BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN:
PHÂN TÍCH VÀ HỒN THIỆN QUẢN
TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA HỆ
THỐNG G7 MARK
GVHD: TS. HỒ TIẾN DŨNG
THỰC HIỆN: Bùi Thị Phương Linh.
L ỚP: K17-QTKD- ĐÊM 1
THÁNG 3 NĂM 2009
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1/Chuỗi cung ứng là gì? 6
1.2/Mô hình của chuỗi cung ứng 7
1.3/Quản trị chuỗi cung ứng 7
1.4/Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh 7
1.5/Phân biệt chuỗi cung ứng và kênh phân phối 9
1.6/Tính năng động của chuỗi cung ứng 10
1.7/Sự phối hợp trong chuỗi cung ứng 10
1.7.1/Giữa các tổ chức 10
1.7.2/Giữa các bộ phận trong công ty 11
1.8/Các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng 11
1.8.1/Giao hàng 12
1.8.2/Chất lượng 12
1.8.3/Thời gian 12
1.8.4/Chi phí 13
1.9/Các nguyên tắc cần tuân thủ để đảm bảo việc vận hành chuỗi cung ứng được
2.5.2/ Lợi ích 27
2.5.3/Nguyên tắc trưng bày cơ bản 28
2.5.4/Trưng bày theo ngành hàng, nhóm hàng, tiểu hàng 28
2.5.5/Cách sắp xếp 29
2.6/ Đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng của G7 29
2.6.1/Giao hàng 29
2.6.2/Chất lượng 29
2.6.3/Thời gian 30
2.6.4/Chi phí 30
2.7/Các mặt đạt được của chuỗi cung ứng công ty G7 30
2.8/Các mặt còn hạn chế của chuỗi cung ứng công ty G7 31
3
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HỒN THIỆN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG
ỨNG CÔNG TY G7 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
LỜI MỞ ĐẦU
Trong mô hình hiện đại ngày nay, chuyên môn hóa sản xuất đã chia cắt quá
trình sản xuất sản phẩm hồn chỉnh thành những công đoạn độc lập với nhau, trong
đó mỗi công đoạn tập trung thực hiện một hoặc một số bước trong tồn bộ quy trình
sản xuất ra sản phẩm hồn chỉnh cho người tiêu dùng. Điều này làm cho năng suất
lao động tăng cao, nhưng lại phá vỡ tính khép kín của quá trình sản xuất ra sản
phẩm cuối cùng. Khi quan hệ hiệp tác không được tổ chức tốt, tính cân đối của tồn
bộ quá trình sản xuất sẽ bị phá vỡ.
Chính vì thế, cùng với sự phân công chuyên môn hóa, các nhà quản lý luôn
tìm cách tổ chức các quan hệ hiệp tác giữa các đơn vị chuyên môn hóa. Ở Việt Nam,
vấn đề này đã được đề cập trên góc độ vĩ mô, từ phía trách nhiệm của nhà nước.
Một khía cạnh khác cần được quan tâm giải quyết triệt để hơn là trong phạm vi một
doanh nghiệp, cần tổ chức quản lý như thế nào và quản lý chuỗi cung ứng chính là
một cách tiếp cận, một phương pháp quản lý cho phép giải quyết vấn đề trên một
4
Các nhà
máy
Các
nhà
kho
Nhà
bán
lẻ
Khách
hàng
6
Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ưu hố quá trình luân
chuyển nguyên vật liệu, hàng hố, dịch vụ mà quản trị chuỗi cung ứng có thể giúp
tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ngồi ra, quản trị chuỗi cung ứng còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị,
đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place). Chính quản trị
chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần
đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu lớn nhất của quản trị chuỗi cung ứng
là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống quản
trị chuỗi cung ứng hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của
công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là
chìa khố thành công cho B2B. Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh
doanh đã cảnh báo, chiếc chìa khố này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các
chiến lược dựa trên hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên
kết trọng yếu nhất trong dây chuyền cung ứng.
Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền cung
ứng: thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới
những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ; thứ hai là bản thân
chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật
1. Chuỗi cung ứng là một hệ thống có tính tương tác rất cao. Các quyết định của
mỗi bộ phận của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến các ảnh hưởng đến các bộ
phận khác.
2. Chuỗi cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của nhu cầu. Kho và
nhà máy phải đảm bảo để đáp ứng đầy đủ đối với các đơn hàng lớn. Thậm
chí nếu các thông tin hồn hảo tại tất cả các kênh, sẽ có một phản ứng nhanh
trong chuỗi cung ứng từ thời gian bổ sung.
8
3. Cách tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung và
cung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến tất cả các kênh phân phối. Thời
gian trong chuỗi cung ứng chỉ dùng để cải tạo ra sự thay đổi trong các đơn
đặt hàng và hàng tồn kho. Dự đốn sự thay đổi nhu cầu cũng có thể làm giảm
ảnh hưởng của những thay đổi thực tế, và quản trị nhu cầu có thể làm ổn thỏa
những thay đổi của nhu cầu.
1.7/Sự phối hợp trong chuỗi cung ứng
Một trong những cách tốt nhất để đạt được những thay đổi cần thiết trong
chuỗi cung ứng một cách có hiệu quả là tăng sự phối hợp trong bộ phận và giữa các
tổ chức.
1.7.1/Giữa các tổ chức:
Các nhà bán lẻ, các nhà bán sỉ và các nhà sản xuất hình thành các hiệp hội để
hỗ trợ nhau trong việc cung ứng hàng hóa khi có sự tăng lên hoặc giảm đột ngột của
nhu cầu. Và việc hình thành này nhằm tập trung vào việc quản lý cả nhu cầu và
chuỗi cung ứng.
1.7.2/Giữa các bộ phận trong công ty:
Các công ty có thể tổ chức nhiều nhóm chức năng, những nhóm chức năng
này sẽ quản lý những mảng khác nhau trong chuỗi cung ứng như phòng mua hàng
sẽ chăm sóc các nhà cung cấp và quản lý tồn kho nguyên vật liệu; phòng điều hành
sản xuất sẽ chịu trách nhiệm về sản xuất hàng hóa và lượng hàng đang sản xuất;
phòng marketing quản lý nhu cầu và lượng hàng thành phẩm. Mặc dù mỗi phòng có
chức năng khác nhau nhưng điều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên nếu thiếu sự
10
Thời gian bổ sung hàng có thể được tính trực tiếp từ mức độ tồn kho. Một
trong những chỉ tiêu quan trọng nữa là thời gian thu hồi nợ vì nó đảm bảo cho công
ty có lượng tiền để mua sản phẩm và bán sản phẩm tạo ra vòng luân chuyển hàng
hóa.
1.8.4/Chi phí:
Có 2 cách để đo lường chi phí:
1. Công ty đo lường tổng chi phí bao gồm: chi phí sản xuất, phân phối, chi phí
tồn kho, và chi phí công nợ, thường những chi phí riêng biệt này thuộc trách
nhiệm của những nhà quản lý khác nhau và vì vậy không giảm được tối đa
tổng chi phí.
2. Tính chi phí cho cả hệ thống chuỗi cung ứng để đánh giá hiệu quả giá trị gia
tăng và năng suất sản xuất. Phương pháp đo lượng hiệu quả như sau:
HIỆU QUẢ=(DOANH SỐ – CP NGUYÊN VẬT LIỆU)/(CP LAO ĐỘNG +
CP QLÝ)
Chuỗi cung ứng gồm: nhà cung cấp-công ty-khách hàng nên nếu công ty tiến
hành cải tiến chuỗi cung ứng thì phải gặp nhà cung cấp và khách hàng vì khi cải
tiến là cần phải cải tiến cả chuỗi. Tương tự như vậy, cải tiến trong một bộ phận
của công ty trong chuỗi cung ứng có thể làm phương hại đến đơn vị khác và cần
phải hợp tác vì lợi ích chung của tập thể.
1.9/Các nguyên tắc cần tuân thủ để đảm bảo việc vận hành chuỗi cung ứng được
thành công
11
Nguyên tắc 1: Phân khúc khách hàng dựa trên nhu cầu của họ thành những
nhóm riêng biệt và áp dụng quản lý chuỗi cung ứng để phục vụ từng phân
khúc này một cách hiệu quả
Phân khúc khách hàng truyền thống là phân nhóm khách hàng theo ngành,
sản phẩm, hay kênh thương mại và sau đó dùng cách tiếp cận một-cho-tất-cả để
phục vụ họ, bình quân hóa chi phí và lợi nhuận trong và ngồi các phân khúc ấy.
Việc phân khúc khách hàng theo nhu cầu riêng biệt của họ cần doanh nghiệp phải
liệu thị trường không chính thức, hay một số ít dựa vào những nhà cung cấp chính
để thực hiện dự báo. Chính những định hướng theo chức năng này của nhiều công ty
đã làm cho mọi thứ đi chệch hướng. Những kiểu dự đốn độc lập và phân tán như
vậy sẽ không phù hợp với quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả.
Nguyên tắc 4: Khác biệt hóa sản phẩm đến gần với khách hàng hơn và đẩy
nhanh sự thay đổi tương ứng trong chuỗi cung ứng
Các nhà sản xuất có truyền thống dựa vào mục tiêu sản xuất để sự báo lượng
cầu của sản phẩm cuối cùng và trữ một lượng tồn kho nhất định bù đắp những thiếu
sót trong dự báo. Những nhà sản xuất này có xu hướng nhìn nhận thời gian chính
trong hệ thống là cố định, với một mức biên độ giao động thời gian hạn chế để
chuyển nguyên liệu thành thành phẩm mà có thể đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Điểm cốt lõi của việc khác biệt hóa một sản phẩm đúng-thời-hạn là thiết lập
các điểm kích hoạt trong quy trình sản xuất nơi mà sản phẩm được thiết kế cố định
cho một yêu cầu duy nhất và để đánh giá các lựa chọn, như là độ trễ, thiết kế được
module hóa, hay chỉnh sửa trong quy trình sản xuất, mà có thể gia tăng sự linh hoạt.
Hơn nữa, nhà sản xuất phải đối mặt với những thời gian có tính chu kỳ: liệu điểm
kích hoạt có thể được đẩy tới gần hơn nhu cầu thực tế để tối đa hóa sự linh hoạt của
nhà sản xuất trong việc đáp ứng nhu cầu phát sinh của khách hàng?
13
Nguyên tắc 5: Quản lý nguồn cung cấp một cách chiến lược để giảm tổng chi
phí nguyên liệu và dịch vụ.
Khi mà doanh nghiệp đặt một đơn hàng lớn với nhà cung cấp, họ cũng cần
nhận ra rằng đối tác của mình phải cùng chia sẻ mục tiêu cắt giảm chi phí trong
chuỗi cung ứng để giảm giá bán ra của thành phẩm và gia tăng lợi nhuận. Sự mở
rộng một cách logic của cách tiếp cận này là thỏa thuận cùng chia sẻ lợi ích để đảm
bảo mọi người cùng đóng góp vào khả năng sinh lợi nhuận lớn hơn.
Một số doanh nghiệp đã không sẵn sàng với những quan điểm tiến bộ này bởi
vì họ thiếu những yêu cầu tiên quyết nền tảng. Nghĩa là, kiến thức sâu về chi phí
hàng hóa, không chỉ là nguyên liệu đầu vào trực tiếp mà còn cả việc bảo trì, sửa
chữa và nguồn cung cấp cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như chi phí cho phúc
15
-Hỗ trợ chiến lược phát triển thương hiệu Việt.
-Trở thành đối trọng với các hệ thống phân phối của tập đồn nước ngồi.
-Hợp sức các nhà sản xuất trong nước tạo nên Nhà Việt Nam để cùng nhau
vươn ra thị trường nước ngồi.
2.1.3/Tầm nhìn-sứ mạng G7 Mart:
-Xây dựng mạng lưới số 1 Việt Nam
-Chủ động liên kết đưa hàng hóa trong nước đến với thị trường Thế Giới.
-Góp phần vào sự trỗi dậy của nền kinh tế nước nhà.
2.1.4/Triết lý kinh doanh G7 Mart:
G7 Mart tập hợp các cửa hàng bán lẻ, nhà phân phối, nhà cung cấp rời rạc
thành sức mạnh tổng hợp của hệ thống.
*Nguyên tắc vận hành:
-Phát huy sức mạnh số đông.
-Xây dựng liên kết chặt chẽ và gắn bó trên cơ sở cùng chung lợi ích.
-Tôn trọng nghuyên lý vận hành của thị trường.
2.1.5/Sản phẩm phân phối: gồm 5 ngành hàng
-Ngành thực phẩm ngọt: 343 chủng loại sản phẩm
-Ngành hàng thực phẩm mặn: 216 chủng loại sản phẩm
-Ngành hàng rượu bia và nước giải khát: 160 chủng loại
-Ngành hàng hóa mỹ phẩm: 185 chủng loại
-Ngành hàng phi thực phẩm đặc biệt: 360 chủng loại.
2.1.6/Chiến lược kinh doanh của Công ty G7:
16
-Tập hợp các nhà sản xuất Việt Nam để hình thành nên một hệ thống phân
phối vững mạnh đủ sức cạnh tranh với các tập đồn phân phối nước ngồi. Sức mạnh
của G7 Mart là sự liên kết, lấy mục tiêu phát triển thương hiệu Việt làm đầu.
-G7 Mart được hình thành trên cơ sở tập hợp các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ với
mục tiêu: trang bị, nâng cấp, thay đổi phương thức quản lý, cung cách phục vụ để
hướng các cửa hàng này thành chuỗi cửa hàng kinh doanh tiện lợi theo mô hình
2.2/Chuỗi cung ứng trong công ty G7
*Quy trình vận hành của chuỗi cung ứng G7 Mart:
Công ty G7 sẽ nhận hàng hóa từ các nhà cung cấp sau đó sẽ chuyển đến trung
tâm phân phối, từ trung tâm phân phối hàng sẽ được chuyển đến các cửa hàng tiện
lợi (theo chuẩn G7) và cửa hàng thành viên sau đó hàng hóa sẽ được phân phối đến
tay người tiêu dùng thông qua hệ thống các cửa hàng này.
2.3/Các thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng
2.3.1/Nhà cung cấp:
18
Là các nhà sản xuất các sản phẩm thuộc ngành thực phẩm ngọt; ngành hàng
thực phẩm mặn; ngành hàng rượu bia và nước giải khát; ngành hàng hóa mỹ phẩm;
ngành hàng phi thực phẩm đặc biệt… Các nhà cung cấp là các nhà sản xuất cung
cấp các sản phẩm cho công ty G7 phân phối đến người tiêu dùng.
2.3.2Công ty G7:
Hệ thống mạng luới phân phối G7 Mart sẽ bắt đầu hoạt động từ cuối năm
2006 với 500 điểm bán lẻ tiện lợi và 5.000 cửa hiệu hành viên mang tên G7 trên cả
nước, cung cấp các mặt hàng tiêu dùng. Dự định Sau 5 năm, G7 Mart sẽ phát triển
lên 10 nghìn cửa hiệu các loại, 18 kho bán sỉ và 7 trung tâm thương mại Tổng
vốn đầu tư giai đoạn đầu cho hệ thống này lên đến 395 triệu USD.•Cách thức đầu tư
tạo ra hệ thống phân phối:
+Thành lập các kho bán sĩ, trung chuyển và cung cấp hàng hóa
+Thành lập các cửa hàng tiện lợi do G7 bỏ vốn 100%
+Sử dụng hình thức nhựng quyền thương hiệu, ký kết hợp đồng với các nhà
bán lẻ ( các tạp hóa, của hàng trong cả nước) theo một số yêu cầu và tiêu chí như: vị
trí, doanh thu hàng tháng. Với phương châm hợp tác cùng có lợi, G7 cung cấp các
phuơng tiện, cách thức quản lý, bán hàng hiện đại, cung cấp hàng hóa nhanh chóng
và đầy đủ, các dich vụ cộng thêm của G7 cho các cửa hàng. Các cưa hàng có được
tên tuổi của G7 và tuân thủ theo những qui định chỉ bán hàng riêng cho G7.
+ G7 cũng sẽ xây dựng những siêu thị và đại siêu thị tại nước ngồi mang tên
"Việt Town". ( điều này chưa thực hiện được)
chuyên nghiệp sẽ được tập hợp vào hệ thống G7 Mart và chủ nhân các cửa hiệu này
sẽ được chuyển giao công nghệ quản lý, tiếp thị, quảng cáo, đào tạo và trên hết là
hoạt động chuyên nghiệp bảo đảm cho sự phát triển bền vững trong tương lai.\
20
2.3.4.1/Đặc điểm của chuỗi cửa hàng tiện lợi theo chuẩn G7:
2.3.4.1.1/.Thân
- Thân quen, thân thuộc
- Là nơi mua hàng quen, thân thuộc với tất cả mọi người, với cộng đồng dân
cư trong khu vực và các khách vãng lai
- Khách hàng luôn có cảm giác thoải mái như đang ở nhà mình
- Là nơi để khách hàng thư giãn, chia xẻ và khám phá,
2.3.4.1.2/Thiện
- Thiện cảm, thiện chí
- Luôn chào đón khách hàng với thái độ ân cần , niềm nở, thân thiện, như
một người thân được kính trọng, yêu mến nhất trong gia đình.
2.3.4.1.3/Tiện
- Địa điểm thuận tiện, khu vực đông dân cư, thuận lợi giao thông đi lại, dễ
tìm thấy.
- Sản phẩm bày bán đa dạng
- Trưng bày dễ thấy, dễ lấy. dễ kiểm tra
- Cách thức phục vụ: tự phục vụ với sự tư vấn hỗ trợ của nhân viên cửa hàng.
Tự do thoải mái và chủ động xem, lựa chọn hàng hóa, thanh tốn.
2.3.4.1.4/Lợi
- Tiện ích gia tăng thanh tóan bằng thẻ tín dụng, thanh tốn các khoản chi tiêu
khác thông qua thiết bị POS đặt tại cửa hàng G7mart.
- Thời gian phục vụ thường kéo dài hơn so với các cửa hiệu bán lẻ truyền
thống, trong tương lai sẽ phục vụ 24/24.
2.3.5/Cửa hàng thành viên:
21
Là các cửa hàng trong giai đoạn chuẩn bị để có thể nhanh chóng chuyển đổi
nhằm thu hút khách hàng, nâng cao uy tín, hình ảnh cửa hiệu trong hệ thống G7Mart
2.4.3/Bảo trợ:
-Cung cấp hàng hóa chất lượng và giá cạnh tranh tất cả 05 ngành hàng.
-Triển khai các chương trình thưởng, khuyến mãi doanh số tháng/quý/năm
cho các cửa hiệu tiện lợ nhằm gia tăng lợi nhận kinh doanh.
-Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho hệ thống cửa hiệu tiện lợi G7Mart khi có
những vấn đề phát sinh từ chất lượng, giá cả và các chương trình hậu mãi khác
-Tìm kiếm thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới tăng thêm lợi nhuận cửa hiệu.
2.5/Qui định cách trưng bày hàng hố:
2.5.1/ Mục tiêu
Quy định trưng bày hàng hóa của tất cà các cửa hàng G7 mart trên tồn quốc,
nhằm đạt được mục tiêu trưng bàu tồn bộ cửa hàng tiện lợi G7mart và đảm bảo tính
thẩm mỹ cho mọi cửa hàng trưng bày
2.5.2/ Lợi ích
- Tăng doanh số cho cửa hàng Pilot
- Tăng tầng xuất số lần khách đến mua hàng
- Tăng sự hài hòa cho cửa hàng Pilot
- Thu hút khách hàng đến thường xuyên, tạo sự chú ý khách hàng
- Khách hàng dể dàng nhận thấy và tìm được sản phẩm họ muốn. Khách hàng
không mất thời gian khi mua hàng
- Trưng bày làm nổi bật sự phong phú của hàng hóa, phù hợp với cửa hàng
Pilot
23
- Làm tăng sự phục vụ khách hàng của cửa hàng
- Tăng thêm lợi nhuận cho cửa hàng Pilot
2.5.3/Nguyên tắc trưng bày cơ bản
- Trưng bày theo ngành hàng, nhóm hàng, tiểu nhóm.
- Hàng to nặng, kích thước cồng kềnh để ở các tầng kệ cuối.
- Tất cả các nhãn hàng được xếp tối thiểu 1 facing
gắn máy để giao hàng.
2.6.2/Chất lượng:
Chất lượng của chuỗi cung ứng được thể hiện qua mức phục vụ khách hàng.
Trong chuỗi cung ứng G7 ta thấy mức phục vụ khách hàng chưa cao do chưa đáp
ứng kịp thời các nhu cầu của khách hàng, điển hình là một số cửa hàng G7 phải
nhập hàng từ những nguồn cung cấp khác. Mức thị trường công ty đang phục vụ là
thị trường đang phát triển nên cung và cầu đều có khả năng tăng bằng cách đa dạng
hố sản phẩm và tăng mức phục vụ khách hàng nhưng G7 Mart thì chưa làm được
điều này.
2.6.3/Thời gian:
Thời gian thu hồi nợ của G7 khá tốt nên đảm bảo cho công ty có lượng tiền
để mua sản phẩm và bán sản phẩm tạo ra vòng luân chuyển hàng hóa tốt.
2.6.4/Chi phí:
Tỷ suất lợi nhuận của công ty trên doanh thu chưa cao vì doanh thu chưa cao
do không đủ sự phong phú của các loại mặt hàng cung cấp. Tuy nhiên vòng quay
tiền mặt khá tốt vì không cho các cửa hàng nợ gối đầu.
25