiền tệ, cú sốc tỉ giá). Theo chuỗi giá cả, giá nhập khẩu đặt trước giá
tiêu dùng cho phép một sự tác động cùng lúc của giá nhập khẩu đến giá tiêu dùng
nhưng không có chiều ngược lại. Các kỹ thuật cơ bản thể hiện chỉ là một trong
nhiều lựa chọn thay thế hợp lý trong điều kiện hiểu biết cho phép. Do đó, tác giả
thực hiện phân tích sự biến động (độ nhạy) bằng cách sử dụng các mô hình khác,
còn gọi là kiểm định Robustness.
Trong bài nghiên cứu của chúng ta, các biến là những biến, biến đổi theo thời
gian và chịu sự tác động qua lại lẫn nhau. Chính vì những mối liên hệ tác động qua
lại lẫn nhau của các biến nêu trên nên việc chọn mô hình VaR để kiểm định là hoàn
toàn phù hợp.
Mô hình var cho nghiên cứu thực nghiệm có dạng:




n
i
ttit
YBcY
1
1

Do một số khó khăn về sự sẵn có và độ tin cậy của số liệu, chúng tôi tiến
hành ước lượng một số quý ở Việt Nam với số liệu theo quý bắt đầu từ quý I năm
2000 đến quý 4 năm 2011.
Số liệu sử dụng là số liệu chuỗi thời gian theo quý, lấy chủ yếu từ 2 nguồn
chính – Tổng cục Thống kê Việt Nam và IMF’s International Financial Statistics –
IFS cho giai đoạn 2000 – 2011. Giá dầu được lấy theo dữ liệu trên trang Blomberg.
GDP được lấy từ nguồn của tổng cục Thống kê Việt Nam. Chỉ số giá tiêu dùng
được sử dụng để đo lường lạm phát trong nước, số liệu được tìm thấy từ Tổng cục
Thống kê Việt Nam. Tỷ giá hối đoái ở đây sử dụng tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa
phương lấy từ cơ sở dữ liệu IFS – Bộ kế hoạch và đầu tư – và tính toán riêng. Cuối
cùng là lãi suất cơ bản, dữ liệu được lấy từ Ngân Hàng Nhà Nước. Tất cả các biến,
đều được điều chỉnh tính mùa vụ.
Dữ liệu được quy về kỳ gốc Q1 2000
Dữ liệu được mô tả chi tiết như sau:
- 12 -
3.4.1 Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái sử dụng ở đây là tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER).
NEER không phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số
loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của
các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng.
Giỏ tiền tệ mà tác giả đưa vào ở đây gồm 20 nước là đối tác thương mại
chính của Viêt Nam là Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan,
Úc, Hồng Kong, Đức, Malaysia, Pháp, Indonesia, Anh, Hà Lan, Nga, Philippin,
Thụy Điển, Italia, Đan Mạch, Ấn Độ. Các đối tác thương mại này chiếm khoảng
90% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NEER) được sử dụng bởi vì nó phản ánh tỷ lệ
chuyển đổi tỷ giá của Việt Nam với các đối tác giao dịch tương ứng của nó tốt
hơn. NEER được thể hiện trong VND/tỷ giá ngoại tệ. Vì vậy, sự gia tăng của NEER
có nghĩa là sự giảm giá của VND, và giảm của NEER có nghĩa là một sự tăng giá
của VND. Các hoạt động kinh doanh của quốc gia thường cao hơn vào cuối và đầu

trọng thương mại của nước j trong tổng kim ngạch thương mại của
Việt Nam với các nước được chọn.
3.4.2 Giá dầu:
Giá dầu được sử dụng để cho thấy cú sốc về cung trong nền kinh tế. Một cú
sốc cung sẽ ảnh hưởng lên giá nhập khẩu và do đó cũng tác động lên giá nội địa. Dữ
liệu về giá dầu được lấy từ Blomberg. Vì giá dầu cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa
vụ nên điều chỉnh yếu tố mùa vụ theo phương pháp Census X12.
3.4.3 Biến sản lượng (GDP):
Biến sản lượng đại diện cho đầu ra của nền kinh tế, nó cho thấy tình hình
phát triển kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ cần nghiên cứu. Ở đây, tác giả sử dụng
biến GDP để đưa vào mô hình nghiên cứu. Vì biến GDP cũng thay đổi theo yếu tố
mùa vụ nên cũng cần có sự điều chỉnh theo mùa theo phương pháp Census X12.
3.4.4 Chỉ số gía nhập khẩu (IMP):
IMP được dùng để đo lường giá cả hàng hóa nhập khẩu. Dữ liệu được lấy từ
Tổng cục Thống kê Việt Nam và tính toán của tác giả.
3.4.5 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):
Thông thường CPI được dùng để đo lường lạm phát nội địa. Trong bài
nghiên cứu này cả hai CPI và lạm phát thì được dùng thay thế cho nhau. Dữ liệu
được lấy từ IFS và được điều chỉnh theo yếu tố mùa vụ nhằm loại trừ ảnh hưởng
của nhân tố mùa vụ. CPI thường cao ở đầu và cuối năm cũng như dịp lễ. Điều chỉnh
mùa vụ theo phương pháp Census X12.
3.4.6 Lãi suất:
Biến lãi suất được đưa vào mô hình để đại diện cho chính sách tiền tệ của Việt
Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Lãi suất được lấy theo lãi suất cơ bản của NHNN
Việt Nam. Biến lãi suất cũng điều chỉnh theo mùa theo phương pháp Census X12.
- 14 -
4. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CHO VIỆT NAM
4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị và lựa chọn độ trễ cho mô hình:
Trước khi đo lường mức truyền dẫn tỷ giá bằng mô hình Var đệ quy tác giả tiến
hành thực hiện kiểm định ADF để kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình.

Exogenous variables: C
Date: 10/27/12 Time: 23:33
Sample: 2000Q1 2011Q4
Included observations: 43 Lag LogL LR FPE AIC SC HQ
LR: sequential modified LR
test statistic (each test at 5%
level)
FPE: Final prediction error

AIC: Akaike information
criterion

SC: Schwarz information
criterion
HQ: Hannan-Quinn information criterion Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình được trình bày ở bảng 4.3 với
các
tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ khác nhau. Các tiêu chuẩn đều lựa chọn độ trễ là 4 quí.
Độ trễ tối ưu là 4 quí cũng được các nghiên cứu của Jonathan McCarthy (2000) và
Michele Ca’Zorzi, Michele Ca’ Zorzi và Marcelo Sánchez lựa chọn khi nghiên cứu
về truyền dẫn tỷ giá hối đoái sử dụng chuỗi số liệu thống kê theo quí. Vì vậy tác giả
lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình Var cũng là 4 (quí).
- 16 -
4.2 Đo lường cú sốc bằng mô hình Var:
4.2.1 Hàm phản ứng xung (Impulse response function):
Kết quả hàm phản ứng xung cho 8 quí (2 năm), phân rã Cholesky cho thứ tự
các biến lần lượt như sau: D(OIL) -> D(GDP) -> D(LS) -> D(NEER) -> IMP ->CPI.
Hàm phản ứng xung dùng để đo lường mức tác động của cú sốc tỷ giá đến
chỉ số giá IMP và CPI. Trong đó ký hiệu D biểu thị cho các giá trị ở chuỗi sai phân
bậc một. Hình cho thấy tác động tích lũy của các chỉ số giá, giá dầu, GDP, lãi suất
và chính bản thân NEER do chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi của 1 đơn vị độ lệch
chuẩn của NEER.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status