Đề tài: “Các chính sách khuyến khích xuất khẩu đối với mặt hàng cà
phê của chính phủ Việt Nam”
Lời mở đầu
I. Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam trong năm gần đây
Trước khi nói tới tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong những
năm gần đây, chúng ta xem xét tình hình cà phê thế giới trong hai năm gần đây có
những biến động gì? Lượng cà phê xuất khẩu thế giới đạt 7,36 triệu bao trong
tháng 8 năm 2008, thấp hơn so với mức 7,78 triệu bao cùng kỳ năm trước. Lượng
cà phê xuất khẩu trong 11 tháng đầu niên vụ cà phê 2007/08 (tính từ tháng
10/2007 đến tháng 8/2008) đạt 86,8 triệu bao, giảm 4,5 % so với mức 90,7 triệu
bao cùng kỳ niên vụ trước. Trong 12 tháng, tính đến tháng 8 năm 2008, lượng cà
phê Arabica xuất khẩu đạt 61,2 triệu bao, thấp hơn so với mức 63,9 triệu bao năm
ngoái, trong khi đó, lượng cà phê Robusrta xuất khẩu là 32,6 triệu bao, cũng thấp
hơn năm ngoái với 34,2 triệu bao.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo xuất khẩu cà phê thế giới vụ 2008/09
sẽ tăng 6 % so với vụ trước: Brazil tăng 22 %; Việt Nam tăng 20 %; Colombia
tăng 1,5 %; Indonesia tăng 8 %.
Trước tình hình biến động cà phê thế giới, có thế nói rằng niên vụ 2007 –
2008 là giảm hơn so với năm trước cùng kỳ, tuy nhiên do cầu về cà phê của thế
giới vẫn ổn định 2%/năm, vì vậy mà luợng tiêu thụ cà phê thế giới sẽ vấn tiếp tục
gia tăng. Với tình hình biến động càphê thế giới, tình hình càophê của Việt Nam sẽ
ra sao?
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới, hàng năm lượng cà
phê xuất khẩu của Việt Nam khoảng 850.000 tấn cà phê sang hơn 70 quốc gia và
vùng lãnh thổ, trong đó năm 2007 là hơn 1 triệu tấn, đạt kim ngạch hơn 1,6 tỷ
USD. Riêng trong 6 tháng đầu năm nay, trong bối cảnh giá cà phê thế giới tăng
theo chiều hướng tích cực,kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt trên 1 tỷ
USD, vượt xa con số cùng kỳ năm ngoái.
Số liệu thống kê cho thấy, năm 2006 Việt Nam xuất khẩu cà phê đạt 0,97 tỷ
USD, năm 2007 đã tăng lên hơn 1,64 tỷ USD. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm
ưu tiên cho việc sản xuất ra lượng cà phê đó. Nhằm thúc đẩy việc sản xuất cà phê
thì cần phải có những chính sách về sản xuất bao gồm như chính sách về đất đai,
chính sách về nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo, chính
2
sách về tài chính và tín dụng, … các chính sách trên đều nhằm khuyến khích cho
việc sản xuất cà phê
1.1 Chính sách đất đai
Phối hợp với các cơ quan hữu quan, nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ các
chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông dân, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế tổ chức sản xuất lớn, an toàn, bền vững, như:
- Khuyến khích các hộ nông dân trồng cà phê liên kết sản xuất dưới các
hình thức tổ hợp tác, HTX để sản xuất, sơ chế và kinh doanh.
- Người trồng cà phê trong vùng quy hoạch được dùng quyền sử dụng đất
và tài sản trên đất để góp cổ phần hoặc chuyển nhượng để hình thành các doanh
nghiệp nông nghiệp, hoặc liên doanh liên kết sản xuất với các doanh nghiệp chế
biến cùng kinh doanh và hưởng lợi.
- Xây dựng các chính sách hỗ trợ nông dân xây dựng sân phơi cà phê.
- Phối hợp với các địa phương giám sát việc trồng mới cà phê; những diện
tích cà phê không theo quy hoạch sẽ không được hưởng các quyền lợi, chính sách
từ phía Nhà nước và doanh nghiệp.
1.2 Chính sách về nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ và
đào tạo
- Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ,
nhất là công nghệ sinh học để chọn tạo ra các giống cà phê có năng suất, chất
lượng ổn định, kháng được bệnh gỉ sắt, chín muộn và đồng đều (tránh thời điểm
thu hoạch vào cuối mùa mưa và khắc phục tình trạng hái “tuốt cành”); hỗ trợ các
nghiên cứu để đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu chăm sóc và thu hái cà phê; nghiên
cứu các giải pháp tưới tiết kiệm nước.
- Hỗ trợ thích đáng từ nguồn vốn sự nghiệp khoa học cho nghiên cứu, thiết
Tăng cường nguồn vốn ngân sách cải tạo, nâng cấp và đầu tư mới các trung
tâm nhân giống vùng và trạm giống khu vực. Nhà nước hỗ trợ đầu tư phát triển
giống cà phê bằng chính sách quy định tại Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ; ưu tiên sử dụng các nguồn vốn ODA để sản xuất cà phê bền
vững, đầu tư thâm canh trọng điểm 200.000 ha cà phê vối ở Đaklak, Lâm Đồng,
4
Gia Lai, Đaknông và 6.000 ha cà phê chè ở các tỉnh Lâm Đồng, miền Tây Quảng
trị, Thừa Thiên Huế và Sơn La.
Đồng thời, có những chính sách tín dụng và tài trợ để người dân đầu tư
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được những hiệu quả cao như
chất lượng sản phẩm nông nghiệp được cải thiện, giá thành hạ, có khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
- Đối với lĩnh vực chế biến công nghiệp:
+ Triển khai chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân đầu tư máy móc,
thiết bị, sân phơi xi măng phục vụ sơ chế - bảo quản bằng các hình thức hỗ trợ lãi
suất hoặc hỗ trợ nguồn vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội.
+ Xây dựng các chính sách ưu đãi (như vay vốn từ ngân hàng đầu tư phát
triển, hoặc tham gia chương trình cơ khí trọng điểm) nhằm khuyến khích các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư thiết bị đồng bộ, hiện đại ở các
khâu xát, tách mầu, phân loại, đánh bóng, máy sấy, đóng gói trong chế biến cà phê
nhân xuất khẩu; các doanh nghiệp đầu tư chế biến cà phê hòa tan và các sản phẩm
cà phê khác như cà phê dạng lỏng, cà phê khử cafein, cà phê hảo hạng, cà phê đặc
biệt…Bổ sung các dự án đầu tư sản xuất, chế biến cà phê vào danh mục các dự án
vay vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo Nghị định số
151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ, theo đó Ngân hàng phát triển
cho vay, bảo lãnh những dự án đầu tư, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu
hàng hoá do Việt Nam sản xuất có thu hồi vốn trực tiếp.
+ Tiếp tục thực hiện việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở kinh
doanh sử dụng nhiều lao động, lao động là người dân tộc thiểu số; miễn thuế thu
Quỹ xúc tiến thương mại, Quỹ bảo hiểm ngành hàng để thực hiện các chương
trình quảng cáo kích cầu cà phê trong nước và khắc phục rủi ro trong sản xuất –
kinh doanh, đặc biệt trước những biến động tiêu cực của thị trường cà phê thế giới.
6