| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 3.2013, Số 27 (27) 23
Những rào cản ảnh hưởng đến tiếp cận và
sử dụng dòch vụ y tế của người di cư mùa vụ
độ tuổi 18 - 50 tại phường Phúc Xá, Ba Đình,
Hà Nội năm 2012
Bùi Đắc Thành Nam (*), Vũ Thò Hoàng Lan (**), Lê Thò Kim Ánh (**)
Di cư mang lại những cơ hội việc làm, thu nhập và phụ giúp gia đình nhưng người di cư cũng phải
đối mặt với nhiều khó khăn như thu nhập thấp, điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, sức khỏe, đặc biệt
trong việc tiếp cận và sử dụng dòch vụ y tế. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu những rào cản ảnh hưởng đến
tiếp cận và sử dụng dòch vụ y tế của người di cư mùa vụ. Thiết kế đònh tính được sử dụng với chọn
mẫu có chủ đích 16 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm người di cư tuổi từ 18 - 50 có
đau/ốm/bệnh trong 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu và cán bộ y tế. Phân tích chủ đề được thực
hiện sau khi gỡ băng và mã hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập thấp và không ổn đònh, chi
phí khám chữa bệnh cao tại nơi đến chính là rào cản lớn đến tiếp cận và sử dụng dòch vu y tế. Bên
cạnh đó, một số yếu tố khác như thời gian làm việc dài, thói quen tự điều trò, Bảo hiểm Y tế cũng góp
phần ảnh hưởng đến tình hình sử dụng dòch vụ y tế của người di cư. Khuyến nghò: các hoạt động nâng
cao sức khỏe cộng đồng cần lôi kéo sự tham gia của người di cư và với người di cư nên đi khám sức
khỏe đònh kỳ 6 tháng/lần.
Từ khóa: người di cư, đau/ốm/bệnh, dòch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh.
Barriers affecting access to and use of health
services among seasonal migrants aged from
18 to 59 in Phuc Xa commune, Ba Dinh,
Ha Noi, 2012
Bui Dac Thanh Nam (*), Vu Thi Hoang Lan (**), Le Thi Kim Anh (**)
Migration provides many opportunities for migrants such as employment, income to support their
family. However, migrants have to face many challenges like low income, poor living conditions and
quality of life, especially limited access to appropriate health services. The purpose of the study is
to understand barriers affecting access to and use of health services among seasonal migrants.
Qualitative research design (with 16 in-depth interviews and 2 focus group discussions) was used
24 Tạp chí Y tế Công cộng, 3.2013, Số 27 (27)
sức khỏe kém hơn nhưng cơ hội tiếp cận và sử dụng
DVYT không tốt như người không di cư. Một số
nghiên cứu đã chỉ ra rằng người di cư ít đến cơ sở y
tế (CSYT) hơn người không di cư [4], [7], ngay cả
khi họ có khả năng chi trả các DVYT [3]. Tỷ lệ
người di cư tự điều trò khi đau ốm là khá cao ở cả
nam và nữ (76% ở nữ và 70% ở nam) [3]. Những rào
cản trong việc tiếp cận và sử dụng DVYT là một
trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sức khỏe
của người di cư [2].
Hiện tại, tỷ lệ người di cư mùa vụ đến sinh sống
và làm việc tại Hà Nội khá cao, tuy nhiên những
chương trình can thiệp hay cung cấp các dòch vụ
chăm sóc sức khỏe (CSSK) lại ít đề cập đến họ. Để
cung cấp thông tin xây dựng các chương trình can
thiệp có hiệu quả, nghiên cứu này tiến hành trên
nhóm người di cư mùa vụ đang sinh sống và làm
việc tại Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội với mục tiêu "tìm
hiểu những rào cản ảnh hưởng đến tiếp cận và sử
dụng dòch vụ y tế của người di cư mùa vụ".
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế đònh tính với phương pháp phỏng vấn
sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được sử dụng
tại đòa bàn nghiên cứu. Đối tượng phỏng vấn bao
gồm y tế quận/phường và người di cư mùa vụ. Chọn
mẫu có chủ đích được thực hiện với các tiêu chí sau:
(i) với người di cư: tuổi từ 18 - 50, có hộ khẩu thường
trú ngoài Hà Nội (cũ), có đau/ốm/bệnh trong 6
tháng trước thời điểm tiến hành nghiên cứu, di cư
đến đòa bàn nghiên cứu trong thời gian từ 6 tháng -
hưởng đến tiếp cận và sử dụng DVYT của người di
cư mùa vụ theo sơ đồ dưới đây.
Thu nhập thấp: Thu nhập đóng một vai trò quan
trọng quyết đònh đến việc tiếp cận và sử dụng
DVYT bởi đa phần người di cư lên Hà Nội làm ăn
sinh sống đều xuất thân từ những vùng quê nghèo.
Với thu nhập thấp và không ổn đònh, họ còn nhiều
thứ phải lo hơn việc bỏ tiền CSSK. Họ chỉ chấp
nhận dành một khoản tiền khá tiết kiệm cho việc
CSSK.
" Bình quân mỗi tháng được 2 - 2,5 triệu còn
chi phí này nọ, bảo đi khám thì chưa có điều kiện mà
nếu đi mua thuốc thì chỉ có uống thuốc vo mất
khoảng độ 15 - 20 nghìn hay 30 nghìn thôi " (TLN_
người di cư)
Thêm vào đó, áp lực kiếm tiền để trang trải cho
cuộc sống cũng như gửi tiền về chăm lo cho gia đình
lớn hơn khiến họ phải hạn chế các sinh hoạt ở mức
tối thiểu nhất. Đồng thời tham gia vào hành vi
CSSK không được khuyến khích.
" khám bệnh phải mất tiền mà mình chẳng có
tiền nên không khám, có bệnh thì chỉ mua thuốc am
bi để uống mình làm cho 3 - 4 người ăn rồi lo con
cái học hành ngày nào mệt thì ăn khoảng 10
nghìn đồ ăn chứ bình thường chỉ có ăn 5 nghìn đồ ăn
một ngày " (chò H_PVS)
Chi phí khám chữa bệnh cao: Với thu nhập thấp
và không ổn đònh, trong khi chi phí CSSK tại các
thành phố lớn không hề rẻ, nhất là tại các CSYT đầu
ngành. Người di cư thường coi việc phải sử dụng
nơi đến tổ chức đợt khám tư vấn và CSSK miễn phí
26 Tạp chí Y tế Công cộng, 3.2013, Số 27 (27)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
được các CTV y tế thông báo rộng rãi nhưng họ
cũng không tham gia. Thậm chí một số người di cư
còn chưa tiếp cận tới các CSYT tại nơi đến bao giờ.
" làm từ 1 - 2 giờ sáng đi đến 8 - 9 giờ thậm chí
có lúc làm tới 11 - 12 giờ trưa mới về nên chẳng có
thời gian để chăm sóc sức khỏe. Bây giờ có tiền thì
chăm sóc chứ chẳng có tiền thì mua thuốc uống thôi"
(chò H_PVS)
" có lúc người ta (CTV y tế) gọi đi khám đấy,
nhưng cô mải làm chả có điều kiện đi khám. Giờ
phải lo làm nuôi mấy đứa con Cô chưa KCB từ khi
đến đây " (cô H_PVS)
Cán bộ y tế đòa phương chia sẻ người di cư
thường ít tiếp cận tới các CSYT đòa phương để được
tư vấn và CSSK bởi thời gian làm việc dài, công
việc lao động vất vả mặc dù chính quyền đòa
phương cũng tạo điều kiện hỗ trợ.
" khi có chiến dòch mà phường (Phúc Xá) tổ
chức khám sức khỏe cho mọi người dân chứ không
phân biệt ngoại tỉnh hay không nhưng số người lao
động ngoại tỉnh khám rất ít đối với lao động ngoại
tỉnh thì thời gian không có, họ rất tận dụng, quá quắt
lắm họ mới đi khám "(CBYT_CTV)
" họ đi làm suốt ngày, thực ra chính quyền
cũng tạo điều kiện thôi, cái chính là bản thân họ, họ
bận công việc, làm lụng cả ngày, họ từ nơi khác đến
nhiều khi nghó mình sống bất hợp pháp nên chính họ
thực hiện vẫn bao gồm người di cư nhưng triển khai
gặp nhiều khó khăn do tính di động trong công việc
của họ.
"Hàng năm, Quận/phường vẫn có đợt khám sức
khỏe miễn phí cho người lao động nhập cư Nhưng
chính sách thì chủ yếu dành cho người có hộ khẩu
tại đây. Còn người di cư kiếm ăn thì họ ở thời gian
rất ngắn mà bản thân họ cũng không khai báo "
(CBYT_PYT)
" có những chương trình vẫn hỗ trợ cho người
di cư nhưng cũng gặp nhiều khó khăn bởi họ di
chuyển liên tục. Việc tiếp xúc với họ cũng khó do
điều kiện làm việc của họ khác, đêm làm ngày nghỉ.
Hoặc có thể ngày họ ở Hoàn Kiếm, đêm họ lại sang
Ba Đình, cho nên cũng khó khăn" (CBYT_TTYT)
Thiếu hiểu biết về hệ thống y tế tại nơi đến:
Những người làm công tác CSSK cho rằng với các
mô hình cung cấp DVYT sẵn có trên đòa bàn, việc
đáp ứng nhu cầu CSSK cho người di cư là hoàn toàn
có thể được, họ có thể chủ động tới các CSYT công
hay tư để được tư vấn và chăm sóc điều trò khi có
nhu cầu về sức khỏe.
" trên đòa bàn phường Phúc Xá có trạm y tế và
rất nhiều cơ sở y dược tư nhân nên khi họ có bệnh
hay có nhu cầu, họ chủ động đến các phòng khám tư,
các hiệu thuốc tư để được hướng dẫn mua thuốc và
điều trò " (CBYT_PYT)
Tuy nhiên, với các mối quan hệ xã hội hạn chế
cũng như thiếu kiến thức trong việc CSSK khiến
người di cư không tìm được sự giúp đỡ tại đòa
cơ hội để người di cư tiếp cận và sử dụng DVYT.
BHYT còn có ý nghóa đặc biệt đối với người di cư
khi phải đối mặt với những thiệt thòi trong việc tiếp
cận dòch vụ CSSK do bò hạn chế bởi các mối quan
hệ xã hội tại nơi đến. Mặc dù biết được những lợi
ích của BHYT nhưng với mức sống thấp, áp lực
kiếm tiền nên họ thường không mua BHYT.
" tôi thấy nếu mua BHYT thì rất phù hợp vì
đau/ốm cần đi viện sẽ đỡ rất nhiều. Nhưng do điều
kiện chưa có, cuộc sống cũng đang gặp khó khăn nên
chưa mua " (cô V_PVS)
Một số ý kiến khác nói BHYT còn nhiều bất
cập, thủ tục hành chính trong việc khám BHYT
phức tạp, việc chăm sóc y tế tại nơi đăng ký bảo
hiểm không đáp ứng được nhu cầu CSSK của họ.
Bên cạnh đó, nhiều người còn nghi ngờ vào chất
lượng khám chữa bệnh khi sử dụng thẻ BHYT.
" nói đến bảo hiểm thì rất nhiều người nói
rằng đến bệnh viện nhiều thủ tục rườm rà "
(TLN_ người di cư)
" khám theo bảo hiểm toàn thuốc không được
đặc trò cho lắm có khi đau đầu nếu mua thuốc
ngoài chỉ 1 - 2 ngày là khỏi còn thuốc bảo hiểm thì
lấy thật nhưng có khi về không uống " (TLN_người
di cư)
4. Bàn luận
Như thiết kế ban đầu, nghiên cứu tiến hành tìm
hiểu những rào cản ảnh hưởng tới tiếp cận và sử
dụng DVYT về mức độ tiếp cận dòch vụ: loại hình
cung cấp, thời gian đến CSYT, khoảng cách từ nhà
ngơi để lấy sức làm việc [11]. Họ chỉ chấp nhận sử
dụng khi bệnh trở nên trầm trọng.
Người di cư thường được nghó đến như nhóm trẻ
và có sức khỏe tốt. Và điều này dẫn đến hành vi
CSSK thụ động của người di cư, các nhà thuốc tây
thường là điểm đến của những người bệnh nhẹ. Và
chỉ khi bệnh trở nặng, họ tìm đến các DVYT [5].
Ngoài ra, các chương trình, chính sách của đòa
phương nơi đến chủ yếu giành cho người sở tại mà
bỏ qua người di cư do vò thế không chính thức về
mặt pháp lý. Bản thân người di cư với các mối quan
hệ xã hội hạn chế cũng như mặc cảm với tâm lý là
người ngoại tỉnh nên họ thường ít gắn kết với đòa
phương nơi đến. Một bộ phận người bản đòa cũng có
thái độ phân biệt và không muốn giao lưu với người
nhập cư nghèo [12]. Do đó, cải thiện vốn xã hội
28 Tạp chí Y tế Công cộng, 3.2013, Số 27 (27)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
được coi là cách làm hiệu quả sẽ đem đến cho người
di cư những cơ hội và lợi ích để cải thiện việc tiếp
cận và sử dụng DVYT.
Chúng tôi khuyến nghò hiện nay, di cư là một
vấn đề cần được các nhà hoạch đònh chính sách
quan tâm. Mặc dù xu hướng di cư ngày càng tăng
nhưng Việt Nam vẫn chưa có các chính sách phù
hợp, nhất là trong vấn đề CSSK. Để tăng cường khả
năng tiếp cận DVYT của người di cư, chúng tôi
khuyến nghò: (i) với y tế và các ban ngành liên quan
tại đòa phương nơi đến: các chương chình CSSK tại
đòa phương cần chú ý lôi kéo sự tham gia của người
8. Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2006),
Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Chất lượng cuộc sống
của người di cư Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
9. UNFPA (2007), Hiện trạng di cư trong nước ở Việt Nam,
Hà Nội.
10. Yuki Shibuya (2010), "Tình hình lao động tại các khu
công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ hội nhập", Kỷ yếu
tọa đàm: Di dân ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 176-
196.
Tiếng Anh
11. Dang Nguyen Anh and et al. (2008), Mobility and HIV
Vulnerability in Viet Nam: a review of published and
unpublished data and implications for HIV prevention
programmes, Canada South East Asia Regional HIV/AIDS
Programme (CSEARHAP).
12. Le Bach Duong, Tran Giang Linh and Nguyen Thi
Phuong Thao (2011), Social protection for rural - urban
migrants in Vietnam: current situation, challenges and
opprtunities, Institutie of Development Studies, Ha Noi.
13. Nguyen T. Liem and Michael J. White (2007), "Health
Status of T emporary Migrants in Urban Areas in Vietnam",
International Migration. 64 (4), tr. 102 - 134.
14. Jin Mou and et al. (2009), "Health care utilisation
amongst Shenzhen migrant workers: does being insured
make a difference?" BMC Health Services Research.