KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
Mục lôc
Trang
Mục lục 1
Lời nói đầu 3
Chương 1
KHái niệm về khoa học - công nghệ, công nghệ cao
6
1.1. vài nét về khoa học công nghệ thế giới 6
1.1.1. Đặc trưng chủ yếu của thời đại văn minh trí tuệ
7
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế mới (nền kinh tế tri thức) của
Mỹ- đại diện nổi bật của các nước tiên tiến
8
1.2. Giới thiệu về công nghệ cao và khu công nghệ cao 11
1.2.1. Một số quan niệm
11
1.2.2. Sự phát triển của Khu công nghệ cao trên thế giới
14
1.2.3. Tầm quan trọng của Công nghệ cao đối với các nước đang
phát triển
19
Chương 2
Thực trạng khoa học - công nghệ Việt Nam và Khu công nghệ cao Việt Nam
22
2.1. Hiện trạng khoa học công nghệ việt nam 22
2.1.1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam
22
2.1.3. Hiện trạng khoa học và công nghệ của Việt Nam
25
2.1.3. Mục tiêu phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam
58
1
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
3.2.2. Định hướng phát triển công nghiệp, công nghệ cao của Việt
Nam giai đoạn 2000-2025
60
3.3. Chính sách khuyến khích phát triển kcnc việt nam 62
3.3.1. Những đảm bảo của Nhà nước và điều kiện tham gia KCNC
63
3.3.2. Tạo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong sản xuất kinh
doanh cho mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động trong KCNC
67
3.3.3. Chính sách khuyến khích đầu tư
68
3.3.4. Chính sách ưu đãi về thuế
69
3.3.5. Chính sách đất đai
71
3.3.6. Hỗ trợ phát triển và thu hút nguồn nhân lực
71
3.3.7. Xây dựng, phát triển và quản lý cơ sở hạ tầng KCNC
72
3.3.8. Hệ thống tổ chức quản lý KCNC
73
3.3.9. Khuyến khích và ưu đãi về cơ chế quản lý KCNC
81
Kết luận và kiến nghị 87
Tài liệu tham khảo 90
2
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
phê duyệt Quy hoạch tổng thể và Dự án đầu tư bước 1, giai đoạn 1 Khu Công nghệ
cao Hoà Lạc, và Quyết định số 98/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2001 về
việc triển khai đầu tư và xây dựng cơ sở hạng tầng Khu công nghệ cao Hoà lạc.
Đây sẽ là sự phát triển sáng tạo các mô hình Khu công nghệ cao trên thế giới và
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy
sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá của nước nhà.
Tuy nhiên, điểm xuất phát của Việt Nam về trình độ phát triển thấp hơn so với các
nước khác khi xây dựng Khu công nghệ cao. Vì vậy muốn tiếp cận nhanh chóng
với công nghệ tiên tiến, chúng ta cần phải tạo ra được một môi trường đầu tư thật
hấp dẫn để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư. Trước hết, chúng ta cần có một
khung pháp lý rõ ràng, ổn định, chính sách khuyến khích và ưu đãi cho việc phát
triển Công nghệ cao, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực
có độ rủi ro cao nhưng giá trị lợi nhuận cũng rất lớn như các Khu Công nghệ cao.
Từ khi thực hiện chính sách mở của nền kinh tế trong 15 năm qua, Việt Nam đã
thành công trong việc xây dựng được mô hình các Khu công nghiệp, Khu chế xuất,
đóng góp một phần rất quan trọng cho việc tăng trưởng nền kinh tế nước nhà. Tuy
nhiên, Khu công nghệ cao là mô hình rất mới mẻ mà nền kinh tế Việt Nam đang
hướng tới. Để Khu công nghệ cao Hoà Lạc có thể khởi động được, có khả năng thu
hút đầu tư, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta xây dựng được hành lang pháp
lý chặt chẽ và đặc biệt là hệ thống chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt để tạo
điều kiện cho Khu công nghệ cao phát huy tác dụng.
Trước thực trạng đó, được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa Kinh tế Ngoại
thương - Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“ Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với
các Khu công nghệ cao ở Việt Nam".7
Nội dung của đề tài gồm các phần chính nh sau:
4
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
Chương 1 - Giới thiệu về Công nghệ cao và Khu công nghệ cao.
Chương 2- Thực trạng khoa học - công nghệ Việt Nam và việc xây dựng
phục các thế lực siêu nhiên.
Trong thời đại công nghiệp, loài người có nền văn minh công nghiệp, xã hội công
nghiệp, kinh tế vật dụng và tài nguyên thiên nhiên. Do tác động của Khoa học công
nghệ hiện đại, loài người đang ở thời đại thông tin với nền văn minh thông tin, xã
hội thông tin, kinh tế trí thức và tài nguyên thông tin trí tuệ. Tất cả các yếu tố đó
tạo nên một thế giới mới trong đó người ta thường nói đến cụm từ "Nền kinh tế trí
6
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
thức". Vậy chúng ta hãy tìm hiều những đặc trưng và các yếu tố cấu thành nên
"Nền kinh tế trí thức".
1.1.1. Đặc trưng chủ yếu của thời đại văn minh trí tuệ.
Trong nền văn minh trí tuệ, tri thức Khoa học và Công nghệ là nguồn lực điều
khiển sự hưng thịnh của các quốc gia. Khác với nguồn lực truyền thống, Tri thức
Khoa học và Công nghệ có khả năng tái sinh và tự sinh sản, do đó sự phát triển của
nhân loại là vô tận.
Nền kinh tế của thời đại văn minh trí tuệ còn được gọi là “nền kinh tế trí thức” hoặc
“nền kinh tế thông tin” có 4 đặc trưng chủ yếu sau:
1- Nền kinh tế siêu tượng trưng: mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh được
tin học hoá mức độ cao; các giá trị được phi vật chất hoá; tiền điện tử; thị
trường chứng khoán điện tử.
2- Toàn cầu hoá nền kinh tế: từng bước thống nhất thị trường quốc tế thông
qua Tổ chức thương mại thế giới WTO với tổng giá trị thương mại hàng năm
trên 3000 tỷ USD. Liên kết tài chính toàn cầu đang diễn ra với tốc độ lớn,
với lượng tiền tệ lưu thông hàng ngày gấp 26 lần giá trị buôn bán trên thế
giới. Dòng đầu tư nhanh cùng với toàn cầu hoá đầu tư, kinh doanh của các
công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia.
3- Nền công nghiệp mới thân môi trường ra đời - nền công nghiệp sinh thái:
Trong nền công nghiệp này, thông tin và các yếu tố tri thức là các yếu tố đầu
vào của hệ thống sản xuất, quản lý, kinh doanh, vừa là của cải và vừa là công
cụ để tạo ra của cải. Đặc trưng của nền công nghiệp sinh thái là tiêu tốn Ýt
tăng của nền kinh tế là do máy vi tính chứ không phải do sức lao động sáng tạo ra.
Rất nhiều ngành nghề của nông nghiệp và công nghiệp đang trở thành ngành nghề
8
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
của công việc tri thức. Hiện nay hầu nh 60% công dân Mỹ là công nhân tri thức,
80% nghề nghiệp mới là do ngành tập trung tri thức tạo ra. Ông John Dure - một
chuyên gia về tài chính Mỹ nói: “ nền kinh tế cũ là thiết bị vốn, là sự duy trì của
nghề nghiệp, nhưng nền kinh tế mới lại là bản quyền tri thức, là sự sáng tạo của
nghề nghiệp”.
2.Nền kinh tế lấy thông tin làm chủ đạo.
Mỹ đang chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin. Ngành
thông tin, ngành tin học (bao gồm thiết kế, dự trữ, truyền tải và xử lý thông tin), các
ngành liên quan và ngành dịch vụ chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
Mỹ. Đặc biệt là 3 ngành thông tin lớn là tính toán (máy tính điện tử, phần mềm),
thông tin (điện thoại, vô tuyến, hữu tuyến và vệ tinh), và sự kết hợp với dịch vụ
(vui chơi, xuất bản, cung cấp thông tin, ), cho ra đời một ngành truyền thông hoàn
toàn mới. Từ năm 1996, giá trị sản xuất của ngành truyền thông đã đạt khoảng
1000 tỷ USD, chiếm 14% GDP của Mỹ. Hiện nay, ở Mỹ những nhà sản xuất máy
tính vượt những nhà sản xuất ô tô, những người chế tạo chất bán dẫn nhiều hơn
công nhân xây dựng, các nhân viên xử lý thông tin nhiều hơn số công nhân của
ngành luyện dầu. Ngành tin học không chỉ là ngành lớn nhất của Mỹ mà còn là
ngành tăng trưởng nhanh nhất trong mấy năm gần đây, hàng năm tăng trưởng với
tốc độ hai con số. Sản phẩm thông tin và chi phí dịch vụ tăng lên cũng dẫn đầu các
lĩnh vực khác. Theo thống kê năm 1999, ở Mỹ chi phí của các “sản phẩm kinh tế
cũ” như ôtô, thực phẩm, đồ điện gia dụng bình quân tăng 0,9%, nhưng chi phí
của các “sản phẩm kinh tế mới” như điện thoại, máy tính, dịch vụ tài chính tiền tệ,
vui chơi lại tăng bình quân 12%. Điều làm cho mọi người chú ý là do sự ứng
dụng của kỹ thuật tin học, các ngành kinh tế đã sử dụng công nghệ số hoá, mạng
Internet, điện tử, Trong điều kiện nền kinh tế cũ, sự lưu thông thông tin là vật
chất như tiền mặt, cổ phiếu, hoá đơn, biên lai lấy hàng, báo cáo, Trong điều kiện
10
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
- Công ty trở thành mạng lưới do các đơn vị nhỏ tạo nên. Sau khi hệ thống
thông tin trí tuệ lợi dụng mạng lưới thông tin tổng hợp trong công ty kết hợp
tất cả các hoạt động kinh doanh sản xuất thành một khối thống nhất, phối
hợp toàn bộ quá trình sản xuất và phân bố công việc giữa các khu vực và các
đơn vị trên toàn thế giới.
- Các khâu trong quá trình kinh doanh công ty nối mạng liên hệ với nhau,
thực hiện phương pháp quản lý chặt chẽ từ đầu đến cuối từ việc thiết kế sản
phẩm, gia công, chế tạo, tiêu thụ, dịch vụ sau khi bán, và xử lý cuối cùng.
- Xây dựng mạng lưới cơ cấu quản lý, làm cho nó có sự liên hệ trực tiếp giữa
lãnh đạo và nhân viên, giảm bớt khâu trung gian, đạt mục đích tinh giản và
sử dụng có hiệu quả cao nguồn nhân lực.
- Xây dựng mạng lưới giữa các công ty khác nhau, làm cho sự phối hợp và
hợp tác ngày càng thuận lợi hơn, cung cấp hàng và chuyển giao hàng hoá
ngày càng thích hợp hơn.
- Thực hiện mạng lưới hoá giữa công ty và các nhân viên. Nhân viên không
nhất thiết phải làm việc tại văn phòng, nhân viên quản lý cũng có thể thông
qua sử dụng các công cụ thông tin cầm tay để dù bất cứ ở đâu và bất cứ thời
gian nào cũng vẫn có thể điều hành công việc được.
- Giữa công ty và khách hàng có thể liên hệ với nhau, giao lưu thông qua
mạng, công ty biết được ý định của khách hàng, tiến hành việc kinh doanh và
các dịch vụ để làm hài lòng các khách hàng.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của nền kinh tế của Mỹ, đại diện nổi bật của
các nước tiến tiến. Hiện nay, Mỹ được coi là một trong những quốc gia phát triển
khoa học - công nghệ và ứng dụng Công nghệ cao hàng đầu trên thế giới.
1.2. giới thiệu về công nghệ cao và khu công nghệ cao
11
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
1.2.1. một sè quan niệm
triển và thiết kế sản phẩm; Nguồn cung cấp công nghệ; Quản lý việc nghiên cứu và
triển khai, cung cấp vốn.
Bản chất một chiến lược công nghệ là chiến lược kinh doanh. Các chiến lược công
nghệ thường có:
- Leader - Người chỉ huy: Chỉ để cho các nước lớn mạnh, tiên tiến, mạnh nh
Mỹ, Nga, Nhật
- Follower - Theo sát: Thường cho các nước phát triển.
- Extender- chấp nhận, mở rộng: Được các nước phát triển sử dụng để nâng
cao năng lực công nghệ và phát triển kinh tế của nước mình.
- Exploiter- Lợi dụng, khai thác: dành cho các nước đang phát triển.
3. Khu công nghệ cao: (High- Technology Park)
Trong mỗi Khu công nghệ cao nói chung phải bao gồm đủ 3 thành phần cơ bản:
- Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển (R & D);
- Tổ chức đào tạo;
- Cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ cao.
Hiện nay ở hầu hết các nước tiên tiến, Khu Công nghệ cao được coi là “khu Khoa
học- Công nghệ đặc biệt”, tập trung các đơn vị nghiên cứu- triển khai khoa học và
công nghệ; các cơ sở đào tạo; bồi dưỡng nhân lực; các doanh nghiệp công nghệ
cao, doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị dịch vụ liên quan; có
ranh giới xác định.
13
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
Mục tiêu chung của Khu công nghệ cao là thu hút công nghệ cao của nước ngoài;
thích ứng và đồng hoá công nghệ cao; hỗ trợ và chuyển giao công nghệ cao; nghiên
cứu sáng tạo và sản xuất công nghệ cao; thương mại hoá công nghệ cao và góp
phần phát triển công nghệ cao của đất nước.
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau áp dụng các mô hình Khu công nghệ cao
khác nhau. Việc lựa chọn cho quốc gia mình một mô hình Khu công nghệ cao phù
hợp không phải là vấn đề đơn giản mà còn phụ thuộc vào điều kiện khoa học công
nghệ và nền kinh tế của quốc gia đó
môi trường sinh hoạt và làm việc hoàn chỉnh. Như vậy ngoài mục đích phát
triển khoa học và công nghệ còn có mục tiêu phát triển vùng. Đặc biệt
khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp dựa trên cơ sở công nghệ và
chuyển giao công nghệ từ trong Khu Công nghệ cao ra bên ngoài, nhất là tới
những vùng xa trung tâm phát triển, nhằm trải đều lợi Ých mang lại phát
triển kinh tế cho toàn quốc gia. Đặc điểm của Thành phố khoa học là kết hợp
chặt chẽ phát triển nghiên cứu- triển khai và sản xuất, tạo ra vùng công
nghệ mới.
Tiêu biểu cho loại hình này là khu Tskuba (Nhật Bản) có trên 11.000 nhà
nghiên cứu và Deaduk Science City (Hàn Quốc). Ngoài ra Đài Loan,
Singapore và Óc cũng có những kế hoạch phát triển các Khu Công nghệ cao
hiện có của mình theo mô hình này. Sự thành công của mô hình này phụ
thuộc vào sự hiện diện của các viện nghiên cứu, đào tạo đủ mạnh và chủ chốt
thuộc quản lý của chính phủ để thu hút đầu tư vào Thành phố Khoa học.
- Công viên đổi mới công nghệ ( Technology Innovation Park - TIP)
Đây là loại hình Khu Công nghệ cao được thiết kế chủ yếu dành cho các
doanh nghiệp lớn nhằm thu hút đầu tư từ bên ngoài. Mối liên kết của Công
viên đổi mới công nghệ với các Viện nghiên cứu thường lỏng lẻo, chủ yếu là
15
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
do bản thân các doanh nghiệp đã khá mạnh và thường chỉ liên kết với một số
Viện nghiên cứu với những mục đích nhất định.
Quy mô của Công viên đổi mới công nghệ (TIP) đảm bảo cho các doanh
nghiệp có thể thực hiện toàn bộ qui trình nghiên cứu- triển khai đến sản xuất
và một số hoạt động có liên quan khác. Đặc điểm của Công viên đổi mới
công nghệ là sản xuất hàng hoá có trình độ kỹ thuật cao gắn liền với việc
phát triển nghiên cứu - triển khai của chính doanh nghiệp sản xuất.
Hai điển hình nổi tiếng của mô hình này là Reseach Triangle (Mỹ) với diện
tích 2.700 ha, sử dụng 32.000 nhân viên và khu Hsinchu Science Park (Đài
Loan) với diện tích 580 ha, sử dụng gần 23.000 nhân viên.
Việc phân loại các Khu Công nghệ cao trên thế giới cũng không phân biệt rõ ràng
theo 5 loại trên đây. Ở châu Âu, nhiều khu Công nghệ cao là sự giao thoa giữa
nhiều loại hình khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất và hoạt của từng Khu
công nghệ cao khác nhau. Ví dụ:
Một sè Khu công nghệ cao ở Châu Âu
TT Tính chất Khu công nghệ cao Số lượng Tỷ lệ %
1 Traditional Science Park - TSP 24 28.916
2 Science City - SC 6 7.229
3 Technology Center - TC 11 13.523
4 Science park/ Technology Center 15 18.072
5 Science park/ Technology 5 6.024
6 Science City/ Technology Center 7 8.434
7 Science City/Science park/Technology Center 15 18.072
Tổng sè 83 100
17
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
2. Xu hướng phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới
Việc sản xuất ra các kiến thức và làm chủ các công nghệ đóng vai trò ngày càng
lớn trong sự thành đạt của một doanh nghiệp nói riêng và của cả nền công nghiệp
nói chung. Và ngày nay, sự thành đạt càng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo những
công nghệ mới; khả năng áp dụng những công nghệ mới nhất và nhanh chóng đổi
mới chúng. Cụ thế trên thế giới hiện nay là:
- Xu hướng toàn cầu hoá:
Với xu hướng toàn cầu hoá thị trường thế giới, các doanh nghiệp buộc phải
theo đuổi xu hướng toàn cầu, khiến cho quá trình mua bán trao đổi công
nghệ cũng được diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Xu hướng này tạo nên nguy
cơ cuộc xâm lấn công nghệ của các bên vừa hợp tác vừa cạnh tranh ngày
càng diễn ra rõ nét. Nếu chậm trễ, công nghệ không chỉ bị trừng phạt bởi giá
thành cao hơn mà còn bởi những mất mát to lớn về thị trường, thậm chí có
thể bị loại ra khỏi thị trường nếu như sự lạc hậu không được khắc phục.
Khu công nghệ cao các loại:
Mỹ : Có khoảng 115 Làng khoa học
Anh: có 18 Làng khoa học
Đức : có 70 Trung tâm đổi mới công nghệ
Nhật : chương trình xây dựng 16 Thành phố khoa học
Nước đang phát triển như Trung Quốc, nước công nghiệp mới như Singapore
đều phát triển Khu công nghệ cao. Đặc biệt Thái Lan trong thời gian khủng hoảng
tài chính tiền tệ cuối năm 1997 nhưng đến đầu năm 1998 cũng đã quyết định xây
dựng Khu công nghệ cao và đặt mục tiêu hoàn thành sau 30 năm.
19
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
1.2.3. Tầm quan trọng của Công nghệ cao đối với các nước đang phát triển
Trong quá khứ, mục tiêu của chiến tranh là chiếm đoạt lãnh thổ, lao động và tài
sản, được thực hiện thông qua các hành động bạo lực. Ngày nay, trong cuộc cạnh
tranh kinh tế toàn cầu, mục tiêu là thông tin, trí tuệ và công nghệ. Vũ lực không còn
tác dụng nữa. Mặt khác, chính mục tiêu tự nó thay đổi rất nhanh chóng theo thời
gian. Các nước công nghiệp tiên tiến chính là chủ nhân của tri thức và công nghệ
cao, đồng thời cũng là những người đi đầu trong lĩnh vực này. Bởi vậy, con đường
chiến thắng cho mọi quốc gia chính là con đường học hỏi, tiếp thu kiến thức, làm
chủ khoa học và công nghệ để tiếp tục phát triển. Giáo dục và đào tạo là nhân tố
chủ yếu tạo thế cạnh tranh của các nước khi bước vào thế kỷ 21.
Bối cảnh thế giới tạo ra những lợi thế cho các nước phát triển sau:
- “Siêu xa lộ thông tin” mang lại cho mọi quốc gia cơ hội chia sẻ thông tin,
tri thức tích luỹ của toàn nhân loại, thu hẹp được khoảng cách địa lý giữa các
quốc gia cũng như giúp cho khả năng nắm bắt mọi thông tin một cách nhanh
nhất.
- Chu kỳ công nghệ ngày càng rút ngắn dẫn đến nhu cầu đổi mới liên tục của
các nước phát triển nhằm giữ được vị trí hàng đầu trong công nghệ. Bên
cạnh đó, các nước phát triển phải tìm mọi cách để thu hồi nhanh vốn đã đầu
tư cho công nghệ và chuyển giao công nghệ. Do đó xu hướng chuyển giao,
ở Việt Nam là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của mục đích.
21
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
chương 2
Thực trạng khoa học - công nghệ việt nam
và khu công nghệ cao việt nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp đã trải qua một thời gian dài bị tàn phá bởi
chiến tranh nên cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu. Từ sau khi nước nhà hoàn toàn độc
lập năm 1975, mục tiêu "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá" là nội dung thống nhất
gắn bó với nhau trong quá trình phát triển của đất nước Việt Nam. Do đó, nhiệm vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá không đơn thuần chỉ phát triển công nghiệp mà sự
chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực mà toàn bộ nền kinh tế theo
hướng Công nghệ tiên tiến, không chỉ đi những bước tuần tự mà còn kế hợp với các
thành tựu trên nhiều lĩnh vực để đi tắt đón đầu, nhanh chóng rát ngắn khoảng cách
và đuổi kịp các nước phát triển. Muốn vậy phải đầu tư chiều sâu, thúc đẩy phát
triển công nghệ cao và xây dựng Khu công nghệ cao làm địa điểm tiếp cận công
nghệ cao hiệu quả nhất, đảm bảo cho nền kinh tế đất nước tăng trưởng nhanh và
phát triển bền vững.
Để mục tiêu đề ra thu được kết quả tốt đẹp, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng được
một cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ tốt, trình độ công nghệ tiên tiến và lực lượng
nghiên cứu khoa học công nghệ được đào tạo ở trình độ cao. Vậy chúng ta hãy tìm
hiểu về thực trạng nền khoa học công nghệ Việt Nam hiện nay và Khu công nghệ
cao đầu tiên đang được tiến hành xây dựng ở Việt Nam đã đạt được ở mức độ nào.
2.1.hiện trạng khoa học - công nghệ việt nam
2.1.1. thực trạng nền kinh tế việt nam
Trong gần 2 thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã từng bước cải thiện môi trường pháp lý
để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng
từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 với mục tiêu hành động: “Tất cả vì
22
KLTN/CN8 ĐHNT: Định hướng phát triển và các chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các Khu Công nghệ cao ở Việt Nam
sức cạnh tranh của nền kinh tế; việc sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô như kế
hoạch, tài chính- tiền tệ, đặc biệt là chính sách thuế chưa hướng vào phát huy các
nguồn lực trong nước. Nước ta chưa có Khu mậu dich tù do, Cảng tự do, khu vực
dành riêng cho các nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác và làm ăn với nhau. Các hình
thức hợp tác dịch vụ quốc tế như thông tin liên lạc, giao thông vận tải (nhất là bằng
đường hàng không), hệ thống tài chính ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn
kinh tế, pháp luật tuy đã được chú ý phát triển trong thời gian qua, nhưng vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại.
(*) Tốc độ và cơ cấu GDP (%)
Tốc độ
tăng Trong đó
Năm Tổng Trong đó Tổng Chia ra
Sè Nông, lâm nghiệp
- thuỷ sản
Công nghiệp
- Xây dựng
Dịch vô Sè Nông, lâm nghiệp
- thuỷ sản
Công nghiệp
- Xây dựng
Dịch vô
1995 9.54 4.80 13.60 9.83 100,00 27.18 28.76 44.06
1996 9.34 4.40 14.46 8.8 100,00 27.76 29.73 42.51
1997 8.15 4.33 12.62 7.14 100,00 25.77 32.08 42.15
1998 5.76 3.35 8.33 5.08 100,00 25.78 23.49 41.73
1999 4.77 5.23 7.68 2.25 100,00 25.43 34.49 40.08
2000 6.75 4.04 10.07 5.57 100,00 24.30 36.61 39.09
2001 6.84 2.75 10.36 6.13 100,00 23.30 37.75 38.95
Nhìn vào bảng trên, ta có thể nhận thấy nhờ có việc thực hiện chính sách mở cửa
hoặc dưới sự quản lý của các cơ quan Chính phủ: Khoảng 180 đơn vị có hoạt
động R&D được xây dựng ở nhiều miền khác nhau trên phạm vị toàn quốc,
nhưng phần lớn tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá của Việt Nam trước đây, nguyên tắc là
Chính phủ chịu trách nhiệm về thay đổi kỹ thuật và hiện đại hoá công
nghiệp, còn các ngành công nghiệp chỉ thực hiện sản xuất theo đúng kế
hoạch đã đề ra. Vì vậy, các doanh nghiệp công nghiệp rất hiếm khi xây dùng
cho mình năng lực R&D. Đến nay, sau nhiều năm thực hiện đổi mới và mở
cửa nhưng tình trạng yếu kém về năng lực khoa học của các doanh nghiệp
25