Luận án tiến sĩ giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại quận hải châu, thành phố đà nẵng - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ BẢO
Đà Nẵng- Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoàng Oanh
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐTXDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản
HĐND : Hội đồng nhân dân
KBNN : Kho bạc nhà nước
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NS : Ngân sách
NSNN : Ngân sách nhà nước
THCS : Trung học cơ sở
UBND : Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG

2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về lý luận quản lý chi ngân sách nhà nước
8
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách rên địa
bàn quận Hải Châu trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và tình hình
thực hiện quản lý chi NSNN trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý chi đầu tư xây dựng cơ
bản, chi thường xuyên của ngân sách cấp quận
+ Về không gian: luận văn nghiên cứu quản lý chi NSNN trên địa bàn quận Hải
Châu
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2013 và các
giải pháp đề xuất có ý nghĩa trong những năm đến
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích thực chứng,
- Phương pháp phân tích chuẩn tắc;
- Phương pháp phân tích thống kê,
- Phương pháp phân tích tổng hợp,
- Phương pháp phân tích so sánh;
- Các phương pháp khác
*Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Đề tài góp phần hệ thống hóa một số lý luận liên quan đến công tác quản lý chi
ngân sách.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi ngân sách của quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2010-2013, từ đó đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị để hoàn

công như: khái niệm, đặc điểm, nội dung chi tiêu công, quản lý chi tiêu công. Trong phần
phân tích thực trạng, tác giả đã khái quát tình hình kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 1991-
2004, phân tích thực trạng quản lý chi tiêu công mà điển hình là chi NSNN Việt Nam giai
đoạn 1991-2004, nêu được quá trình kiểm soát chi NSNN qua kho bạc nhà nước và đã
đánh giá quản lý chi NSNN ở Việt Nam giai đoạn 1991-2004, từ đó chỉ ra những kết quả
đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho các đề xuất giải pháp. Tuy
nhiên, sách chuyên khảo đã đề cập đến các vấn đề chung của Việt Nam mà chưa gắn với
10
thực trạng của từng địa phương - nhân tố cơ bản để phát triển một quốc gia vững mạnh
trong giai đoạn hiện nay.
- “Chính sách tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế” do PGS.TS
Vũ Thu Giang, NXB Chính trị Quốc gia năm 2000. Nội dung đề cập những yêu cầu đặt ra
với chính sách tài chính trong quá trình hội nhập, những kiến nghị và giải pháp cải cách
chính sách tài chính Việt Nam. Tác phẩm còn làm rõ thêm sự ảnh hưởng tới nguồn thu, nhu
cầu chi tiêu ngân sách nhà nước
- PGS.TS Hà Đức Trụ (2000) “Đổi mới cơ chế quản lý ngân quỹ ngân sách nhà
nước trong hệ thống kho bạc nhà nước giai đoạn 2001-2010” nêu lên quản lý quỹ Ngân
sách Nhà nước cho phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010,
trước hết phải có cơ chế, chính sách, những ñịnh hướng cơ bản; đồng thời phân định rõ
trách nhiệm của các cơ quan quản lý NSNN, trong đó cơ quan Tài chính và Kho Bạc Nhà
nước là hai cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý
quỹ
- Luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” năm 2009, của tác giả Trần Văn Lâm, đã hệ
thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế xã
hội; NSNN, chi và quản lý chi NSNN trong nền kinh tế thị trường với những nội dung cụ
thể: mục tiêu, nguyên tắc và phương thức của quản lý chi NSNN ; quản lý chi NSNN với
việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Luận án cũng đã trình bày một cách khái quát thực
trạng quản lý chi ngân sách thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
về hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý chi ngân sách địa phương trên các

phát triển và một số nước trong khu vực, rút ra 4 bài học có thể nghiên cứu vận dụng nhằm
nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trong điều kiện hiện nay ở Việt nam. Trên
cơ sở trình bày định hướng về phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu tài chính, ngân sách
của Việt nam đến 2010 và những năm tiếp theo cùng với những quan điểm đổi mới chi
NSNN, tác giả luận án đã nghiên cứu đề xuất một hệ thống gồm 5 nhóm giải pháp nhằm
đổi mới công tác quản lý chi NSNN. Trong đó, giải pháp đẩy mạnh triển khai phương thức
quản lý NSNN theo kết quả đầu ra với những điều kiện và khả năng áp dụng là cần thiết và
phù hợp với việc đổi mới công tác quản lý chi NSNN hiện nay Tuy nhiên, phần lý luận có
một số lý luận về vai trò của chi NSNN chỉ đúng với điều kiện Việt Nam mà không đúng
với các nước nói chung; phần kinh nghiệm nước ngoài, nếu có kinh nghiệm của các nước
tương đồng với Việt Nam thì sẽ tốt hơn. Nếu Luận án đề cập một cách rõ ràng, cụ thể hơn
những khó khăn, trở ngại mà Việt Nam phải đối mặt khi triển khai thực hiện phương thức
12
quản lý chi NSNN mới như Luận án đề xuất thì tính thuyết phục của các giải pháp sẽ cao
hơn.
- Luận văn Tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang
giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020” tác giả Tô Thiện Hiền, Đại học ngân hàng TP
Hồ Chí Minh (2012), luận văn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang
phục vụ cho việc quản lý, điều hành NSNN được chặt chẽ và hiệu quả hơn, góp phần đẩy
mạnh phát triển kinh tế – xã hội một cách vững chắc .
- Luận văn thạc sĩ “ Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước ở
huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Phạm Công Hưng- Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội (2012); đề xuất các giải pháp quản lý chi trên địa bàn nhằm giải quyết kịp
thời những hạn chế về công tác quản lý chi ở huyện Thuận Thành. Và việc thực hiện tốt
công tác quản lý chi ngân sách giúp thực hiện tốt chức năng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
hỗ trợ người nghèo, rút ngắn khoảng cách giàu và nghèo
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Phù
Cát, tỉnh Bình Định” tác giả Phạm Văn Thịnh- Đại học Đà Nẵng (2011); luận văn đề xuất
những giải pháp về hoàn thiện quản lý chi NSNN huyện Phù Cát như cần thực hiện công
khai tài chính nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện cho

thể tách rời các hoạt động của nhà nước nhằm hai mục đích chính: cải thiện phân phối thu
nhập trong xã hội, hoặc tạo điều kiện nâng cao hiệu quản của nền kinh tế.
Xét từ góc độ nền kinh tế nói chung (quan điểm kinh tế công cộng), chi tiêu công
được xem là các khoản chi phí gắn liền với việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ nhằm
đáp ứng nhu cầu của xã hội về hàng hoá công cộng. Như vậy nó có thể bao gồm cả chi phí
cung cấp hàng hóa dịch vụ từ ngân sách nhà nước lẫn từ khu vực tư nhân theo quy định
của pháp luật. Hay nói cách khác, chi tiêu công là các khoản chi tiêu của chính quyền trung
ương, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước (khu vực nhà nước) và của
toàn dân khi cùng tham gia vào các hoạt động do chính phủ quản lý. Đây là một khái niệm
tương đối rộng và đang dần dần được đưa ra hiện nay.
Chi tiêu công cũng có thể hiểu là giá trị của hàng hoá và dịch vụ được nhà nước và
các cơ quan nhà nước mua sắm. Theo quan điểm này, chi tiêu công không bao gồm chi tiêu
của các doanh nghiệp nhà nước. Chi phí mua sắm này được trang trải từ nguồn thu thuế,
vay nợ trong nước, vay nợ, viện trợ nước ngoài.[7]
Xét từ góc độ hẹp hơn của chi tiêu công là các khoản chi tiêu của chính phủ nhằm
đạt nhiều mục đích khác nhau: về kinh tế, xã hội lẫn cả mục đích chính trị. Hoặc đối với
các nhà quản lý ngân sách, chi tiêu công có thể được coi là các khoản chi tiêu được trang
trải từ ngân sách các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.
Trên thực tế, việc xem xét đánh giá chi tiêu công theo khái niệm bao gồm cả chi phí
của toàn dân cho hàng hoá công cộng là rất khó thực hiện, đặc biệt đối với các nền kinh tế
đang phát triển. Vì vậy thông thường (và ở Việt Nam) người ta hay xem xét vấn đề chi tiêu
công từ góc độ chi tiêu của chính phủ, hay nói cách khác là chi ngân sách nhà nước cho
các lĩnh vực cụ thể.
15
Như vậy đứng trên quan điểm của các nhà quản lý ngân sách ta có thể hiểu Chi
ngân sách nhà nước (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do chính phủ hoặc các
pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích, chẳng hạn như: bảo vệ
an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp… hay nói cách
khác: “chi của ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước
theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà

phòng.
Chi ngân sách nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách nhà nước. Thu ngân
sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách nhà nước, ngược lại sử dụng vốn ngân
sách để chi tiêu cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng nhanh thu nhập
của ngân sách. Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu ngân sách một cách có hiệu quả, tiết
kiệm luôn luôn được nhà nước quan tâm.
Chi ngân sách nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế chính trị,
xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ. Điều này chứng tỏ các khoản chi của ngân sách
nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia.
b. Vai trò của chi ngân sách nhà nước
Vai trò của chi NSNN bao gồm: là đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ
máy nhà nước và là công cụ của Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường
Vai trò đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước được thể hiện
qua lương, phụ cấp của các công chức, viên chức, các khoản chi tiêu xây dựng cơ sở vật
chất, chi quản lý hành chính, mua sắm thiết bị cho công sở để duy trì sự tồn tại và hoạt
động, bộ máy Nhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các
nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước được đáp ứng bởi công cụ tài chính nhà nước, đặc
biệt là NSNN.
Vai trò trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Chi ngân sách có vai trò rất
quan trọng trong quản lý điều hành kinh tế vĩ mô. Trong cơ chế thị trường, thông qua chi
ngân sách Nhà nước can thiệp vào thị trường, hạn chế, khắc phục những khuyết điểm; hơn
nữa chi ngân sách góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích thích đầu tư .Trong nền kinh
tế thị trường hiện đại, việc đề cao vai trò của nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế và
phát huy vai trò của kinh tế Nhà nước ở một giới hạn hợp lý là một trong những nhân tố cơ
bản để điều tiết sự phát triển của nền kinh tế nhằm đạt tới ổn định, hiệu quả và công bằng.
Tóm lại, chi NSNN là công cụ đáp ứng nhu cầu cơ bản và ở nhiều lĩnh vực, đóng
vai trò quyết định, như đảm bảo hoạt động Bộ máy Nhà nước, cung cấp cho xã hội hàng
hoá công cộng thuần tuý hành chính pháp lý, thực thi luật pháp, an ninh trật tự, bảo vệ lãnh
17
thổ quốc gia. Đồng thời, Nhà nước sử dụng chi NSNN để quản lý xã hội và thực hiện

nhờ vào đó chi NSNN được sử dụng vào việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài
chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Trong chức năng này, chủ
thể phân phối là Nhà nước trên tư cách là người có quyền lực chính trị, còn đối tượng phân
phối là NSNN đã thuộc sở hữu Nhà nước hoặc đang là thu nhập của các pháp nhân, thể
nhân trong xã hội.
- Chức năng điều chỉnh và kiểm soát: Để quản lý một cách hữu hiệu các hoạt động
kinh tế - xã hội thì việc tiến hành điều chỉnh và kiểm soát thường xuyên là cần thiết và
khách quan. Với tư cách là một bộ phận của NSNN, chi NSNN cũng là một công cụ quản
lý trong tay Nhà nước và thực hiện chức năng điều chỉnh và kiểm soát như một sứ mệnh xã
hội tất yếu.
1.1.4. Nội dung của chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức. Trong quản lý tài
chính, chi NSNN bao gồm các nội dung như sau:
*Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để đáp
ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về
quản lý KT-XH và nhằm duy trì đời sống quốc gia. Chi thường xuyên là những khoản chi
mang những đặc trưng cơ bản:
- Chi thường xuyên mang tính ổn định: Xuất phát từ sự tồn tại của bộ máy Nhà
nước, từ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn
lực tài chính ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tính ổn định
của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ ổn tính định trong từng hoạt động cụ thể của
mỗi bộ phận thuộc bộ máy Nhà nước
- Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội: Các khoản chi thường xuyên
chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước, về quốc
phòng, an ninh, về các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Các khoản chi
thường xuyên gắn với tiêu dùng của Nhà nước và xã hội mà kết quả của chúng là tạo
ra các hàng hóa và dịch vụ công cho hoạt động của Nhà nước và yêu cầu phát triển
của xã hội.
19

hoàn vốn: là khoản chi lớn của Nhà nước nhằm phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo các điều
kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển KT-XH. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là khoản chi
20
đầu tư xây dựng các công trình giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, năng lượng, các
ngành công nghiệp cơ bản, các công trình trọng điểm phát triển văn hóa xã hội
- Chi xây dựng mới và tu bổ công sở, đường sá, kiến thiết đô thị
- Đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, góp vốn
liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước
- Chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển: Đây là khoản chi của NSNN góp phần tạo lập
quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện việc hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư phát triển thuộc các
ngành nghề ưu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ, nhằm phát triển sản
xuất, đảm bảo cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước.
*Chi khác: chi bổ sung qũy dự trữ nhà nước, chi bổ sung ngân sách cấp dưới, chi
viện trợ, chi trả nợ gốc các khoản vay của chính phủ.
1.2. QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm về quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi NSNN là sự tác tác động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
đến các hoạt động chi NSNN, làm cho quỹ NSNN được phân bổ, sử dụng đúng mục đích,
tiết kiệm, hiệu quả, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do
cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận.
Quản lý chi NSNNcấp quận là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi ngân sách cấp quận,
đảm bảo cho các khoản chi ngân sách quận được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu
quả. Quản lý chi NSNN là sự tác tác động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
đến các hoạt động chi NSNN, làm cho quỹ NSNN được phân bổ, sử dụng đúng mục đích,
tiết kiệm, hiệu quả, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do
cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận.
Đối tượng quản lý là hoạt động chi ngân sách cấp quận. Hoạt động đó bao gồm
việc lập dự toán; phân bổ dự toán; chấp hành dự toán; kiểm tra, kiểm soát, thanh toán các
khoản chi NS cấp quận; quyết toán các khoản chi ngân sách cấp quận.

thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng
đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy quản lý nhà nước, cũng như trợ vốn, trợ
giá và sử dụng quỹ dự trữ của Nhà nước. Trong quá trình điều tiết thị
trường việc quản lý chi ngân sách có vai trò rất lớn trong việc chống lạm
22
phát và suy thoái, kích cầu nền kinh tế. Khi nền kinh tế lạm phát Nhà
nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung
tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hội làm cho giá cả dần dần ổn định,
chống lạm phát. Khi nền kinh suy thoái, sức mua giảm sút Nhà nước tăng
chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm, kích cầu chống suy thoái
nền kinh tế.
- Duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng
công cụ chi ngân sách. Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên,
chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của
từng đối tượng cụ thể, tạo ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông
qua đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tưu
vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở để nhằm thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế.
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CẤP QUẬN,
HUYỆN TẠI VIỆT NAM
1.3.1. Lập dự toán chi ngân sách quận
Hàng năm, quán triệt quyết định của chính phủ, hướng dẫn của bộ tài chính và chỉ
thị của uỷ ban nhân dân thành phố về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và
dự toán ngân sách nhà nước, Sở tài chính hướng dẫn cụ thể một số nội dung về xây dựng
dự toán ngân sách đối với các quận
*Đối với chi đầu tư phát triển: xem xét việc bố trí các dự án, hạng mục thứ tự ưu
tiên phù hợp với yêu cầu phát triển KTXH của dự án trong từng thời kỳ và khả năng cân
đối của ngân sách, theo tiến độ triển khai của dự án, dứt điểm, tránh dàn trải.
*Đối với chi thường xuyên: căn cứ vào tiêu chí tiêu chí theo quy định và dựa vào
định mức chi để xem xét thẩm tra, đồng thời dựa vào khối lượng công việc, mức kinh phí

toán ngân sách chính thức của quận trong năm đó.
1.3.2. Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách quận
UBND quận căn cứ quyết định của UBND thành phố về giao nhiệm vụ thu, chi
ngân sách, tŕnh Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán chi ngân sách quận và
phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp quận trước ngày 20/12 hàng năm.Trên cơ sở
quyết định của HĐND quận, UBND quận giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ
quan, đơn vị trực thuộc cấp quận, mức bổ sung từ ngân sách cấp quận cho từng phường.
24
*Đối với chi đầu tư phát triển: Dự toán và kế hoạch vốn được phân, giao cho chủ
đầu tư chi tiết đến loại, khoản, mục, tiểu mục của mục lục ngân sách nhà nước và mã số dự
án theo quy định tại Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ Tài chính
Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển :Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây
dựng cơ bản phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ
bản chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự
toán được duyệt
*Đối với chi thường xuyên:
- Trường hợp đơn vị dự toán là cơ quan nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số
130/2005/NĐ-CP, ngày 17/10/2005 của Chính phủ, việc phân bổ và giao dự toán chi tiết
theo 2 phần: phần dự toán chi ngân sách nhà nước giao thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu
trách nhiệm; phần dự toán chi ngân sách nhà nước giao không thực hiện chế độ tự chủ, tự
chịu trách nhiệm.
- Trường hợp đơn vị dự toán là đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về tài chính theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006
của Chính phủ, việc phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước được căn cứ vào
nhiệm vụ được giao, phân loại đơn vị sự nghiệp (là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần
chi phí hoạt động hoặc đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí
hoạt động). Dự toán được giao chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi ngân sách nhà nước
bảo đảm hoạt động thường xuyên và phần dự toán chi hoạt động không thường xuyên.
Nội dung cơ bản của cho thường xuyên: Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào

đơn vị phân bổ ngân sách quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các đơn vị
trực thuộc; đồng thời gửi Phòng Tài chính – Kế hoạch và KBNN quận nơi giao dịch làm
căn cứ kiểm soát, thanh toán.
1.3.3. Chấp hành dự toán chi ngân sách quận
Căn cứ vào dự toán ngân sách quận cả năm được hội đồng nhân dân quyết định, uỷ
ban nhân dân quận giao nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán
ngân sách được phân bổ, đồng thời thông báo cho phòng tài chính và kho bạc nhà nước
quận để theo dõi, cấp phát và quản lý. Ngoài uỷ ban nhân dân quận, không một tổ chức
hoặc cá nhân nào được thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã được phân bổ.
Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách
chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phòng tài chính được phép cấp
tạm kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và
phân bổ ngân sách được quyết định.

Trích đoạn Chấp hành dự toán chi ngân sách quận Kiểm soát các khoản chi ngân sách quận Quyết toán chi ngân sách quận Các nhân tố khách quan Công tác thanh tra, kiểm tra chi ngân sách nhà nước quận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status