Hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TPHCM Luận văn thạc sĩ 2013 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

SƢ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM

Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH ĐỨC LỘNG

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật TP. HCM”, chuyên ngành Kế toán là công trình của riêng tôi.

Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã
được trích rõ nguồn gốc và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2013

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH 6
1.1 Tổng quan về dự toán ngân sách 6
1.1.1 Khái niệm dự toán ngân sách 6
1.1. 2 Phân loại dự toán ngân sách 7
1.1. 2.1 Phân loại theo thời gian 7
1.1.2.2 Phân loại theo phương pháp lập 7
1.1.2.3 Phân loại theo mức độ phân tích 7
1.1.3 Vai trò của dự toán ngân sách 8
1.1.4 Mô hình lập dự toán ngân sách 10
1.1.4.1 Mô hình 1: Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống 10
1.1.4.2 Mô hình 2: Mô hình thông tin phản hồi 10
1.1.4.3 Mô hình 3: Mô hình thông tin từ dưới lên 11
1.1.5 Các phương thức lập dự toán ngân sách 12
1.2 Đặc điểm của dự toán ngân sách trong khu vực công 13
1.2.1 Đặc điểm của dự toán ngân sách trong khu vực công 13
1.2.3 Đặc điểm của dự toán ngân sách đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục
và Đào tạo 15
1.2.3 Đặc điểm đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo 15
1.2.3.2 Các yếu tố về đặc trưng quản lý, nghiệp vụ và môi trường có ảnh hưởng
đến công tác lập dự toán tại các trường đại học công lập 15
1.2.3.3 Quy trình lập dự toán ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp
trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo 15
1.2.3.4 Hệ thống dự toán ngân sách hoạt động hằng năm của các đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo 17

2.2.4.1 Ưu điểm 45
2.2.4.1.1 Mô hình dự toán 45
2.2.4.1.2 Quy trình lập dự toán 45
2.2.4.1.3 Lập các dự toán ngân sách 46
2.2.4.2 Nhược điểm 47

2.2.4.2.1 Mô hình dự toán 47
2.2.4.2.2 Quy trình lập dự toán 47
2.2.4.2.3 Lập các dự toán ngân sách 49
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN HỆ THỐNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM 51
3.1 Quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện 51
3.1.1 Quan điểm hoàn thiện 51
3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 51
3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật TP. HCM 52
3.2.1 Hoàn thiện mô hình lập dự toán ngân sách 52
3.2.2 Hoàn thiện qui trình dự toán ngân sách 53
3.2.3 Hoàn thiện các báo cáo dự toán ngân sách 57
3.3 Các giải pháp hỗ trợ để hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật TP. HCM 68
3.3.1 Về cơ sở vật chất kỹ thuật 68
3.3.2 Về công tác quản lý 68
3.4 Một số kiến nghị đối với Nhà trường và đối với Nhà nước 69
3.4.1 Các kiến nghị đối với Nhà trường 69
3.4.2 Các kiến nghị đối với Nhà nước 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Điện – điện tử
ĐH
Đại học
ĐH SPKT TP.HCM
Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
ĐM
Định mức
ĐVT
Đơn vị tính
GD
Giáo dục
GDQD
Giáo dục quốc dân
GS
Giáo sư
HC
Hành chính
HCTH
Hành chính tổng hợp
HD
Hướng dẫn
HS
Hệ số
HSSV
Học sinh sinh viên
I&TT
In và truyền thông
KBNN
Kho bạc nhà nước
KH

TC
Trung cấp
TCCB
Tổ chức cán bộ
TDTT
Thể dục thể thao
TH
Thực hiện
Ths
Thạc sĩ
TNTT
Thu nhập tăng thêm
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TS
Tiến sĩ
TSCĐ
Tài sản cố định
TT
Thực tập
TTKTTH
Trung tâm kỹ thuật tổng hợp
TTTH
Trung tâm tin học
VN
Việt Nam


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Dự toán ngân sách là sự tính toán một cách chi tiết về việc huy động và sử dụng các
nguồn lực của một tổ chức trong một kỳ hoạt động. Dự toán ngân sách là một bảng tóm tắt trên
mọi phương diện của các kế hoạch và mục tiêu cho tương lai của tổ chức, xác định các nhiệm vụ
cụ thể cho từng bộ phận trong đơn vị phải thực hiện.
Dự toán ngân sách đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp cho những nhà
quản lý thực hiện các chức năng quản trị của họ, dự toán ngân sách gắn liền với các công việc
của nhà quản trị từ lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định. Ngân sách được
xây dựng hoàn hảo có tác dụng như kim chỉ nam cho nhà quản trị trong việc điều hành tổ chức
hoạt động đạt hiệu quả cao, có được nguồn tài chính dồi dào, quan hệ tài chính của tổ chức lành
mạnh và ngày càng mở rộng.
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM là một trong những Trường đầu ngành
trong hệ thống Sư phạm Kỹ thuật Việt Nam, chuyên đào tạo kỹ sư công nghệ và đội ngũ giáo
viên dạy nghề ở bậc đại học và trên đại học, cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp cho khu vực phía
Nam. Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giữ một vị trí quan trọng trong
việc đào tạo và phát triển đội ngũ những người thầy trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hướng tới nền kinh tế tri thức.
Hệ thống dự toán ngân sách có ý nghĩa vô cùng thiết yếu đối với Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật TP. HCM - một trong các đơn vị sự nghiệp công lập đang tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về tài chính. Dự toán ngân sách giúp Nhà trường định hướng những mặt hoạt động cơ
bản trong năm kế hoạch, chủ động chuẩn bị tốt và phát huy các nguồn lực tài chính để hoàn
thành nhiệm vụ được giao; phát huy các nguồn lực và khả năng của Nhà trường, đề ra phương
hướng sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm; đối phó kịp
thời với mọi tình huống xảy ra đột xuất trong tương lai, hạn chế được những khó khăn về tổng
kinh phí hoạt động.
Tuy nhiên hiện nay, công tác dự toán ngân sách của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
TP. HCM vẫn còn tồn tại nhiều khiếm khuyết, số liệu dự toán ngân sách chưa phản ánh đúng
tiềm năng thực tế của Nhà trường nên không phát huy vai trò, công dụng của nó và gây lãng phí

bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí…”. Song thực tế, các cơ quan hành chính Nhà nước
vẫn được để lại một phần từ nguồn thu phí, lệ phí để bù đắp chi phí thu, phần còn lại mới nộp
vào NSNN. Việc để lại chi phí thu như vậy chưa đáp ứng được nguyên tắc đầy đủ của NSNN và
gây phức tạp trong công tác quản lý. Mặt khác, việc xác định tỷ lệ để lại chưa thống nhất, dẫn
đến một số cơ quan hành chính không chỉ bù đắp cho chi phí thu mà còn để sử dụng cho các
nhiệm vụ khác, gây bất bình đẳng giữa các cơ quan với nhau. Đối với các khoản thu phí, lệ phí
của các đơn vị sự nghiệp, hiện nay, một số phí dịch vụ mới chỉ đảm bảo một phần chi phí như
học phí. Về bản chất, đây là các khoản thu để bù đắp một phần chi phí của các dịch vụ công. Vì
vậy, nếu đưa toàn bộ số thu, chi này vào cân đối NSNN thì sẽ gây khó khăn trong công tác điều
hành ngân sách do số thu phí, lệ phí rất khó dự toán được chính xác. Đặc biệt, với việc áp dụng
quy trình chi mới (rút dự toán), nếu thu không đạt dự toán thì cũng rất khó giảm được chi. Đã có
nhiều khoản thu như học phí… được để lại đơn vị để bù đắp chi, nếu quy định phải nộp rồi sau
3
đó chi theo dự toán thì không khuyến khích thu, còn nếu nộp rồi cấp lại thì chỉ làm tăng thủ tục
hành chính về ngân sách mà không giải quyết được vấn đề cần thiết là kiểm soát và tăng hiệu
quả sử dụng. Đề tài đã đi giải quyết câu hỏi: trong lập, thẩm tra và quyết định dự toán thu ngân
sách nhà nước tại sao không sát với thực tế có sự chênh lệch lớn giữa dự toán ngân sách với kết
quả thực hiện. Tại phiên thảo luận về kinh tế xã hội và ngân sách nhà nước của kỳ họp Quốc hội
gần đây câu hỏi này thường đặt ra. Theo đại diện Bộ Tài chính, thời gian xây dựng dự toán ngân
sách cho năm sau quá sớm, trong khi thời gian xem xét, quyết định dự toán của các cơ quan có
thẩm quyền lại ngắn nên khó đưa ra các dự báo, đánh giá chính xác. Cơ sở xây dựng dự toán cho
năm sau dựa trên việc đánh giá kết quả thu của năm hiện hành; nhưng đánh giá kết quả thu của
năm hiện hành thì mới căn cứ trên kết quả thu của 4 – 5 tháng đầu năm. Việc xây dựng kế hoạch
thu ngân sách cho năm sau giống như “bốc thuốc” trên cơ sở suy diễn, ước thực hiện kế hoạch
và tỷ lệ % tăng thu theo hướng dẫn của Bộ Tài chính…Vẫn biết đã là dự toán thì sẽ có một
khoảng chênh nhất định. Nhưng khoảng chênh giữa dự toán và thực tế – không thể quá lớn.
Soạn lập ngân sách thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trung
hạn với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo nên dẫn đến các kết quả
ngân sách nghèo nàn. Ngoài ra, do ngân sách soạn lập theo chu kỳ hàng năm, nên nó không
được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triển kinh tế

theo chương trình đề đạt hiệu quả tốt nhất với mức chi phí hợp lý trong lập dự toán tại các đơn
vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ hay một phần chi tiêu hoạt động thường xuyên [22].
3. Mục tiêu của đề tài:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về dự toán ngân sách.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về hệ thống dự toán ngân sách tại trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật TP. HCM.
- Đề ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật TP. HCM.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về dự toán ngân
sách và chủ yếu nghiên cứu công tác lập dự toán ngân sách ngắn hạn tại trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật TP. HCM.
- Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu minh hoạ trong luận văn là số liệu dự toán ngân sách năm
2013 của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp định tính, cụ thể là có sự phối hợp các
phương pháp sau:
+ Phương pháp tiếp cận, phỏng vấn những cá nhân về các nội dung có liên quan: Phỏng
vấn sơ bộ qua điện thoại hoặc gặp trực tiếp Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính, các kế toán viên,
nhân viên các phòng ban, nhân sự ở các khoa.
+ Phương pháp quan sát: quan sát các sổ sách, biểu mẫu, chứng từ.
+ Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích: Thống kê các số liệu dự toán về các nguồn
thu và các khoản chi của Nhà trường; so sánh giữa các quy định và hướng dẫn trong Luật ngân
5
sách nhà nước, các thông tư, công văn hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo với cách làm thực
tế tại Nhà trường; đồng thời so sánh với các trường khác để qua đó phân tích điểm làm được và
điểm chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt trong quá trình dự toán ngân sách của Nhà trường.
+ Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp dữ liệu phân tích và đề xuất các giải pháp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đề tài giúp Nhà trường chủ động hơn trong việc thực hiện các kế hoạch và các mục tiêu

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH

1.1 Tổng quan về dự toán ngân sách:
1.1.1 Khái niệm dự toán ngân sách: [10]
Dự báo: Dự báo là khoa học và nghệ thuật nhằm tiên đoán trước các hiện tượng
và sự việc sẽ xảy ra trong tương lai được căn cứ vào các tài liệu như sau:
 Các dãy số liệu của các thời kỳ quá khứ.
 Căn cứ vào kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đối với kết quả dự báo.
 Căn cứ vào các kinh nghiệm thực tế đã được đúc kết và từ nghệ thuật phán đoán
của các chuyên gia, được kết hợp với kết quả dự báo, để có được các quyết định với độ chính
xác và tin cậy cao.
Dự báo là một công tác rất quan trọng trong nhiều ngành. Dự báo đặc biệt quan trọng với
việc quản lý vĩ mô và kinh doanh. Dự báo là giai đoạn đầu tiên của quá trình lập kế hoạch.
Kế hoạch: Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch
trình, có thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất để
thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra. Theo phạm vi hoạt động, các kế hoạch được
chia thành kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp. [16]
 Kế hoạch chiến lược: là kế hoạch ở cấp độ toàn tổ chức, thiết lập nên những
mục tiêu cơ bản, nguồn lực cơ bản của tổ chức.
 Kế hoạch tác nghiệp: là kế hoạch trình bày rõ mục tiêu, nguồn lực chi tiết, cụ
thể để đạt được những mục tiêu đã được đặt ra trong kế hoạch chiến lược. Kế hoạch tác nghiệp
đưa ra những chiến thuật hay những bước cụ thể mà tổ chức sẽ tiến hành để thực hiện kế hoạch
chiến lược.
Dự toán: Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ,
phản ảnh mục tiêu và toàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực
hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện
bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Dự toán chi tiết hơn kế hoạch. [10]
Dự toán ngân sách: Dự toán ngân sách là sự tính toán một cách chi tiết về việc
huy động và sử dụng các nguồn lực của một tổ chức trong một kỳ hoạt động, hay nói cách khác,
dự toán ngân sách là một kế hoạch hành động được lượng hoá và được chuẩn bị cho một khoảng

dự kiến, nguồn lực để đảm bảo cho các hoạt động của tổ chức ở một mức độ hoạt động nhất
định bằng một hệ thống chỉ tiêu số lượng và giá trị nhất định trong một khoảng thời gian. Dự
toán ngân sách cố định được lập tương đối giản đơn, tính toán cân đối ít. Tuy nhiên, nó không
cung cấp đủ thông tin để ứng phó với các tình huống khác nhau, nhất là khi tổ chức có sự điều
chỉnh về quy mô, mức độ hoạt động để thích ứng với tình hình thực tế.
1.1.2.3 Phân loại theo mức độ phân tích [18]
Dự toán từ gốc: Là khi lập dự toán tiến hành xem xét khả năng thu nhập, những khoản
chi phí phát sinh để lập các báo cáo dự toán. Các báo cáo dự toán mới sẽ không lệ thuộc vào số
liệu của báo cáo dự toán cũ. Dự toán từ gốc không chịu hạn chế các mức chi tiêu đã qua, không
có khuôn mẫu. Vì thế, nó đòi hỏi nhà quản lý các cấp phải phát huy tính năng động chủ quan và
8
tính sáng tạo và căn cứ vào tình hình cụ thể để lập dự toán ngân sách. Phương pháp dự toán từ
gốc có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, nó không lệ thuộc vào các số liệu của kỳ quá khứ. Thông
thường thì các tổ chức hay dựa vào số liệu của các báo cáo dự toán cũ kết hợp với mục tiêu mới
để lập dự toán ngân sách cho năm sau. Nhưng cách lập dự toán ngân sách như vậy sẽ che lấp và
lệ thuộc vào các khuyết điểm ở kỳ quá khứ và cứ để các thiếu sót, các khuyết điểm của kỳ quá
khứ tồn tại mãi. Dự toán từ gốc sẽ khắc phục nhược điểm này trong quá trình lập dự toán. Thứ
hai, phương pháp dự toán từ gốc là phát huy mạnh mẽ tính chủ động và sáng tạo của bộ phận lập
dự toán. Quan điểm của các bộ phận lập dự toán không bị ảnh hưởng, chi phối bởi những quan
điểm sai lầm của những người đi trước. Thông thường thì các bộ phận lập dự toán có khuynh
hướng dựa vào ý định của người quản lý cùng với các quy định có sẵng để lập dự toán, thiếu chủ
động suy nghĩ về tình hình tương lai, không mạnh dạn khai thác cơ hội phát triển công việc. Vì
vậy, làm cho công tác dự toán chỉ mang tính hình thức, mất đi tính hiệu quả thực sự. Tuy nhiên,
nhược điểm của phương pháp này là tất cả mọi hoạt động phân tích, nghiên cứu đều bắt đầu từ
con số không, khối lượng công việc nhiều, thời gian dùng lập dự toán dài, kinh phí cho việc lập
dự toán cao và cũng không thể chắc chắn rằng số liệu dự toán từ gốc chính xác hoàn toàn, không
có sai sót.
Dự toán cuốn chiếu: Dự toán cuốn chiếu còn gọi là dự toán nối mạch. Dự toán theo
phương pháp này là các bộ phận lập dự toán sẽ dựa vào các báo cáo dự toán cũ và điều chỉnh
với những thay đổi trong thực tế để lập các báo cáo dự toán mới. Ưu điểm của phương pháp này

cơ sở này, sẽ liên kết hoạt động của các bộ phận khác nhau hoạt động vì mục tiêu chung của tổ
chức.
- Kiểm tra: là chức năng bảo đảm cho công việc của tổ chức đi đúng mục tiêu. Biểu hiện
của chức năng kiểm tra của nhà quản trị chính là việc nghiên cứu báo cáo kế toán và các báo cáo
khác, so sánh số liệu báo cáo với số liệu kế hoạch để kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết
điểm nhằm kịp thời điều chỉnh, giúp đỡ các thành viên hoàn thành nhiệm vụ. Gắn với chức năng
kiểm tra của nhà quản lý, dự toán ngân sách có vai trò kiểm soát, là cơ sở để giám sát hoạt động
tại tổ chức trong từng thời kỳ nhất định. Hoạch định ngân sách cụ thể hoá các thủ tục kiểm soát
theo chỉ tiêu định hướng.
- Ra quyết định: là chức năng chọn lựa hợp lý và tối ưu những giải pháp, phương án. Ra
quyết định không phải là một chức năng độc lập mà nó luôn tồn tại trong quá trình lập kế hoạch,
tổ chức điều hành hoặc kiểm tra. Tất cả các quyết định đều phải dựa vào nền tảng thông tin. Một
trong những công việc nền tảng để làm căn cứ cho việc ra quyết định là nhà quản trị sẽ đánh giá
các mục tiêu đề ra, khi đó họ cần thông tin về các báo cáo thực hiện, trình bày và so sánh kết
quả thực hiện với dự toán đã lập, với những thay đổi lớn vượt quá mức cho phép, nhà quản lý sẽ
tìm hiểu nguyên nhân của sự thay đổi, ngược lại, với những hoạt động phù hợp thì cần tiếp tục
duy trì và đối với những hoạt động lệch lạc, kém hiệu quả thì cần có biện pháp điều chỉnh hoặc
chấm dứt. Dự toán ngân sách khi đó có vai trò giúp cho nhà quản lý đo lường, đánh giá. Với các
mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể đã được xác định trong dự toán ngân sách, dự toán ngân sách sẽ là cơ
sở để đánh giá trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân trong tổ chức. Thông qua việc so sánh kết
quả hoạt động đã đạt được với dự toán ngân sách đã được lập, nhà quản trị sẽ đánh giá được các
hoạt động đã diễn ra như thế nào để đưa ra các quyết định quản lý một cách thích hợp.
10
Có thể nói, dự toán ngân sách đóng vai trò quan trọng và gắn liền với các công việc của
nhà quản trị. Đây là một bảng tóm tắt trên mọi phương diện của các kế hoạch và mục tiêu cho
tương lai của tổ chức, xác định các nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận trong đơn vị phải thực
hiện. Có thể nói, ngân sách được xây dựng hoàn hảo có tác dụng như kim chỉ nam cho nhà quản
trị trong việc điều hành tổ chức hoạt động đạt hiệu quả cao, có được nguồn tài chính dồi dào,
quan hệ tài chính của tổ chức lành mạnh và ngày càng mở rộng.
1.1.4 Mô hình lập dự toán ngân sách: [11]

trung được trí tuệ, kinh nghiệm của các cấp quản lý khác nhau vào quá trình lập dự toán, vừa kết
hợp tầm nhìn tổng quát và toàn diện của quản lý cấp cao với khả năng cụ thể của cấp quản lý
cấp trung gian và các cấp cơ sở. Chính sự kết hợp trên nên dự toán có tính khả thi cao. Tuy
nhiên, mô hình dự toán này đòi hỏi hao tốn nhiều thời gian, chi phí cho thông tin dự thảo, phản
hồi và xét duyệt thông qua. Đồng thời, nếu tổ chức quá trình lập dự toán thực hiện không được
tốt, sẽ không cung cấp thông tin kịp thời cho kỳ kế hoạch.
1.1.4.3 Mô hình 3: Mô hình thông tin từ dƣới lên: Theo mô hình này, dự toán được lập
từ cấp quản lý cấp thấp đến cấp quản lý cao nhất. Dự toán ở cấp nào do chính người quản lý ở
cấp đó thực hiện rồi đệ trình lên cấp trên. Cụ thể:
- Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào khả năng điều kiện của mình để lập các chỉ
tiêu dự toán và được trình lên cấp quản lý cao hơn (bộ phận cấp trung gian).
- Trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu dự toán ở các cấp cơ sở, cấp trung gian tổng hợp các
chỉ tiêu dự toán ở bộ phận mình để trình lên bộ phận quản lý cấp cao.
- Bộ phận quản lý cấp cao tổng hợp các chỉ tiêu dự toán các cấp trung gian kết hợp với
tầm nhìn tổng quát toàn diện về toàn bộ hoạt động của tổ chức và hướng các bộ phận đến việc
thực hiện các mục tiêu chung, sẽ xét duyệt thông qua dự toán cho các cấp trung gian. Trên cơ sở
đó, cấp trung gian xét duyệt thông qua cho các cấp cơ sở.
Nhận xét mô hình 3: Mô hình dự toán này có thể khắc phục được nhược điểm của mô
hình thông tin phản hồi. Tuy nhiên, nó tồn tại nhược điểm là dự toán xuất phát từ các đơn vị cấp
cơ sở, nên họ thường có xu hướng là xác lập các chỉ tiêu dự toán dưới mức khả năng, điều kiện
của mình để dễ dàng hoàn thành chỉ tiêu dự toán, nên có thể không khai thác hết khả năng tiềm
tàng của đơn vị. Do đó, số liệu dự toán của cấp cơ sở được trình lên nhà quản lý cấp trên xem
xét và quyết định để ngăn chặn dự toán quá thấp hoặc quá cao dẫn đến hoạt động không hiệu
quả và lãng phí. Đối với nhà quản trị các cấp, do được tham gia vào quá trình dự toán, và các chỉ
tiêu được tự đề đạt nên nhà quản trị các cấp sẽ thực hiện kế hoạch một cách chủ động hơn, thoải
mái hơn, và khả năng hoàn thành kế hoạch sẽ cao hơn. Ngược lại, nếu không hoàn thành kế
hoạch thì trách nhiệm trước hết là ở cấp cơ sở.
Nói tóm lại, việc lập dự toán ngân sách được dựa trên cơ sở những mô hình thông tin
khác nhau. Mỗi mô hình dự toán có những đặc điểm riêng. Việc chọn lựa vận dụng các mô hình
thông tin nào là tuỳ theo trình độ cụ thể, đặc điểm và yêu cầu quản lý của từng tổ chức, để dự trù

giúp chỉ ra những khoản chi phí chồng chéo hoặc những nơi sẽ gây hao phí nguồn lực. Trong
khu vực công thì các thành phần chính tạo nên phương pháp lập dự toán ngân sách từ zero nói
chung gồm: Ba cấp độ tài chính thay thế cho mỗi đơn vị quyết định (cấp bằng không cơ bản, cấp
vốn có mức độ dịch vụ hiện tại và mức độ nâng cao); tác động của các cấp độ kinh phí trên
chương trình (đơn vị quyết định) hoạt động bằng cách sử dụng các số liệu thực hiện chương
trình; “Gói quyết định” chương trình cho ba cấp kinh phí. Tuy nhiên, nhược điểm của phương
pháp này là mất thời gian phân tích, chi phí lớn, giấy tờ nhiều nên khi triển khai thực tế cần
nhiều thời gian và nỗ lực thực hiện.
13

1.2 Đặc điểm của dự toán ngân sách trong khu vực công:
1.2.1 Đặc điểm của dự toán ngân sách trong khu vực công:
Theo Đề tài “Nghiên cứu Pháp luật về Tài chính công Việt Nam”, Đại học Luật Hà Nội,
TS.Phạm Thị Giang Thu (chủ nhiệm), Hà Nội, 2011, tr.101-128: “Dự toán ngân sách trong khu
vực công có sự tham gia của nhiều loại cơ quan khác nhau với chức năng, nhiệm vụ và thẩm
quyền khác nhau đòi hỏi phải có sự phân định rõ về thẩm quyền cho các chủ thể tham gia.
Quá trình dự toán ngân sách nhà nước là quá trình khá phức tạp bao gồm nhiều loại công
việc khác nhau được tiến hành theo trình tự và thủ tục chặt chẽ dựa trên những căn cứ và bảo
đảm được các yêu cầu cần thiết. Bởi vậy, cần có pháp luật điều chỉnh quá trình ngân sách này.
Bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình dự toán ngân sách nhà nước
bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, quy định
trình tự, thủ tục, thời gian tiến hành việc lập dự toán ngân sách nhà nước…”[26].
1.2.2 Đặc điểm các khoản thu chi của đơn vị hành chính sự nghiệp có thu: [25].
Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, gồm:
 Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị
sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối với nguồn thu sự nghiệp);
được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền
giao.
 Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các đơn vị không phải
là tổ chức khoa học và công nghệ).

chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí.
 Chi cho các hoạt động dịch vụ; gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương;
các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện
hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao tài sản cố định; sửa chữa tài sản cố
định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các
khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có).
Chi không thường xuyên: gồm các khoản chi theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị
định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ.
 Chi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và nghệ;
 Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
 Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
 Chi thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm
vụ khác) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định (nếu có);
 Chi vốn đối ứng các dự án có vốn nước ngoài theo quy định;
 Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
 Chi thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có).
 Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực
hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
15
 Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài.
 Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết (nếu có).
 Các khoản chi khác theo quy định (nếu có).
1.2.3 Đặc điểm của dự toán ngân sách đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục Đào
tạo:
1.2.3.1 Đặc điểm đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục Đào tạo: thực hiện theo
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính.
1.2.3.2 Các yếu tố về đặc trƣng quản lý, nghiệp vụ và môi trƣờng có ảnh hƣởng
đến công tác lập dự toán tại các trƣờng đại học công lập:
 Năm học và kỳ dự toán: Năm học và kỳ dự toán thường có sự chênh lệch nhau.
Năm học kéo dài từ cuối tháng 8 năm trước đến cuối tháng 5 năm sau. Trong khi năm dự toán

toán ngân sách có nhiều sai sót. Việc lập dự toán ngân sách một cách chính xác là rất khó. Lập
dự toán ngân sách cũng tương tự như cố gắng dự đoán chính xác tương lai, trong khi đó tương
lai thì không chắc chắn. Hơn nữa, trong tương lai có nhiều vấn đề không thể lường trước nên
khiến cho việc lập dự toán ngân sách càng trở nên khó khăn và dễ thiếu thực tế. Vì vậy trước khi
lập dự toán ngân sách cần phải hoạch định một qui trình dự toán ngân sách để chuẩn bị tất cả
các công việc mà quá trình dự toán ngân sách cần phải làm. Tùy theo từng tổ chức, tùy theo
phong cách quản lý mà quy trình công việc lập dự toán ngân sách sẽ khác nhau. [20]
- Giai đoạn chuẩn bị: Việc đầu tiên phải làm trong quá trình dự toán ngân sách là làm
sáng rõ mục tiêu của tổ chức. Dự toán ngân sách phải lấy chiến lược phát triển trung và dài hạn
và mục tiêu ngắn hạn của tổ chức làm nền tảng. Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, sau
khi xác định rõ ràng mục tiêu, đơn vị sẽ xây dựng một mẫu dự toán ngân sách chi tiết bên cạnh
các mẫu dự toán ngân sách theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Bộ chủ quản. Điều này giúp cho
lãnh đạo đơn vị dễ phối hợp với các dự toán ngân sách của các bộ phận trong trường, cho phép
so sánh, kết nối giữa các nội dung một cách dễ dàng. Khi mọi thứ đã được chuẩn bị đầy đủ cho
việc lập dự toán ngân sách thì trước khi vào soạn thảo cần xem xét lại hệ thống để đảm bảo rằng
ngân sách sẽ cung cấp thông tin sát và phù hợp với tình hình thực tế.
- Giai đoạn soạn thảo: Tiếp theo sau giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn soạn thảo dự toán
ngân sách. Trước hết, những cá nhân có liên quan trong việc lập dự toán ngân sách phải tập hợp
toàn bộ thông tin về các nguồn lực sẵn có trong đơn vị và các yếu tố bên trong và bên ngoài tổ
chức tác động đến công tác dự toán ngân sách như cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ v.v…đồng thời
ước tính các số liệu, trên cơ sở đó soạn thảo các báo cáo dự toán như dự toán thực hiện nhiện vụ
thu, chi ngân sách; dự toán biên chế tiền lương; dự toán kinh phí chương trình tiên tiến; dự toán
vốn nước ngoài và vốn đối ứng v.v… cho năm kế hoạch.
- Giai đoạn theo dõi: Trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh dự toán thu, chi
hoạt động sự nghiệp, kinh phí hoạt động thường xuyên đã được giao cho phù hợp với tình hình
thực tế của đơn vị, gửi Bộ chủ quản (đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương) và
Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để theo dõi, quản lý.Vì vậy, sau mỗi kỳ dự
toán ngân sách, đơn vị cần phải thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện dự toán, từ

Trích đoạn Nguyên tắc hồn thiện Hồn thiện mơ hình lập dự tốn ngân sách Hồn thiện qui trình dự tốn ngân sách Hồn thiện các báo cáo dự tốn ngân sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status