Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Công thương Hà Nam - Pdf 30

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của hệ thống Ngân hàng Công thương
(NHCT) Việt Nam nói chung và chi nhánh NHCT Hà Nam nói riêng trong quá
trình kinh doanh đã bộc lộ nhiều khó khăn thách thức trước yêu cầu cạnh tranh để
hội nhập quốc tế và khu vực. Đối với chi nhánh NHCT Hà Nam tuy tốc độ tăng
trưởng trong những năm qua đạt tỷ lệ khá cao nhưng chất lượng hiệu quả kinh
doanh còn thấp. Ngoài những khó khăn chung của môi trường kinh tế- xã hội còn
có nguyên nhân rất quan trọng nữa là việc quản trị điều hành ngân hàng, quản lý
các nghiệp vụ hoạt động kinh doanh còn nhiều vấn đề tồn tại yếu kém đang đặt ra
cần phải nghiên cứu giải quyết nhằm để điều chỉnh chiến lược và đưa ra các giải
pháp để đưa NHCT Hà Nam Phát triển - An toàn - Hiệu quả.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, tác giả chọn để tài: “Giải pháp
nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHCT Hà Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận cơ bản về quản trị
Ngân hàng Thương mại (NHTM) và thực tiễn hoạt động kinh doanh của NHCT
Hà Nam để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
NHCT Hà Nam nói riêng và NHCT Việt Nam nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng là các nghiệp vụ quản lý và kinh doanh cơ bản của NHTM
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHCT Hà Nam.
- Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động kinh doanh của NHCT Hà Nam
trong giai đoạn 1999-2001.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp phân tích thống kê để
nghiên cứu.
5. Những đóng góp khoa học của luận văn.
- Hệ thống và khái quát hoá các lý luận cơ bản về nghiệp vụ kinh doanh cơ
Trang 1

trung gian, người ta gọi chung là “Các định chế tài chính” có chức năng giống
nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Trong các định chế tài chính,
NHTM là định chế có kỳ hạn quan trọng nhất, ở nhiều góc độ khác nhau người ta
định nghĩa NHTM như sau:
Các nhà kinh tế định nghĩa: NHTM là trung gian tài chính có giấy phép
kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi, kể các loại
tiền gửi mà dựa vào đó có thể dùng các tờ séc.
“Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” năm 1990
của Việt Nam định nghĩa: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng, với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán.
Luật các TCTD Việt Nam: NHTM là doanh nghiệp được thành lập theo quy
định của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội
dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ
thanh toán.
Trang 3
Những định nghĩa này cho thấy một số chức năng cơ bản mà các NHTM
đảm nhận, phân biệt tương đối với các chức năng của các trung gian tài chính
khác.
1.1.2. Hoạt động cơ bản của NHTM.
1.1.2.1. Tạo lập nguồn vốn
NHTM là tổ chức kinh doanh trên những lĩnh vực tiền tệ, cũng như các
doanh nghiệp kinh doanh khác. Việc tạo lập vốn là nhân tố để đáp ứng hoạt động
kinh doanh.
Cơ cấu nguồn vốn của NHTM bao gồm:
a. Vốn của ngân hàng:
Vốn điều lệ: Là vốn ban đầu được hình thành khi thành lập doanh nghiệp;
Nhà nước cấp nếu là NHTM Nhà nước (doanh nghiệp Nhà nước), hoặc là cổ đông
đóng góp khi là NHTM cổ phần. Vốn điều lệ tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh và

nhiệm thu, thẻ thanh toán
Hai hình thức tiền gửi trên, khách hàng được ngân hàng trả lãi trên số dư
“Có” trên sổ tiết kiệm hay trên tài khoản. Đặc điểm của loại tiền gửi này là lãi suất
thấp, không ổn định.
- Tiền gửi có kỳ hạn.
Bao gồm tiền gửi của cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội. Tiền gửi có kỳ
hạn thông thường chỉ được rút ra theo kỳ hạn. Đối với tài khoản tiền gửi có kỳ hạn,
khách hàng có thể gửi vào và rút ra theo yêu cầu. Song loại tài khoản này không
được phát hành séc, cũng như sử dụng các phương thức thanh toán không dùng
tiền mặt khác. Khi khách hàng muốn rút trước hạn trên tài khoản tiền gửi có kỳ
hạn, ngân hàng sẽ trích chuyển từ tài khoản có kỳ hạn sang tài khoản tiền gửi
thanh toán, và từ tài khoản này khách hàng mới rút tiền mặt hay chuyển khoản
thanh toán khác.
Đặc điểm của tiền gửi có kỳ hạn là lãi suất cao (kỳ hạn càng dài lãi suất
càng cao). Khách hàng gửi tiền mục đích để lấy lãi, vì vậy tiền gửi có kỳ hạn có
tính ổn định cao.
- Phát hành giấy tờ có giá.
Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu, đặc điểm là có kỳ hạn và lãi
suất hay khoản lãi được hưởng khi đáo hạn thanh toán được ghi ngay trên bề mặt
của kỳ phiếu hay trái phiếu. Hình thức huy động vốn này được thực hiện với mục
Trang 5
đích sử dụng vốn rõ ràng, số lượng và thời gian phát hành nhất định. Hiện nay, tại
NHCT Việt Nam tỷ lệ kỳ phiếu chiếm 12,4% tổng nguồn vốn huy động có kỳ hạn.
Do hoạt động cạnh tranh và đảm bảo lợi ích cho khách hàng có tiền gửi,
khách hàng rút vốn trước hạn đều được các NHTM Việt Nam trả lãi không kỳ hạn.
- Vốn đi vay.
Chủ yếu vay vốn của các NHTM là vay chiết khấu với Ngân hàng Trung
ương, khi dòng tiền thanh toán vượt mức dự trữ thanh toán, như trong thanh toán
bù trừ và thanh toán các khoản tiền gửi rút ra khỏi ngân hàng. Vay vốn các Ngân
hàng nước ngoài và các NHTM cho vay lẫn nhau khi nhu cầu tài trợ vốn cho

tài sản cố định, thay đổi và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp các đối
tượng có chu kỳ sản xuất, kinh doanh dài ngày, để cho vay trung và dài hạn bắt
buộc các NHTM phải có nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn dài hạn hiện nay đối với
các NHTM Việt Nam rất thiếu cho nên tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chưa
tương xứng với nhu cầu đầu tư của các thành phần kinh tế. Định hướng của NHCT
Việt Nam đến năm 2002 đưa tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chiếm 35% tổng dư
nợ vay.
- Đầu tư: Sau hoạt động cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính cho
ngân hàng, thì đầu tư được xếp hàng thứ hai. Hoạt động đầu tư của các NHTM
vừa làm đa dạng loại hình vốn sử dụng vừa mang lại thu nhập, đồng thời còn là
khoản dự trữ thứ cấp với các chứng khoán ngắn hạn chất lượng cao. Đầu tư bao
gồm các hoạt động chính như:
+ Mua các chứng khoán, trái phiếu Chính phủ: Các chứng khoán Chính phủ
được các NHTM xem như không có rủi ro. Trong năm qua và hiện tại ở Việt
Nam, trái phiếu kho bạc Nhà nước (trái phiếu ngắn hạn) qua các đợt phát hành hầu
hết là do các NHTM mua thông qua phiên đấu giá do NHNN chủ trì. Hoạt động
này đối với ngân hàng vừa mang lại thu nhập bằng lãi trái phiếu, vốn đầu tư có
tính an toàn cao, có khả năng tạo ra các công cụ thanh toán cho các NHTM khi cần
thiết.
+ Các chứng khoán khác: Bao gồm các công cụ vay nợ vì NHTM không
được phép nắm giữ cổ phiếu. Trong hoạt động đầu tư ngân hàng quan tâm nhiều
nhất đến chất lượng và kỳ hạn của các chứng khoán, bởi các chứng khoán có thể
không có rủi ro, nhưng lại thay đổi đáng kể về giá cả khi lãi suất thay đổi, từ đó
ảnh hưởng đến lợi tức hoặc thiệt hại khi phải bán chứng khoán. Kỳ hạn đầu tư cho
Trang 7
phép có thể tái đầu tư vào các chứng khoán khác phù hợp hơn.
- Cho thuê tài chính.
Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản
giữa bên cho thuê tài sản và TCTD với khách hàng thuê. Khi kết thúc kỳ hạn thuê,
khách hàng mua lại hay tiếp tục thuê tài sản đó, theo các điều kiện đã thoả thuận

Ngân hàng.
- Chuyển tiền thanh toán: Là việc khách hàng có thể trả một khoản tiền ở
bất kỳ chi nhánh NHTM nào mà người nhận tiền có hay không có tài khoản tại
Ngân hàng.
Hiện nay, với công nghệ thanh toán rất phát triển, hoạt động trung gian
thanh toán của Ngân hàng đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
tế, tiêu dùng của xã hội.
- Dịch vụ ngân quỹ.
Điều 67 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có ghi “TCTD được thực hiện
dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng”.
Ở các nước phát triển, dịch vụ ngân quỹ rất đa dạng và hiện đại như các
hoạt động ký gửi, thuê kho két, thu hộ và chi hộ tiền mặt Đối với các NHTM Việt
Nam hoạt động ngân quỹ chiếm một tỷ trọng lớn về lao động và chi phí bởi nhu
cầu thanh toán và chuyển tiền thanh toán quan hệ tín dụng bằng tiền mặt rất lớn và
không có hạn chế, trong khi đó dịch vụ ngân quỹ lại chưa thực sự phát triển, sự
xâm nhập vào hoạt động kinh tế- xã hội còn rất khiêm tốn.
- Dịch vụ cho các nhà xuất nhập khẩu.
Hoạt động của các nhà xuất nhập khẩu gắn liền với các dịch vụ, nghiệp vụ
ngân hàng như: Nhận và xử lý chứng từ, ứng trước tiền, thanh toán và chuyển tiền
quốc tế, tư vấn về mậu dịch, các quy định và quản lý ngoại hối.
+ Xử lý các chứng từ: NHTM giúp các khách hàng hoạt động xuất nhập
khẩu xử lý các bộ chứng từ hàng hoá. Các chứng từ buôn bán quốc tế rất quan
trọng, chúng kiểm soát sự vận động của hàng hoá, phải được lập đúng lúc, đúng
chỗ, đầy đủ và hợp lệ, chỉ một điểm nhỏ không rõ ràng trong chứng từ sẽ dẫn đến
việc tranh chấp trong thanh toán.
+ Thư tín dụng: Người mở thư tín dụng thường là người nhập khẩu (người
Trang 9
mua), người mua xin ngân hàng phục vụ mình (Ngân hàng phát hành thư tín dụng)
mở một khoản tín dụng cho bên xuất khẩu (người bán) theo các điều khoản của thư
tín dụng, Ngân hàng phát hành cam kết rằng người bán sẽ được thanh toán cho

− Cho vay
− Nợ khoanh và nợ chờ xử lý
− Đầu tư vào chứng khoán
− Góp vốn mua cổ phần
− Tài sản cố định
− Các khoản phải thu
− Tài sản có khác
2. Tổng tài sản Nợ và vốn:
− Tiền gửi của khách hàng
− Tiền gửi của các tổ chức tài chính
− Phát hành kỳ phiếu , trái phiếu
− Vay NHNN và các TCTD
− Các khoản phải trả
− Tài sản nợ khác
3. Tổng tài sản Nợ:
− Vốn điều lệ
− Các quỹ và vốn khác
− Lãi chưa phân phối
4. Tổng vốn
a. Tài sản Nợ:
Ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách (bán) những tài sản Nợ (nguồn), rồi vốn
này có thể được dùng để mua những tài sản có mang lại thu nhập.
Là một tổ chức trung gian tài chính NHTM đóng vai trò quan trọng trong
việc khơi nguồn đến những người vay tiền có cơ hội đầu tư sinh lời. Việc khơi
nguồn vốn thông qua các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.
- Các khoản tiền gửi có thể phát hành séc: Các tổ chức kinh tế- xã hội, các
tổ chức tín dụng khác, cá nhân mở tài khoản thanh toán tại NHTM . Thông qua tài
khoản người sở hữu chúng có quyền phát hành séc cho người thực hiện thứ 3. Đây
là loại tiền gửi được ngân hàng thanh toán theo yêu cầu khách hàng, nghĩa là chủ
tài khoản chỉ cần viết ra và gửi đến ngân hàng nơi mở tài khoản một lệnh thanh

toán chưa chuyển tiền giữa các chi nhánh trong hệ thống NHTM, tài sản tạm giữ
chờ xử lý, nguồn ký quỹ trong quan hệ thanh toán, thuế chưa nộp, các khoản phải
nộp ngân sách Nhà nước chưa nộp.
b. Tài sản Có.
Tài sản Có của NHTM là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng đó.
Trong đó có những tài sản có đưa lại thu nhập tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
- Các khoản tiền dự trữ:
Trang 12
+ Tiền mặt tại ngân hàng : Là khoản dự trữ quá mức có tính lỏng nhất hay
là tỉ lệ an toàn thanh toán, được sử dụng chi trả cho các đồng tiền rút ra khỏi ngân
hàng, các khoản thanh toán khác.
+ Dự trữ bắt buộc : Là khoản dự trữ theo luật định, theo quy định của các
NHTM đều phải giữ lại và gửi các cơ quan dự trữ ( Mỹ có quỹ dự trữ liên bang
FED, Việt Nam, các NHTM gửi tiền dự trữ bắt buộc vào NHNN). Tỷ lệ dự trữ bắt
buộc được xác định trên tổng nguồn vốn huy động và theo kỳ hạn của từng loại
tiền gửi. Hiện nay, NHNN Việt Nam quy định 3% cho các loại nguồn vốn huy
động có thời hạn dưới 12 tháng
+ Tiền gửi ngân hàng khác.
Trong quá trình hoạt động, các NHTM, NHNN có quan hệ thanh toán với
nhau, thanh toán bù trừ qua NHNN. Xuất phát từ nhu cầu thực tế nhằm giảm chi
phí, giảm thời gian trong quan hệ thanh toán, các chi nhánh của các NHTM mở tài
khoản thanh toán với nhau.
- Tiền cho vay.
Khoản thu chủ yếu của ngân hàng là từ tiền cho vay (Trên 50% thu nhập
của ngân hàng). Tiền cho vay chiếm 53,84 % tổng tài sản Có (NHCT Việt Nam)
Tiền cho vay là khoản nợ của các doanh nghiệp, cá nhân nhưng là tài sản có
của ngân hàng, vì nó mang lại thu nhập cho ngân hàng. Tiền cho vay có tính kém
lỏng, rủi ro cao, bởi nó khó chuyển thành tiền mặt trước khi mãn hạn.
- Những tài sản Có khác:
Như trụ sở, trang thiết bị, phương tiện do các ngân hàng sở hữu.

sản của Ngân hàng.
1.1.3.3. Nguyên tắc quản lý tài sản của NHTM.
- Tuân thủ pháp luật.
NHTM là một doanh nghiệp được thành lập theo luật định.
Hệ thống pháp luật chi phối phạm vi, đối tượng hoạt động của ngân hàng.
Tuân thủ pháp luật là nguyên tắc quản lý tài sản của ngân hàng bởi:
+ Các quan hệ về sở hữu được xác lập trên cơ sở quy định của pháp luật.
+ Hệ thống pháp luật tiên tiến và đồng bộ là môi trường pháp lý chủ yếu,
ảnh hưởng đến hoạt động thu lợi nhuận của ngân hàng. Luật pháp cung cấp cho
các nhà quản lý những tiêu chuẩn pháp lý. Tiêu chuẩn pháp lý là chỗ dựa chắc
chắn cho các nhà quản lý, khi ra những quy định quản lý và điều hành hoạt động
Trang 14
doanh nghiệp. Tiêu chuẩn pháp lý có tính cưỡng chế.
+ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với
chức năng đặc biệt của mình (tạo và huỷ tiền), hoạt động của các NHTM làm ảnh
hưởng chính đến lượng cung tiền trong lưu thông, ảnh hưởng đến chính sách tiền
tệ của Nhà nước. Về quản lý vĩ mô hoạt động của các NHTM luôn bị giới hạn bởi
Ngân hàng Trung ương và các cơ quan Chính phủ khác.
Việc tuân thủ pháp luật đối với các NHTM là làm cho chức năng và hoạt
động của mình luôn thích ứng một cách hợp lý với môi trường pháp luật. Vấn đề
đặt ra đối với các NHTM là:
+ Tuân thủ pháp luật: Làm cho hoạt động của ngân hàng thường bị trói
buộc trong phạm vi quy định, có thể cơ hội thu lợi nhuận giảm (nếu hệ thống pháp
lý thiếu đồng bộ, quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp không được cho phép
đầy đủ, nhất là những doanh nghiệp Nhà nước), tuy vậy lại có tính phát triển an
toàn, ổn định cao.
+ Khó khăn khi tuân thủ pháp luật là tính trễ của luật pháp so với thực tại
hoạt động kinh tế- xã hội, trong chừng mực nào đó làm qua đi cơ hội kinh doanh.
+ Mâu thuẫn giữa quản lý nhà nước với mục tiêu lợi nhuận của doanh
nghiệp, mâu thuẫn này chưa được xử lý thoả đáng bằng các điều khoản luật pháp.

+ Các tài sản có tính thanh khoản cao như: Trái phiếu kho bạc, chứng khoán
Chính phủ, các chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, nguồn tiền gửi ở các ngân hàng
khác Đối với các khoản cho vay do không có thị trường bán lại, chỉ có cách duy
nhất chuyển thành tiền là thu nợ đến hạn.
- Quản lý rủi ro và đa dạng hoá tài sản Có.
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro (rủi ro kép).
Rủi ro của bản thân ngân hàng và rủi ro hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động kinh doanh, rủi ro trong hoạt
động ngân hàng là việc làm thay đổi các chỉ tiêu của ngân hàng, dẫn đến ngân
hàng không đạt được mục tiêu trong quá trình hoạt động. Rủi ro đơn thuần là do
khả năng hạn chế của ngân hàng trong việc lường đoán trước những biến động
kinh tế- xã hội, môi trường pháp lý.
Việc quản lý rủi ro gắn với hoạt động ngân hàng trên các tiêu thức:
+ Quản lý con người : Sự suy thịnh của một doanh nghiệp, một phần cơ bản
do con người tạo nên, một đội ngũ cán bộ có năng lực và phẩm chất tốt là nhân tố
Trang 16
tạo ra khả năng cạnh tranh mạnh trong kinh tế thị trường.
+ Môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, không ổn định làm cho ngân hàng gia
tăng cho phí hoạt động trong việc chỉnh sửa, thay đổi các hoạt động về mặt pháp lý
nhằm thực hiện tuân thủ pháp luật.
+ Rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng tác động ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn
lực tài chính, thu nhập của ngân hàng (vì lãi suất là giá cả của hàng hoá, dịch vụ
ngân hàng), rủi ro tín dụng làm cho ngân hàng tốn kém chi phí bù đắp.
Để hạn chế rủi ro, giảm thiểu chi phí, tránh tổn thất cho ngân hàng, các
NHTM áp dụng sự đa dạng hoá hoạt động, chính là đa dạng hoá các tài sản theo
nguyên tắc “Không bỏ tất cả trứng vào một rổ”. Thay vì tập trung vào một hay một
số hoạt động chuyên môn hoá, tập trung vốn vào một số ít lĩnh vực kinh doanh
ngân hàng mở rộng các hoạt động, để đa dạng hoá các lĩnh vực kinh doanh, với tập
hợp các chuyên môn khác nhau.
- Lấy thu bù chi và có lãi, hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi.

Trong lĩnh vực quản lý tài sản của NHTM nhất là quản lý tiền cho vay, để
giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng đưa ra các nguyên tắc áp dụng đó là: Sàng lọc -
giám sát, thế chấp, bảo lãnh.
Sàng lọc là việc ngân hàng lựa chọn khách hàng trong thị trường cho vay,
như sắp xếp, đánh giá phân loại khách hàng theo trật tự ưu tiên: Tốt, trung bình,
yếu kém; nhằm đánh giá nguyên tắc hoàn trả cao, đúng hạn, giảm rủi ro về đạo
đức; khi khách hàng luôn có xu hướng tuỳ ý sử dụng tiền vay vào những hoạt động
mạo hiểm có lợi nhuận cao, rủi ro lớn. Ngân hàng giám sát quá trình hoạt động của
người vay tiền, buộc họ tuân thủ những quy định đã được thiết lập giữa hai bên,
bằng cách cưỡng chế thi hành những quy định hạn chế nếu họ không tuân theo.
Sự sàng lọc, giám sát của ngân hàng và tập hợp thông tin tạo ra một nguyên
tắc quan trọng của việc quản lý các khoản tiền cho vay.
Trong hoạt động cho vay, ngân hàng sử dụng những phương pháp để giảm
thiểu rủi ro và ít phải can thiệp sâu vào hoạt động của khách hàng bằng các quan
hệ thế chấp bảo lãnh.
Thế chấp là việc sử dụng các loại tài sản như: Bất động sản, tài sản, giấy tờ
có giá dùng để thế chấp cho khoản vay. Quan hệ này được luật định quy định cụ
thể, buộc ngân hàng và người vay lựa chọn các hình thức đảm bảo tiền vay và
tuân thủ.
Trang 18
Việc bảo lãnh cho một khoản vay là người thứ 3, người này đứng ra cam
kết trả nợ thay cho người vay, nếu người vay không có khả năng hoàn trả đúng
hạn. Các quan hệ bảo lãnh có thể được tái bảo lãnh.
1.2. Hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Hiệu quả kinh doanh của NHTM được xem xét một cách đơn giản và trực
tiếp nhất là lợi nhuận; lợi nhuận được xác định trên cơ sở nguồn thu nhập và chi
phí của các NHTM trong kỳ tài chính (thường là một năm).
1.2.1. Thu nhập của NHTM.
Thu nhập của NHTM bao gồm toàn bộ các khoản thu có thể thu được từ
các lĩnh vực kinh doanh ngân hàng và các nghiệp vụ kinh doanh khác liên quan.

toán, ngân hàng thu hút được tiền gửi thanh toán của khách hàng bổ xung cho
nguồn vốn kinh doanh và thu lệ phí thanh toán.
+ Dịch vụ tiền gửi: Thông thường các NHTM sử dụng lợi thế của mình là
có các chi nhánh được đặt ở nhiều nơi, kỹ thuật thanh toán giữa các ngân hàng
không ngừng được phát triển. Ngân hàng dễ dàng cung cấp dịch vụ thu gom tiền
cho các doanh nghiệp thông qua trung gian thanh toán, hình thức này giúp các
doanh nghiệp lưu chuyển tiền bán hàng nhanh, sử dụng vốn của doanh nghiệp có
hiệu quả hơn, qua đó ngân hàng thu lợi từ phí và quyền sử dụng vốn lưu ký trên tài
khoản trong quá trình thanh toán.
+ Dịch vụ kho quỹ: Là ngân hàng cung cấp và nhận chuyển tiền và thanh
toán bằng tiền mặt cho khách hàng, ngân hàng thu phí trên số tiền rút ra bằng tiền
mặt hay nộp chuyển tiền cho cá nhân.
Ngân hàng sử dụng hệ thống kho quỹ của mình cho thuê, ký thác, nhận bảo
quản tài sản có giá.
- Thu nhập từ nghiệp vụ khác.
Ngoài nguồn thu trên, các ngân hàng còn có các khoản thu khác của mình,
đó là thu từ các hoạt động dịch vụ, uỷ thác, tài trợ thuê mua trực tiếp, hoạt động
kinh doanh hối đoái và các dịch vụ khác như cung cấp các giấy tờ in cho khách
hàng.
1.2.2. Chi phí của NHTM.
Là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động của NHTM, ở phần này chúng ta
đề cập đến các khoản chi phí được xác định, chi phí trực tiếp và gián tiếp có liên
quan đến toàn bộ hoạt động được cấu thành trong tổng chi phí làm giảm lợi nhuận
Trang 20
xác định của ngân hàng.
a. Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh.
Là những khoản chi phí trực tiếp đối với tài sản Nợ và hoạt động cho vay,
đầu tư, đây là phần chi chủ yếu trong tổng chi phí.
- Chi trả lãi tiền gửi, tiền vay:
Là khoản chi mà NHTM trả cho những người gửi tiền, và những người cho

chi phí cho lập mới các chi nhánh.
+ Chi phí in ấn, thiết bị văn phòng: Các NHTM chi phí khá lớn cho khoản
mục này như đơn từ, văn kiện in sẵn, séc, kỳ phiếu, hồ sơ cho vay
+ Các chi phí khác: Là những chi phí cần thiết cho hoạt động như điện,
nước, xăng dầu vận chuyển, thông tin, báo chí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo
- Mục cuối cùng của chi phí: Trích lập quỹ dự phòng rủi ro, trích bảo hiểm
tiền gửi.
Việc chống lại các sai lầm và rủi ro trong hoạt động ngân hàng là yêu cầu
không thể thiếu được, khi mà các khoản cho vay, các nghiệp vụ kinh doanh khác
luôn tiềm ẩn tỷ lệ rủi ro cao, lập dự phòng để bù đắp cho các tài sản ngân hàng bị
thất thoát, mất khả năng thanh toán do chủ quan của ngân hàng và khách quan đem
lại.
Để đảm bảo an toàn trong thanh toán, chi trả tiền gửi các NHTM tham gia
bảo hiểm tiền gửi vừa tránh rủi ro vừa đảm bảo niềm tin cho khách hàng gửi tiền.
1.2.3. Lợi nhuận của NHTM.
NHTM là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tự chủ
về tài chính, nên mục tiêu cao nhất vẫn là tìm kiếm lợi nhuận, lợi nhuận quyết định
sự hưng thịnh, đồng thời là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp.
Quan điểm của các nhà kinh tế coi lợi nhuận là hình thái của giá trị thặng
dư, là phần giá trị mới được tạo ra thông qua quá trình hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
Lợi nhuận theo cách hiểu đơn giản là phần giá trị dôi ra của một hoạt động
kinh doanh, sau khi đã trừ đi mọi chi phí cho hoạt động đó. Hay lợi nhuận là phần
chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí (lãi ròng) được xác định trong một
kỳ tài chính (thường là một năm).
Tổng thu nhập - Tổng chi phí = Lợi nhuận
Trang 22
(Tổng chi phí, trong đó bao gồm thuế thu nhập)
Trong quá trình hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, mục tiêu lợi

Quản lý trong mối quan hệ chi phí là nhân tố tạo lập nguồn thu trong tương lai,
không những bù đắp được chi phí hiện tại cho ngân hàng mà còn phải có lãi.
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Phân tích hoạt động ngân hàng thông qua các chỉ tiêu về thu nhập, chi phí,
chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, các chỉ tiêu về lợi nhuận, đó là một yêu cầu
để nhận ra ưu thế, tìm ra các tồn tại, rủi ro tiềm ẩn để phòng ngừa và phát hiện lợi
thế tiềm năng, trên cơ sở đó đánh giá mức độ lành mạnh, vững chắc, an toàn, đề ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nguồn dữ liệu được sử dụng phân tích là: Bảng cân đối tài khoản, Bảng
tổng kết tài sản, Báo cáo thu nhập chi phí. Có một số chỉ tiêu cơ bản sau:
- Lãi suất thực tế bình quân đầu vào của nguồn vốn (R1):
R1=
Tổng chi phí phải trả lãi
x 100%
Tổng nguồn vốn bình quân
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng huy động nguồn vốn vào với lãi suất đã trả
bình quân là bao nhiêu. từ đó phân tích bắc cầu và có điều chỉnh kết cấu nguồn
vốn nhằm giảm lãi suất bình quân.
- Lãi suất đầu vào bình quân cho nguồn vốn được sử dụng cho vay và
đầu tư (R2)
R2= Tổng chi phí phải trả lãi
Tổng nguồn vốn - Dự trữ bắt buộc
Bình quân và dự trữ thanh toán
Chỉ tiêu này cho biêt lãi suất đầu vào của nguồn vốn cho vay và nguồn vốn
đầu tư khác, từ đó có thể dự tính được chênh lệch 2 đầu với lãi suất cho vay, dự
tính được thu nhập kế hoạch trong kỳ.
- Lãi suất cho vay thực tế (r1):
r1=
Tổng thu lãi cho vay
x 100%

Được xác định tại thời điểm báo cáo, sử dụng so sánh với kỳ trước, đánh
giá chất lượng hoạt động cho vay.
- Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản Có bình quân:
Đánh giá 1 đồng tài sản Có mang lại số lợi nhuận là bao nhiêu, hệ số đánh
giá hiệu quả tài sản sinh lời.
- Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng thu nhập (L):
L =
Lợi nhuận ròng
x100%
Tổng thu nhập
Hệ số phản ánh thực lãi thu được trên mỗi đồng thu nhập, đây là thước đo
hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh, vị thế tài
chính, khả năng chấp nhận trước những biến động bất lợi như lãi suất, tỷ giá, quy
mô hoạt động.
- Lợi nhuận ròng bình quân đầu người :
Lợi nhuận ròng bình quân đầu người =
Lợi nhuận ròng
x100%
Lao động bình quân trong kỳ
Phản ánh hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả mang lại do tăng năng suất
lao động. Qua đó đánh giá sự hợp lý của công tác tổ chức lao động.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
1.3.1. Lãi suất.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status