Tiểu luận Môn Quản trị Logistics Mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Wal-Mart - Pdf 30

Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài
Thuật ngữ Quản Trị Chuỗi Cung Ứng (Supply Chain Management - SCM)
vẫn còn khá mới mẻ đối với phần lớn các công ty, mặc dù nó đang trở thành “mốt
thời thượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại.
Ở Việt Nam, có lẽ chúng ta đang ở giai đoạn chuyển đổi, thời kỳ mà nền
kinh tế đang bùng phát hơn bao giờ hết. Và có lẽ người ta thấy cơ hội kiếm tiền rất
dễ dàng, chỉ cần mở một công ty, rồi tìm một sản phẩm để bán thế là bán được (dĩ
nhiên phải kèm theo những lời quảng cáo hoa mỹ, bay bổng, đầy dụ dỗ, phù du )
hay chỉ cần bỏ chút tiền vào thị trường chứng khoán, hay nhà đất thế là tích gió
thành bão (mà bão lớn vì cái gì cũng tăng vùn vụt từng ngày). Vậy thì tại sao lại
phải đánh vật với những thứ định nghĩa phức tạp, rối rắm như chuỗi cung ứng làm
gì. Nhưng nếu nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc thì sẽ thấy nhiều thứ sau bức
tranh ấy.
Khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, việc tham gia vào
chuỗi cung ứng chính là điều Việt Nam cần chú ý hơn nếu vẫn muốn duy trì năng
lực cạnh tranh của mình. Vấn đề của Việt Nam là làm sao dịch chuyển từ những
ngành nghề truyền thống đó để “ngoi lên” mạng lưới sản xuất lớn, không chỉ thuần
tuý khai thác lợi thế tự nhiên như lao động không kỹ năng dồi dào để chuyển sang
những ngành có khả năng khai thác theo quy mô tốt hơn.
Một trong những điển hình trên thế giới của việc áp dụng thành công chuỗi
cung ứng là Wal-Mart. Thấu hiểu chuỗi cung ứng đóng vai trò rất quan trọng trong
việc tạo ra sự khác biệt Wal-Mart có những chiến lược chuỗi cung ứng rất smart
mà đến bây giờ Kmart hay các nhà bán lẻ khác còn đang học hỏi rất nhiều.
Trang 1
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
Chính vì vậy, nhóm chọn đề tài “Mô hình quản trị chuỗi cung ứng của
Wal-Mart” để tìm hiểu và từ đó, rút ra được những kinh nghiệm cho hệ thống bán
lẻ tại Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

bắt đầu từ việc khai thác các nguyên liệu nguyên thủy, và người tiêu cùng là mắt
xích cuối cùng của chuỗi.
Như vậy, chuỗi cung ứng là chuỗi các hoạt động và các tố chức tham gia
vào dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên đến
người tiêu dùng cuối cùng. Trong đó hoạt động logistic tại mỗi một mắt xích của
chuỗi là một quá trình lập kế hoạch, vận hành triển khai, kiểm soát có hiệu lực và
hiệu quả dòng hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm đầu vào của mắt
xích này đến đầu vào của mắt xích kế tiếp và toàn chuỗi. Do vậy chuỗi cung ứng
là chuỗi của các hoạt động logistic.
Nói cách khác chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh
doanh cung cấp một sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và
phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng.
Trang 3
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
1.2. Mô hình chuỗi cung ứng
Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng
1.3. Các yếu tố trong chuỗi cung ứng
Nhà sản xuất: Là các công ty làm ra sản phẩm, bao gồm các nhà sản xuất
nguyên vật liệu (khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ, tổ chức trồng
trọt, chăn nuôi, đánh bắt thuỷ hải sản…) và các công ty sản xuất thành phẩm (sử
dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công ty khác)
Nhà phân phối (nhà bán sỉ): là các công ty mua lượng lớn sản phẩm từ
các nhà sản xuất và phân phối sỉ các dòng sản phẩm cho khách hàng và bán sản
phẩm với số lượng lớn hơn so với số lượng người tiêu dùng thông thường mua.
Do sự biến động nhu cầu về sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa, thực hiện
bán hàng và phục vụ khách hàng.
Trang 4
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
Chức năng nhà phân phối : khuyến mãi sản phẩm , bán hàng, quản lý tồn
kho, vận hành cửa hàng, vận chuyển sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng.

Một số nhà cung cấp thực hiện nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế
sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ pháp lý và tư vấn quản lý
1.4 Các loại chuỗi cung ứng
 Chuỗi cung ứng tinh giản (The Lean Supply Chain) – Hãy bắt đầu với
một chuỗi cung ứng, tìm cách loại bỏ sự lãng phí ở bất kỳ điểm nào trong chuỗi,
tiêu chuẩn hóa các quy trình, tối ưu hóa các nguồn lực cốt lõi. Mục tiêu của chuỗi
cung ứng Lean là cung cấp một sản phẩm đúng ở thời điểm đúng với chi phí thấp
nhất có thể.
Chuỗi cung ứng Lean sẽ đáp ứng được các yêu cầu:
• Áp lực không ngừng thúc đẩy cải thiện hiệu quả hoạt động;
• Nhu cầu vừa giảm giá vừa cải thiện mạnh mẽ dịch vụ;
• Áp lực cải thiện lợi nhuận;
• Yêu cầu giảm thời gian thực hiện đơn hàng;
• Nhu cầu thị trường đòi giảm giá tối đa.
 Chuỗi cung ứng thích nghi (The Adaptive Supply Chain) – xây dựng
chuỗi cung ứng lean, nối mạng chia sẻ dữ liệu với các đối tác trong chuỗi cung
ứng, giúp công ty tiếp nhận được thông tin kịp thời, trên cơ sở đó có thể nhanh
chóng thích nghi với những thay đổi của thị trường.
 Chuỗi cung ứng mật thiết (The Intimate Supply Chain) – Ngày nay,
mạng lưới các chuỗi cung ứng hàng đầu phải vượt trội không chỉ ở chỗ quản lý
chuỗi cung ứng bằng Lean và kỹ thuật thích nghi mà còn không ngừng gia tăng
giá trị cho khách hàng. Kết nối giữa khách hàng và quản trị chuỗi cung ứng là cốt
lỗi của chuỗi cung ứng mật thiết.
Trang 6
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
Chuỗi cung ứng mật thiết lấy khách hàng làm trung tâm để có thể chủ động
cung cấp những giá trị của sản phẩm/dịch vụ đúng và đúng thời điểm, dĩ nhiên
phải với mức chi phí thấp nhất. Trong chuỗi cung ứng mật thiết phải nỗ lực không
ngừng để xác định khách hàng là ai và họ cần những gì?
1.5. Mối quan hệ giữa Logistics - chuỗi cung ứng - Quá trình phân phối

Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào
cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.
Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (SCM)
Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi
quan hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng. Khái
niệm SCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ
giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các
công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin.
2.2. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông
tin và nguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách
hàng một cách hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai.
2.3. Tầm quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng (SCM)
 Đối với các công ty, SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cả
đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các
nguồn nguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình luân chuyển nguyên vật
Trang 8
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
liệu, hàng hoá, dịch vụ mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
 Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp
thị hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place). Chính SCM đóng vai trò then
chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích
hợp. Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng
với tổng chi phí nhỏ nhất.
 Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống
SCM hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo
điều kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khoá
thành công cho B2B.

• Tập trung vào sản xuất: Một nhà máy tập trung vào sản xuất một sản phẩm
thì có thể thực hiện được nhiều hoạt động khác nhau trong sản xuất từ việc chế
tạo các bộ phận khác nhau cho đến việc lắp ráp các bộ phận của sản phẩm này
Trang 10
1. Sản xuât
Sản xuất cái gi, như thế
nào & khi nào?
2. Tồn kho
Sản xuất bao nhiêu & dự
trữ bao nhiêu
4. Vận tải
Vận chuyển sản phẩm
bằng cách nào & khi nào
3. Địa điểm
Nơi nào thực hiện tốt nhất
cho hoạt động gì
5. Thông tin
Những vấn đề cơ bản để ra
quyết định
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
• Tập trung vào chức năng: Chỉ tập trung vào một số hoạt động như sản xuất
một nhóm các bộ phận hay thực hiện việc lắp ráp. Cách thức này có thể được
áp dụng để sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau.
 NHÀ KHO
• Đơn vị tồn trữ - SKU (Stock Keeping Unit) – Theo phương pháp truyền
thống này, tất cả sản phẩm cùng loại được tồn trữ cùng với nhau. Đây là
cách hiệu quả và dễ thực hiện tồn trữ sản phẩm.
• Tồn trữ theo lô – Theo phương pháp này, tất cả các sản phẩm có liên quan
đến nhu cầu của một loại khách hàng nào đó hay liên quan đến một công
việc được tồn trữ chung với nhau. Điều này cho phép lựa chọn và đóng gói

chi phí phòng ban, lao động, kỹ năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ
tầng, thuế. . . và gần với nhà cung cấp hay người tiêu dùng.
Phản ánh chiến lược cơ bản của một công ty về việc xây dựng và phân phối
sản phẩm đến thị trường. Khi định được địa điểm, số lượng và kích cỡ thì chúng
ta xác định được số lượng kênh phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối
cùng.
3.4. Vận chuyển
Là việc di chuyển mọi thứ từ nguyên liệu cho đến thành phẩm giữa các điều
kiện khác nhau trong chuỗi cung ứng. Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng
nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận
chuyển.
Cân đối giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả thể hiện qua việc lựa
chọn phương thức vận tải. Phương thức vận tải nhanh nhất là máy bay vì đáp ứng
nhanh nhất nhưng cũng tốn chi phí nhiều nhất. Phương thức vận tải chậm hơn như
tàu thủy, xe lửa thì rất có hiệu quả về chi phí nhưng đáp ứng không kịp thời. Chi
Trang 12
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
phí vận tải có thể bằng 1/3 chi phí vận hành của chuỗi cung ứng nên quyết định
chọn lựa ở đây là rất quan trọng.
3.5. Thông tin
Là nền tảng đưa ra quyết định liên quan đến bốn yếu tố trên. Thông tin tốt
giúp đưa ra những quyết định hiệu quả về việc sản xuất gì và bao nhiêu, về nơi trữ
hàng và cách vận chuyển tốt nhất.Thông tin là một vấn đề quan trọng để ra quyết
định đối với 4 tác nhân thúc đẩy của chuỗi cung ứng. Đó là sự kết nối giữa tất cả
các hoạt động trong một chuỗi cung ứng:
• Phối hợp các hoạt động hằng ngày - Các công ty trong chuỗi cung ứng sử
dụng các dữ liệu sẵn có về cung - cầu sản phẩm để quyết định lịch trình
sản xuất hàng tuần, mức tồn kho, lộ trình vận chuyển và địa điểm tồn trữ.
• Dự báo và lập kế hoạch - Thông tin dự báo được sử dụng để bố trí lịch
trình sản xuất hàng tháng, hàng quý, hàng ngày. Thông tin dự báo cũng

lựa chọn đơn vị vận tải để đưa sản phẩm tới khách hàng, đồng thời thiết lập một hệ
thống hoá đơn thanh toán hợp lý.
4.5. Hoàn lại
Đây là công việc chỉ xuất hiện trong trường hợp chuỗi cung ứng có vấn đề.
Cần phải xây dựng một chính sách đón nhận những sản phẩm khiếm khuyết bị
khách hàng trả về và trợ giúp khách hàng trong trường hợp có vấn đề rắc rối đối
với sản phẩm đã được bàn giao.
5. Đo lường hiệu quả thực hiện SCM
5.1. Tiêu chuẩn giao hàng
Trang 14
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
Tiêu chuẩn này đề cập đến giao hàng đúng hạn. Nó được biểu hiện bằng tỉ
lệ phần trăm của các đơn hàng được giao đầy đủ về số lượng và đúng ngày khách
hàng yêu cầu trong tổng số đơn hàng.
Chú ý rằng các đơn hàng không được tính là giao hàng đúng hạn khi chỉ có
một phần đơn hàng được thực hiện và khi khách hàng không có hàng đúng thời
gian yêu cầu.
5.2. Tiêu chuẩn thời gian
Tổng thời gian bổ sung hàng được tính trực tiếp từ mức độ tồn kho. Nếu
chúng ta có một mức sử dụng cố định lượng hàng tồn kho này, thì thời gian tồn
kho bằng mức độ tồn kho chia mức sử dụng. Thời gian tồn kho sẽ được tính cho
mỗi mắt xích trong chuỗi cung ứng (nhà cung cấp, nhà sản xuất, người bán sỉ, bán
lẻ) và cộng hết lại để có thời gian bổ sung hàng lại.
Thời gian thu hồi công nợ. Nó đảm bảo cho công ty có lượng tiền để mua
sản phẩm và bán sản phẩm tạo ra vòng luân chuyển hàng hóa. Thời gian thu nợ
phải được cộng thêm cho toàn hệ thống chuỗi cung ứng như là một chỉ tiêu thời
hạn thanh toán.
Tổng thời gian của một chu kỳ kinh doanh để tạo ra sản phẩm và nhận được tiền:
Chu kỳ kinh doanh= số ngày tồn kho + số ngày công nợ.
5.3. Tiêu chuẩn chất lượng

6.1.1. Thống nhất từ khâu đầu đến khâu cuối theo quy trình khép kín
Cách thức này chỉ ra việc sở hữu trong chuỗi cung ứng. Nếu một nhà sản
xuất quyết định mua một công ty phân phối và phân phối sản phẩm của mình chỉ
qua công ty đó thôi, thì sự thống nhât này là hướng về thị trường. Mặc khác, nếu
Trang 16
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
nhà sản xuất mua một công ty cung ứng sản phẩm, thì sự thống nhất này là lùi về
phía sau của chuỗi cung ứng. Nếu một công ty sở hữu cả chuỗi cung ứng thì công
ty này được hợp nhất theo chiều dọc.
6.1.2. Đơn giản hóa các quá trình chủ yếu
Phương thức này được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng khi quá trình quá
phức tạp hay quá lỗi thời khi đó cần sự thay đổi. Trong quá trình này người ta điều
chỉnh lại những chỗ bị lỗi mà không quan tâm đến quá trình hiện tại. Việc này dẫn
đến những thay đổi lớn về trình tự và nội dung các công việc được tiến hành trong
quá trình cũng như những thay đổi về hệ thống.
6.1.3. Thay đổi số lượng của nhà máy, nhà kho, hoặc nơi bán lẻ.
Đôi khi hệ thống phân phối không còn giữ hình thức giống ban đầu. Ví dụ,
nhiều công ty nhận định rằng họ có quá nhiều nhà cung cấp và họ hướng đến việc
giảm số lượng nhà cung cấp bằng cách chọn những nhà cung cấp tốt nhất để đảm
bảo giao hàng đúng hạn, và cung cấp nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng. Hoặc là,
khi thị trường có sự thay đổi, nhiều công ty nhận thấy rằng họ cần có vài nhà máy
và nhà kho ở địa điểm khác, do vậy họ định hình lại hệ thống phương tiện sản xuất
và phân phối.
6.1.4. Thiết kế lại những sản phẩm chính.
Phương thức này thường được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng. Trong
thực tế, nhiều công ty họ nhận thấy họ có quá nhiều chủng loại hàng hóa, trong đó
có vài loại bán rất chậm, vì vậy các sản phẩm này phải được chọn lọc và thiết kế
lại.
6.1.5. Chuyển quá trình hậu cần của công ty cho bên thứ ba
Vài công ty chỉ đơn giản là chọn phương án tốt nhất chuyển tất cả các khâu

Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
những công ty bán lẻ xem việc không rơi vào tình trạng hết hàng là vấn đề ưu tiên
số một vì nếu sản phẩm không còn để bán trên kệ bán hàng thì khách của cửa hàng
sẽ mua sản phẩm đó ở chỗ khác. Thực tế, đã nhiều dự án chuỗi cung ứng đang
thực hiện bởi các nhà bán lẻ hàng đầu để tránh khỏi tình trạng này.
Ông Robert Garf, giám đốc của tổ chức nghiên cứu AMR về mảng bán lẻ,
nói “Những nhà bán lẻ đang rất cố gắng kết nối những hoạt động tương tác với
khách hàng trong toàn bộ chuỗi để tăng doanh số. Việc này bao gồm kết hợp mọi
thứ lại với nhau từ những hoạt động buôn bán đến những hoạt động tại các trung
tâm phân phối.”
7.1. Sự thay đổi mối liên hệ giữa các trung tâm phân phối và cửa hàng
Trước đây kho và cửa hàng độc lập với nhau thì hiện nay các trung tâm
phân phối sẽ được yêu cầu đáp ứng nhu cầu của cửa hàng. Cách thức xưa khi cần
đáp ứng nhu cầu là các nhà bán lẻ sẽ bổ sung hàng hóa vào kho dựa trên việc xác
định trước mức cần đặt hàng sau khi hàng hóa tồn kho đã được xuất ra khỏi kho.
Đầu tư vào các trung tâm phân phối trong những năm trước đây cũng đạt được
những kết quả đáng khích lệ. Các trung tâm phân phối tốt nhất sử dụng hệ thống
quản lý kho (WMS) thường hoạt động với tỷ lệ hoàn thành đơn hàng và tỷ lệ chính
xác đạt 99%. Như vậy cho đến thời điểm hiện nay hoạt động của các trung tâm
phân phối cho thấy khả năng tối đa khi đáp ứng những mong muốn của nhà bán lẻ.
7.2. Chuyển sang chuỗi cung ứng mới hoạt động theo nhu cầu khách hàng
Theo Simmerman của hãng Swisslog thì ý tưởng phía sau chuỗi cung ứng
hoạt động theo nhu cầu rất đơn giản. Khi chúng ta mua một hộp kem đánh răng,
bộ phận bán hàng tạo ra một tín hiệu nhu cầu và phát sinh việc bổ sung hộp kem
đánh răng trong kho. Đây là miêu tả mang tính lý thuyết. Trong thực tế không dễ
dàng như lý thuyết, nghiên cứu AMR cho thấy rằng thời gian tín hiệu kinh doanh
từ cửa hàng đến một hệ thống khác thường mất ít nhất là hai tuần lễ. Ông Garf của
AMR nói rằng “Để có được hệ thống hoạt động theo nhu cầu thì các nhà bán lẻ
Trang 19
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân

“Với công cụ là phần mềm tích hợp, nhân viên kinh doanh này có thể truy cập vào
hệ thống quản lý kho và xem xét lượng hàng tồn kho trong khi anh ta có mặt tại
cửa hàng. Nếu tồn kho về mặt hàng đó sẵn có, anh ta không chỉ yêu cầu cung cấp
thêm loại mặt hàng này mà còn thể tạo một yêu cầu trong hệ thống quản lý kho để
loại hàng này được lấy ra và đóng gói cũng như vận chuyển đến cửa hàng.” Theo
Riggin, thông tin biết được loại mặt hàng nào cần phải xuất từ kho và loại nào
đang bán được tại cửa hàng cũng có thể được sử dụng để cân đối cung cầu lao
động tại trung tâm phân phối và cửa hàng. Vào cuối mỗi ngày, nhu cầu của người
tiêu dùng được sử dụng để tối ưu hóa lượng hàng tồn kho tại cửa hàng và tối ưu
hóa lao động, tồn kho chung, kho chứa hàng, vận chuyển.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công ty nào cũng luôn tìm mọi cách để tạo một kênh liên lạc thông suốt
giữa nhà cung ứng và khách hàng của họ, xoá bỏ những nhân tố cản trở khả năng
sinh lời, giảm chi phí, tăng thị phần và giành được đông đảo khách hàng. Vì lý do
đó, SCM được xem như một giải pháp tốt để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Với
SCM, việc chia sẻ dữ liệu kinh doanh sẽ không bị bó hẹp trong nội bộ doanh
nghiệp, mà đã lan truyền đến nhà cung ứng, nhà sản xuất và nhà phân phối. Có thể
nói, chuỗi cung ứng luôn chú trọng tới mọi hoạt động sản xuất của công ty, cả
trong hiện tại lẫn tương lai, nhằm cân đối giữa cung và cầu, đồng thời phản hồi lại
sự thay đổi trên thị trường.

Trang 21
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
CHƯƠNG 2 :
MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
CỦA WAL-MART
2.1. Giới thiệu sơ lược về tập đoàn Wal-Mart
2.1.1. Lịch sử hình thành
Wal-Mart là một trong những tập đoàn bán lẻ lớn nhất trên thế giới (theo
doanh số) theo công bố của tạp chí Fortune 500 năm 2010, có trụ sở tại Hoa Kỳ.

 Sự ra đời của cửa hàng bán lẻ với giá rẻ
Hầu hết mọi người luôn nghĩ cửa hàng bán lẻ có chiết khấu bắt đầu xuất
hiện vào năm 1962 – đây là năm mà Kmart, Target và Wal-Mart được ra đời. Tuy
nhiên thật sự từ những năm 1950, chuỗi cửa hàng của chính Sam Walton đã xuất
hiện và cạnh tranh với các đối thủ bằng hình thức bán lẻ có chiết khấu.
 1962 – Wal-Mart được thành lập với cửa hàng đầu tiên tại Rogers,
Arkansass, Mỹ.
Trước khi mở Wal-Mart, Sam đã du lịch ở các quốc gia khác và tìm hiểu về
lĩnh vực bán lẻ có chiết khấu. Ông bị thuyết phục bởi người tiêu dùng của Mỹ và
muốn mở một cửa hàng với loại hình mới này. Tin tưởng vào mục tiêu của Sam,
ông và vợ của mình đã bỏ ra 95% tài sản cá nhân để mở cửa hàng Wal-Mart đầu
tiên tại Rogerts, Ark.
 1972 - Wal-Mart chính thức niêm yết chứng khoán trên Sàn Giao dịch
Chứng khoán New York.
Trang 23
Môn Quản trị Logistics GVHD: GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân
Cổ phiếu Wal-Mart lần đầu tiên được niêm yết trên sàn New York. Công ty
đã phát triển lên 276 cửa hàng tại 11 tiểu bang.
 Những năm 1980 – Wal-Mart phát triễn nhanh chóng trên thị trường.
Năm 1983, Sam’s Club mở lần đầu tiên vào tháng 4 tại thành phố Midwest,
Oklahoma. Năm 1987, mạng lưới vệ tinh Wal-Mart được hoàn tất và đi vào hoạt
động, đây là hệ thống vệ tinh tư truyền thông tin lớn nhất nước Mỹ. Supercenter
đầu tiên được mở tại Washington, Mo vào năm 1988. Từ năm 1989, Wal-Mart đã
thành lập 1.402 cửa hàng và 123 Sam’s Club. Nguồn nhân lực cũng tăng khá
nhanh. Doanh thu từ 1 tỷ USD vào năm 1980 tăng đến 26 tỷ USD.
 Đến thế kỷ 21 – Wal-Mart trở thành một trong những nhà bán lẻ thành công
nhất thế giới.
Ngày nay, với 6.752 cửa hàng và 602 Sam’s club tại 14 thị trường đã sử dụng hơn 2,1
triệu nhân công, phục vụ hơn 176 triệu khách hàng một năm.
2.1.2. Tình hình kinh doanh

18 CVS Caremark 98,729.0 3,696.0
19 Wells Fargo 98,636.0 12,275.0
20 International Business Machines 95,758.0 13,425.0
Bảng 2.1: Danh sách 20 công ty hàng đầu nước Mỹ tháng 04/2010
Wal-Mart có doanh thu lớn nhất trong số các công ty bán lẻ trên thế giới,
vượt xa công ty đứng thứ nhì là Carrefour. Doanh thu của công ty bán lẻ Pháp này
chỉ gần bằng một nửa của Wal-Mart. Hệ thống Wal-Mart gồm hơn 6.752 cửa hàng
khắp thế giới.
Trang 25

Trích đoạn Ứng dụng công nghệ trong quản trị tồn kho Phí tổn cao của chiến lược giá thấp Những hạn chế tại siêu thị Wal-mart trong cuộc khảo sát ngày 20 tháng 4 năm 2010 của tạp chí Business Week Vài nét về chuỗi cung ứng của hệ thống CoopMart Bài học từ cách thức gia tăng những dịch vụ tiện ích cho khách hàng của Wal-Mart
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status