Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Nớc ta trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoach hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Cùng với quá trình
chuyển đổi này là sự thay đổi căn bản vai trò của nhà nớc và thị trờng trong nền
kinh tế. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có quyền tự chủ trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và cạnh tranh trên thị trờng.
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trờng, là động
lực phát triển nền kinh tế. Đối với mỗi chủ thể doanh nghiệp, cạnh tranh để tạo
sức ép ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải
tiến công nghệ thiết bị sản xuất và phơng thức quản lí nhằm nâng cao chất lợng
sản phẩm, hạ giá thành. Trong quá trình cạnh tranh các doanh nghiệp yếu sẽ bị
đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện. Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả tiếp tục
tồn tại và phát triển, nhờ đó mà nguồn lực xã hội đợc sử dụng hợp lí. Cạnh tranh
tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ cũng chính là tạo ra nhiều sự lựa
chọn cho khách hàng và ngời tiêu dùng.
Công ty Cơ Khí Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nớc chuyên chế tạo
máy công cụ và gia công thiết bị phụ tùng thay thế cho các ngành công nghiệp,
các loại sắt thép phục vụ cho ngành xây dựng. Công ty đã không ngừng vơn lên,
tự khẳng định mình trong nền kinh tế mới. Với các sản phẩm của mình công ty
đã từng bớc tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng.
Trong thời gian kiến tập tại Công ty Cơ Khí Hà Nội, em đợc giao đề tài
Một số ý kiến nhằm nâng cao sức cạnh tranh của Công ty Cơ Khí Hà
Nội Với mong muốn góp phần giúp Công ty nâng cao khả năng cạnh tranh
trên thị trờng trong thời gian tới. Bài viết gồm ba phần.
Phần I: Cơ sở lí luận chung về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
Phần II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty Cơ Khí Hà
Nội.
Phần III: Một số ý kiến nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công
ty Cơ Khí Hà Nội.
ời sản xuất, ngời tiêu thụ hàng hoá, mua nguyên vật liệu để sản xuất và ngời lao
động mua về sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động.
Thị trờng còn là đòn bẩy kích thích sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo sản
xuất luôn luôn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng vì khi sản xuất mang ra thị trờng,
ngời sản xuất bán đợc hàng rồi tiếp tục sản xuất dẫn đến sản xuất phát triển.
Thị trờng kích thích làm giảm chi phí sản xuất.
Thị trờng còn là nơi cung cấp thông tin cực kì quan trọng giúp cho ngời
sản xuất để sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị hiếu của sản xuất.
- 4 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Các quy luật của thị tr ờng:
a) Quy luật cạnh tranh:
Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về mặt kinh tế giữa những ngời sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm giành giật những điều thuận lợi trong sản xuất
và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc nhiều lợi ích cao nhất cho mình.
Cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, nó không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời.
Vai trò của quy luật cạnh tranh: Vì nó có chức năng tích cực, nó buộc
ngời sản xuất thờng xuyên cải tiến kỹ thuật sản xuất, ứng dụng khoa học công
nghệ vào sản xuất, áp dụng phơng pháp quản lí kinh tế có hiệu quả, phải thờng
xuyên thực hành tiết kiệm và nâng cao trình độ kỹ thuật cho ngời lao động để
hao phí cá biệt luôn nhỏ hơn bằng hao phí xã hội. Cạnh tranh nó bình tuyển tiến
bộ, đào thải lạc hậu để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Tuy nhiên quy
luật cạnh tranh còn gây ra sự phân hoá ngời sản xuất nhỏ làm cho ngời sản xuất
hàng hoá không có điều kiện thuận thì bị phá sản.
b) Quy luật cung cầu:
Cung và cầu là những phạm trù kinh tế của sản xuất và lu thông hàng
hoá có quan hệ mật thiết với thị trờng đợc gọi là quy luật cung cầu.
Cầu là nhu cầu của xã hội đợc biểu hiện trên thị trờng đợc đảm bảo
bằng một lợng tiền tơng ứng thì ngời ta gọi là nhu cầu có khả năng.
các doang nghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
kinh doanh để đạt đợc mục tiêu của tổ chức, của doanh nghiệp đó.
Trong kinh tế thị trờng cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp,
cạnh tranh có thể đợc hiểu là sự ganh đua giữ các doanh nghiệp trong việc giành
một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị
trờng, để đạt đợc mục tiêu kinh doanh cụ thể. Ví dụ nh lợi nhuận, doanh số
hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trờng nh vậy đồng nghĩa với ganh đua:
Ganh đua về giá cả, số lợng, dịch vụ hoặc kết hợp giữa các yếu tố này với các
nhân tố khác để tác động lên khách hàng. Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh
các tín hiệu giá cả, lợi nhuận tạo lên sự kích thích giữa các doanh nghiệp từ nơi
tạo ra giá trị thấp hơn sang nơi cao giá trị cao hơn, việc phân cấp quá trình ra
quyết định cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan
hiếm của xã hội, tăng phúc lợi cho ngời tiêu dùng và tăng hiệu quả hoạt động
thông qua đổi mới thay đổi kỹ thuật và tiến bộ của toàn bộ nền kinh tế.
2. Vai trò cạnh tranh:
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cạnh tranh diễn ra liên tục và đợc ví
nh một cuộc đua maratông về kinh tế không có đích cuối cùng. Ai cảm nhận
đợc đích sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ cạnh tranh vơn lên phía trớc.
Trong cuộc đua này ngời chạy trớc sẽ là đích để ngời sau vơn tới do đó khó có
thể đoán trớc đợc điều gì sẽ xảy ra ở những chặng đờng khác nhau.
- 6 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mỗi doanh nghiệp không thể lẩn tránh đợc cạnh tranh vì làm nh vậy là
cầm chắc sự phá sản, phải chấp nhận cạnh tranh, đón trớc cạnh tranh, săn sàng
linh hoạt sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình. Điều này dễ nhận
thấy nhất ở vai trò cạnh tranh:
Thứ nhất: Cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải:
-Tối u hoá các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
-Không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh
doanh.
mà thấp hơn so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những ngời mua
sẽ trở lên quyết liệt. Lúc đó giá cả hàng hoá dịch vụ sẽ tăng vọt nhng do hàng
hoá dịch vụ khan hiếm lên ngời mua vẫn chấp nhận gía cao để mua thứ mà
mình cần. Kết quả là ngời bán thu đợc lợi nhuận cao, còn ngời mua thì mất
thêm một số tiền. Đây là cuộc canh tranh mà theo đó những ngời mua sẽ bị thiệt
còn ngời bán sẽ đợc lợi.
*) cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh
chính trên thị trờng tính gay go khốc liệt nhất mà có ý nghĩa sống còn đối với
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, thủ tiêu nhau để giành
giật khách hàng và thị trờng làm cho giá cả không ngừng giảm xuống và ngời
mua sẽ đợc lợi kết quả đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh
tranh này là viẹec tăng doanh số tiêu thụ, tăng tỷ lệ thị phần cùng với nó là việc
tăng lợi nhuận, tăng đầu t chiều sâu, mở rộng sản xuất.
Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển số ngời bán càng
tăng lên thì cạnh tranh cũng càng quyết liệt. Trong quá trình ấy, một mặt nó sẽ
gạt ra khỏi thị trờng những doanh nghiệp không có chiến lợc cạnh tranh thích
hợp, mặt khác nó lại mở đờng cho các doanh nghiệp khác lắm chắc đợc vũ khí
cạnh tranh thị trờng và giám chấp nhận luật chơi phát triển.
3.2- Căn cứ vào mức độ tính chất cạnh tranh trên thị trờng:
*) Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà trên thị trờng có
rất nhiều ngời bán và không có ngời nào có u thế để cung ứng một số lợng hàng
hoá dịch vụ đủ quan trọng để ảnh hởng tới giá cả trên thị trờng. Điều đó có
nghĩa là họ sản xuất và bán sản phẩm hàng hoá của mình tại một mức giá hiện
hành trên thị trờng. Vì vậy một hãng cạnh tranh trên thị trờng cạnh tranh hoàn
hảo không có lí do gì để bán với mức giá rẻ hơn mức gía trên thị trờng, hơn nữa
nó cũng không thể tăng giá của mình lên cao hơn mức giá thị trờng, vì nếu thế
doanh nghiệp chẳng bán đợc gì và ngời tiêu dùng sẽ đi mua với múc giá rẻ hơn
từ phía các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ còn cách
thích ứng với giá trên thị trờng và tìm mọi biện pháp giảm chi phí sản xuất ra
một số lợng sản phẩm ở mức giá giới hạn mà tại đó chi phí bằng doanh thu cận
Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm
nào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau.
Độc quyền gây trở ngại cho việc phát triển sản xuất làm phơng hại cho ngời tiêu
dùng. Vì vậy mà ở một số nớc có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên
minh giữa các nhà kinh doanh.
3.3- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
*) Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà
doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá,
- 9 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp tìm mọi cách
thôn tính lẫn nhau, giành khách hàng về mình. Biện pháp của cạnh tranh chủ
yếu là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất
nhằm làm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thấp
hơn giá trị xã hội để thu đợc nhiều lợi nhuận siêu nghạch. Kết quả của cạnh
tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển, điều kiện sản xuất trung bình trong một
ngành sản xuất thay đổi. Giá trị xã hội của hàng hoá đợc xác định lại, tỷ suất lợi
nhuận giảm xuống đồng thời các doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi
hoạt động của mình trên thị trờng, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu
hẹp kinh doanh thậm chí bị phá sản.
*) Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh
nghiệp hay đồng minh giữa các nhà doanh nghiệp trong ngành kinh tế với nhau,
nhằm giành lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình cạnh tranh các doanh nghiệp
luôn bị hấp dẫn bởi các ngành có lợi nhuận cao hơn. Sự di chuyển này sau một
thời gian nhất định vô hình dung đã hình thành lên một sự phân phối vốn hợp lí
giữa các ngành sản xuất để rồi kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu t
với các ngành khác với cùng một số vốn chỉ thu đợc một lợi nhuận nh nhau tức
là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.
III. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:
ngoài có vốn nhiều và kỹ thuật cao lại dầy dạn kinh nghiệm trong cạnh tranh.
Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và các
doanh nghiệp nhà nớc nói riêng vừa là sự cần thiết cho sự tồn tại của doanh
nghiệp vừa là để tăng tính cạnh tranh thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển.
3. Các tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:
3.1- Thị phần của doanh nghiệp trên toàn bộ thị phần: Đây là một chỉ
tiêu thờng đợc sử dụng đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi
xem xét chỉ tiêu này ngời ta thờng xem xét các loại thị phần sau:
-Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trờng: Đây là tỷ lệ phần trăm
giữa doanh số của công ty so với toàn thị trờng.
-Thị phần của công ty so với phân phúc mà nó phục vụ là tỷ lệ phần
trăm giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc.
-Thị phần tơng đối là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty với đối thủ
cạnh tranh mạnh nhất nó cho biết vị thế của công ty trong thị trờng nh thế nào.
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết
mình đang ở vị trí nào và cần đặt ra những chiến lợc hành động nh thế nào.
Ưu điểm: Chỉ tiêu này đơn giản, dễ tính.
Nhợc điểm: Khó đảm bảo chính xác do khó thu thập đợc doanh số
chính xác của doanh nghiệp.
3.2- Tỷ suất lợi nhuận:
- 11 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nábági
thành) giá - bán giá (
=tính ượcđ utiê Chỉ
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng của
doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đó. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh rất gay gắt và
doanh nghiệp cũng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt đó, và do vậy một phần nào
đó chứng tỏ nó cũng cạnh tranh không kém gì các đối thủ của mình, ngợc lại
Công nghệ và máy móc thiết bị: Đó là bộ phận cơ bản tạo ra sản phẩm,
tăng năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngày nay với sự tiến bộ
của khoa học công nghệ, xuất phát từ nhu cầu thị trờng về số lợng, chủng loại,
chất lợng, giá cả sản phẩm, khả năng điều kiện của doanh nghiệp mà lựa chọn
mục tiêu phơng hớng trình độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Trong nền
kinh tế thị trờng muốn tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng lợi nhuận
của doanh nghiệp, cần cải tiến nâng cao chất lợng của sản phẩm. Xuất phát từ
nhu cầu thị trờng số lợng, chủng loại, chất lợng, giá cả sản phẩm... tạo sản phẩm
mới đổi mới công nghệ là việc làm của doanh nghiệp do doanh nghiệp quyết
định, doanh nghiệp đợc hởng kết quả do đổi mới công nghệ đem lại và chịu
trách nhiệm nếu không thành công. Phải có sự gắn bó giữa chiến lợc sản phẩm
với chiến lợc công nghệ.
*) Đổi mới đội ngũ nhân lực:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm cho xã hội ngời
lao động không những là yếu tố của quá trình sản xuất mà còn là một yếu tố
quan trọng tác động có tính quyết định vào việc phát huy đồng bộ có hiệu quả
các yếu tố khác. Qua nghiên cứu thực tế ở một số doanh nghiệp nớc ta và một
số nớc khác trên thế giới, chúng ta có thể nói rằng dù khả năng về vốn, tổ chức
quản lý và công nghệ có dồi dào hiện đại bao nhiêu, cũng sẽ trở thành vô ích
nếu doanh nghiệp đó sở hữu một đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật yếu kém
về năng lực và tay nghề, hiệu quả sử dụng đồng vốn không cao thậm chí còn có
kết quả ngợc lại với mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa với không
nâng cao đợc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó trong quá trình phát
triển mỗi doanh nghiệp phải phát huy đợc hiệu quả nguồn nhân lực của mình
đồng thời ngày càng nâng cao số lợng cũng nh nâng cao chất lợng nguồn nhân
lực.
b. Nhân tố bên ngoài:
Bao gồm các yếu tố: Các giai đoạn trong chu kỳ kinh tế,nguồn cung cấp
tín dụng, tốc độ tăng trởng GDP, tỷ lệ lạm phát,tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp.
-Tốc độ tăng trởng caolàm cho thu nhập dân c tăng,khả năng thanh toán
luật thuế, các chế độ dãi ngộ đặc biệt , các qui định trong lĩnh vực ngoại thơng,
sự ổn định của chính phủ.
-Một thể chế chính trị ổn định ,luật pháp rõ ràng mở rộng sẽ là cơ sở
cho việc bảo đảm sự thuận lợi ,bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh
tranh và có hiệu quả. Ví dụ: các luật thuế có ảnh hởng rất lớn đến cạnh tranh,
bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế khác nhau và trên mọi lĩnh vực, thếu xuất nhập khẩu cũng ảnh hởng đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nớc.
*)Các yếu tố về văn hoá xã hội
- 14 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Gồm các quan điểm sống, phong cách sống, tính tích cực tiêu dùng, tỷ
lệ tăng dân số, tỷ lệ sinh đẻ. Tất cả các nhu cầu đó ảnh hởng đến nhu cầu thị tr-
ờng và do đó đến điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp. Những khu vực
khác nhau mà ở đó thị hiếu tiêu dùng, nhu cầu khác nhau đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có chính sách sản phẩm và tiêu thụ khác nhau.
*) Các nhân tố tự nhiên:
Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên đất nớc, vị trí địa
lí, phân bố địa lí của các tổ chức kinh doanh. Các nhân tố này tạo những điều
kiện thuận lợi hoặc khó khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh của một doanh
nghiệp. Nếu tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lí thuận lợi sẽ giúp cho
các doanh nghiệp tiết kiệm đợc chi phí (nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển) và
do đó tăng khả năng cạnh tranh. Hơn nữa vị trí địa lí thuận lợi tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp khuyếch trơng sản phẩm, mở rộng thị trờng. Ngợc lại nhân tố
tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo ra khó khăn ban đầu cho doanh nghiệp và khả
năng cạnh tranh của nó sẽ bị thuyên giảm.
*) Các nhân tố thuộc môi trờng ngành:
Các đối thủ tiềm năng: Việc gia nhập thị trờng của các doanh nghiệp
mới trực tiếp làm giảm tính chất quy mô cạnh tranh do tăng năng lực sản xuất
và khối lợng sản xuất trong ngành. Sự xuất hiện của các đối thủ mới có khả
đồng thời là một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một tổ chức với nhà sản xuất
thì tính nội bộ đợc phát huy tạo cho các nhà sản xuất có điều kiện thực hiện
cạnh tranh bằng giá.
Để giảm bớt ảnh hởng xấu từ phía các nhà cung ứng các nhà doanh
nghiệp cần phải có mối quan hệ tốt với họ hoặc mua của nhiều ngời trong đó
chọn ra nhà cung cấp chính, đồng thời tích cực nghiên cứu tìm nguyên vật liệu
thay thế, dự trữ nguyên vật liệu hợp lí.
*) Sức ép của ngời mua (Khách hàng):
Ngời nua tranh đua với ngành bằng cách ép giá giảm xuống, mặc cả để
có chất lợng tốt hơn và đợc phục vụ nhiều hơn đồng thời còn làm cho các đối
thủ chống lại nhau. Tất cả đều làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành nói chung
và của doanh nghiệp trong ngành nói riêng. Quyền lực của mỗi nhóm khách
hàng của doanh nghiệp phụ thuộc vào một loạt các đặc điểm về tình hình thị tr-
ờng của nhóm và tầm quan trong của các hàng hoá mà khách hàng mua của
doanh nghiệp. Nhóm khách hàng làm mạnh nếu có các điều kiện sau.
-Nhóm tập trung hoặc mua với khối lợng lớn so với khối lợng hàng hoá
bán ra của ngời bán.
-Những hàng hoá mà nhóm mua của ngành chiếm tỷ lệ đáng kể, quan
trọng trong các choi phí hoặc trong số hàng hoá phải mua của nhóm. Khách
hàng sẽ có su hớng chi tiêu hợp lí các nguồn lực cần để mua hàng của mình, đặc
biệt về lí do giá cả và sẽ mua một cách có chọn lựa.
- 16 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Những sản phẩm mà nhóm mua của doanh nghiệp là theo đúng tiêu
chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt. Ngời mua chắc chắn có thể tìm đợc
ngời cung cấp khác và sẽ có khả năng để doanh nghiệp này chống lại doanh
nghiệp khác.
-Nhóm chỉ kiếm đợc mức lợi nhuận thấp: Lợi nhuận thúc đẩy hạ thấp
mức chi phí mua hàng. Còn đối với những khách hàng có mức lợi nhuận cao
nhìn chung ít để ý đến giá cả hơn (Tất nhiên trong điều kiện hàng hoá đó không
Thứ nhất: Theo sự biến đổi của doanh mục của sản phẩm:
-Biến đổi chủng loại: Là quá trình hoàn thiện và cải tiến sản phẩm các
loại sản phẩm đang sản xuất để giữ vững thị trờng hiện tại và thâm nhập thị tr-
ờng mới nhờ sự đa dạng về kiểu cách, cấp độ hoàn thiện sản phẩm, thoả mãn thị
hiếu sử dụng và khả năng thanh toán của những khách hàng khác nhau.
-Đổi mới chủng loại: Là sự loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, những sản
phẩm khó tiêu thụ và bổ sung những sản phẩm mới vào doanh mục của doanh
nghiệp.
Thứ hai: Theo tính chất nhu cầu của sản phẩm.
-Đa dạng hoá theo chiều sâu của mỗi loại sản phẩm: Là việc phát triển
kiểu cách mẫu mã của cùng một loại sản phẩm để đáp ứng toàn diện nhu cầu
cỉa các đối tợng khác nhau về cùng một loại sản phẩm. Việc thực hiện đa dạng
hoá này gắn liền với phân khúc nhu cầu thị trờng.
-Đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu sản phẩm: Thể hiện việc chế tạo sản
phẩm có kết cấu công nghệ sản xuất và giá trị sử dụng khác nhau để thoả mãn
đồng bộ một số yêu cầu có liên quan với nhau của một đối tợng tiêu dùng.
Thứ ba: Theo mối quan hệ với việc sử dụng nguyên vật liệu chế tạo sản
phẩm có đa dạng hoá theo hớng:
-Sản xuất những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhng có chung
chủng loại nguyên vật liệu gốc sử dụng tổng hợp các cháat có ích chứa trong
một loại nguyên vật liệu để sản xuất một số sản phẩm có giá trị sử dụng khác
nhau.
*) Nâng cao chất lợng sản phẩm và tính năng công dụng:
-Không một ai lại đi mua một sản phẩm hàng hoá mà nó không đem lại
lợi ích công dụng gì, hay nói cách khác là nó không thoả mãn một nhu cầu nào.
Do vậy xcác doanh nghiệp cần phải quan tâm đầu tiên đến công dụng lợi ích
của sản phẩm.
-Chất lợng của sản phẩm là tập hợp những thuộc tính của sản phẩm
trong điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật. Chất lợng sản phẩm đợc hình
thành từ khi thiết kế sản phẩm đến khi sản phẩm sản xuất ra và tiêu thụ. Có