Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tế cho thấy, sự phát triển nhiều quốc gia đã cho thấy không một nền
kinh tế nào có thể phát triển toàn diện khi không có một nền tảng cơ sở hạ
tầng vững chắc. Bên cạnh đó cũng không ai phủ nhận rằng đầu tư XDCB là
tác nhân chính quyết định tới chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng cho một
nền kinh tế. Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tích công tác thực
hiện đầu tư XDCB nhằm đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả và kết quả đầu tư
luôn là vấn đề đáng được quan tâm đối với mọi quốc gia. May mắn được thực
tập ở Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, nên em xin chọn viết đề tài :
Đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh Vĩnh Phúc : Thực trạng và giải pháp.
Do còn thiếu kinh nghiệm thực tế nên bài viết của em không tránh khỏi
những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các
bạn.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Từ Quang Phương đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các anh chị đang làm việc
tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc và giúp em trong việc tìm các tài
liệu liên quan đến tình hình đầu tư Xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở TỈNH
VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM QUA
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH VĨNH PHÚC
1. Đặc điểm tự nhiên của Vĩnh Phúc
* Vị trí địa lý
Vĩnh phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, cửa
ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội. là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, dân số xấp xỉ 1,2 triệu người, diện tích trên 1.371km
2
3
, có tác dụng điều
tiết nguồn nước rất lớn.
* Tài nguyên
Vĩnh Phúc là tỉnh có diện tích nhỏ, lại ít khoáng sản, chỉ có một số lượng
quý hiếm nhưng trữ lượng nhỏ và phân tán nên chưa đạt tiêu chuẩn để khai
thác. một số loại khoáng sản có khả năng khai thác lâu dài là các mỏ cao lanh
giàu nhôm, cát sỏi, đá xây dựng…Riêng đất sét làm gạch có trữ lượng lớn
nhưng việc khai thác bị hạn chế vì nằm trong vùng đất canh tác. Hiện tại mới
đầu tư khai thác đá vôi, đá xây dựng ở Lập Thạch, Bình Xuyên, Mê Linh; cát
sỏi ở ven sông Hồng, sông Lô; Mica ở Lập Thạch.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Kết quả kinh tế-xã hội của Vĩnh Phúc thời kỳ 2004-2008
Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên cũng có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Trong những năm gần
đây, tình hình kinh tế – xã hội của Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả khá
cao. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, thúc đẩy nhanh tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh. Kinh tế nhà nước được sắp
xếp lại và đổi mới hoạt động, hiệu quả tăng; kinh tế tập thể có bước phát triển;
kinh tế tư nhân phát triển nhanh và cùng với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng định hướng là tăng tỷ
trọng công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản:
Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh tăng
nhanh từ 52,4% năm 2005 lên 58,8% năm 2008. Tỷ trọng nông - lâm nghiệp -
thuỷ sản giảm, ước thực hiện năm 2008 còn 18,05%, giảm 2,42% so với năm
2005.
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy năng
lực và tiềm năng của các thành phần kinh tế. Khu vực kinh tế nhà nước tiếp
trường đầu tư thuận lợi và liên tục được cải thiện nhằm thu hút đầu tư cho phát
triển công nghiệp, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp: chế biến, cơ khí, sản
xuất vật liệu xây dựng, may mặc... sản xuất ra các sản phẩm có số lượng lớn và
giá trị cao như: ô tô, xe máy, thép và ống thép, gạch ốp lát, gạch nung nước giải
khát, giày da, may mặc quần áo,.... Do vậy, ngành công nghiệp - xây dựng giai
đoạn 2004-2008 luôn duy trì mức tăng trưởng cao ở tất cả các thành phần kinh
tế. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng(giá
CĐ1994)tăng bình quân 32,62%/năm, trong đó ngành công nghiệp tăng
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
34,12%/năm, cụ thể: công nghiệp Nhà nước tăng 12,38%/năm, công nghiệp
ngoài quốc doanh tăng 24,2%/năm và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tăng 37,06%/năm. Đưa quy mô giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng
(theo giá CĐ 1994) năm 2008 lên 6.499,4 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình
quân 26,85%/năm.
* Các ngành dịch vụ:
Hoạt động của các ngành dịch vụ đều có bước phát triển khá. Quy mô giá
trị tăng thêm (GDP ) liên tục tăng qua các năm, cụ thể: năm 2006 đạt 2.044,9
tỷ đồng, năm 2007 đạt 2.437,5 tỷ đồng, năm 2008 ước đạt 2.834,1tỷ đồng, tốc
độ tăng trưởng bình quân 3 năm giai đoạn 2006 - 2008 là 19,35%/năm đã đạt
và vượt so với mục tiêu kế hoạch đề ra (tăng 13-14%/năm).
* Ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản:
Từ năm 2004 đến nay, đã vượt qua mọi khó khăn về thiên tai, dịch bệnh,
về những biến động bất thường của nền kinh tế,… từng bước phát triển ổn
định, đời sống, kinh tế – xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn có nhiều thay
đổi và khởi sắc. Sản xuất nông nghiệp đã và đang từng bước chuyển dần sang
sản xuất hàng hoá, đã xuất hiện một số mô hình trang trại, hợp tác xã sản xuất
hàng hoá với khối lượng lớn. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản
không ngừng tăng, các loại cây, con có giá trị kinh tế cao được chú trọng đưa
Công tác khuyến nông đã xây dựng nhiều chuyên mục trên đài truyền hình tỉnh,
báo Vĩnh phúc, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân, xây dựng nhiều
mô hình trình diễn các loại giống mới có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, từng
bước chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới đến cho nông dân. Công tác quản lý Nhà
nước về giống cây trồng, vật tư, phân bón, thuốc BVTV được tăng cường, tình
trạng kinh doanh giống và vật tư có phẩm cấp chất lượng kém đã được hạn chế.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Về lâm nghiệp:
Trong những năm qua, công tác trồng và chăm sóc rừng được thực hiện
tốt. Trong 3 năm (2006 – 2008) đã trồng mới được 2.398 ha rừng tập trung,
trung bình mỗi năm trồng được 800 ha, trồng được 244,1ha cây phân tán, đạt
trung bình mỗi năm 81,4 ha. Công tác phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng
được duy trì thường xuyên nên thiệt hại không đáng kể. Tỷ lệ rừng che phủ
tăng từ 20,28% năm 2005 tăng lên 22,03% năm 2008.
-Về thuỷ sản:
Thực hiện nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, trong những năm
qua, đã có nhiều dự án cải tạo vùng trũng được triển khai thực hiện, cải tạo
được 1 số diện tích ruộng trũng 1 vụ lúa bấp bênh thành 1 lúa ăn chắc + 1 vụ
cá, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập trên diện tích đất canh tác và
nâng cao đời sống cho nông dân vùng trũng. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản
trên toàn tỉnh đã tăng từ 5.585,8 ha năm 2005 lên 6.060,4 ha năm 2008 (tăng
474,6 ha). Ngành thuỷ sản đã có những bước phát triển khá, giá trị sản xuất
tăng bình quân 5,1%/năm, sản lượng cá nuôi trồng tăng từ 8.513,2 tấn năm
2005 lên 11.481 tấn năm 2008, tăng bình quân 10,48%/năm.
- Về phát triển hợp tác xã :
Tính đến tháng 6/2008, trên địa bàn tỉnh có 427 hợp tác xã. So với năm
2005, giảm 8 hợp tác xã do một số hợp tác xã quy mô thôn, xóm sáp nhập
thành quy mô toàn xã; có 9 hợp tác xã thành lập mới.
Hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến, khắc
Quy mô vốn đầu tư XDCB của Tỉnh tăng mạnh qua các năm. Để thấy rõ
điều này, ta xem xét bảng sau:
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
BẢNG 1 : VỐN ĐẦU TƯ XDCB TRONG TỔNG VỐN ĐẦU TƯ XÃ HỘI
TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2004-2008
(Đơn vị : tỷ đồng )
Năm Vốn đầu tư toàn xã
hội
Vốn đầu tư XDCB Tỷ lệ (%)
2004 6,061.07 5,061.00 83,5%
2005 7,525.07 6,618.00 87.9%
2006 9,278.16 7,905.00 85.2%
2007 9,395.97 8,400.00 89.4%
2008 10,738.5 8,870.00 82.6%
Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
Như vậy, ta thấy quy mô vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Vĩnh Phúc qua một
số năm từ 2004-2008 có xu hướng tăng liên tục, tăng đều và khá ổn định qua
các năm, năm sau cao hơn năm trước, với tốc độ tăng trung bình là 15.8%, cả
vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó cho thấy Vĩnh Phúc
đã làm khá tốt công tác thu hút vốn đầu tư nói chung cũng như vốn đầu tư xây
dựng cơ bản nói riêng. Qua bảng, ta cũng thấy được tỷ lệ vốn đầu tư XDCB
so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2004-2008
chiếm tỷ lệ khá cao, đều chiếm trên 80%, điều đó cho thấy Vĩnh Phúc đang
tích cực đầu tư xây dựng cơ bản tạo tiền đề, cơ sở vật chất hạ tầng vững chắc
cho phát triển kinh tế của tỉnh.
Tổng số dự án đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2004
đến hết năm 2008 là : 503 dự án
Trong đó:
10
07
7,304.34 8,400.00 115%
20
08
9,051.02 8,870.00 98%
T
ổng
35,324.97 36,854
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn : Sở kế hoạch & đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
Trong giai đoạn này, có năm 2004 và 2007 các công trình thực hiện đạt
được và vượt kế hoạch được giao, đặc biệt là năm 2004, tỷ lệ hoàn thành đạt
cao, 168,3%,có được kết quả vậy là nhờ các ngành,các cấp của Tỉnh nhất là
các khai ngành tổng hợp như sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính đã tích cực
thác vốn từ Trung ương; giải ngân các công trình chuyển tiếp thuộc kế hoạch
2004 đạt kết quả cao,kế hoạch hoá đầu tư 2004 từ nguồn ngân sách tập trung
được thực hiện tốt, quản lý đầu tư xây dựng đã đi vào nề nếp. Năm 2005 công
trình không đạt kế hoạch là do trong năm, chính phủ ra nghị định
16/2005/NĐ-CP về quản lý và đầu tư xây dựng công trình theo Luật Xây
Dựng năm 2003. Mặc dù đã có thông tư 08/2005/TT-BXD hướng dẫn song
vẫn còn nhiều bất cập,nhiều chủ đầu tư, cơ quan chuyên môn hiều chưa đúng
tinh thần của Nghị định nên có một số quyết định chưa phù hợp. Các dự án
phải bổ sung nhiều lần dẫn tới thời gian chuẩn bị đầu tư kéo dài ảnh hưởng
đến tiến độ dự án.Công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm
định dự toán ... khi thẩm định định mức và đơn giá ban hành chưa sát với thực
tế còn nhiều tranh cãi, thời gian thẩm định còn kéo dài. Đấu thầu thiếu tính
cạnh tranh, hầu hết chủ đầu tư đều không muốn đấu thầu rộng rãi, chủ yếu xin
được đấu thầu hạn chế. Các nhà thầu xây lắp hầu hết không thực hiện đúng
cam kết ứng vốn khi tham gia đấu thầu .
1 Vốn đầu tư NSNN 155.00 200.00 250.00 320.00 380.00
2 Vốn tín dụng đầu
tư phát triển NN
100.00 100.00 110.00 120.00 125.00
3 Vốn đầu tư DNTW
và ngoài tỉnh ( DDI
)
1,500.00 2,000.00 2,200.00 2,500.00 3,650.00
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qua bảng, ta thấy tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh có xu
hướng tăng liên tục qua các năm từ 2004 – 2008. Trong cơ cấu vốn đầu tư, ta
thấy các nguồn vốn đầu tư chiếm tỷ trọng lớn là những nguồn vốn đầu tư :
Vốn dân cư, xã, phường và vốn tự có của doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
vốn của Bộ ngành TW và vốn FDI đầu tư trên địa bàn, tổng ba nguồn vốn này
thường chiếm trên 80% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc từ năm 2004 - 2008. Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư
nhân trong địa bàn là một trong những nguồn vốn khá quan trọng đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc. Vốn trong dân là nguồn
vốn được huy động từ dân cư , phường xã , hợp tác xã. Qua những năm gần
đây, nguồn vốn này ngày càng tăng, góp phần đáng kể vào việc đầu tư phát
triển của tỉnh Vĩnh Phúc.
Vốn đầu tư xây dựng của khu vực dân cư chiếm tỷ
trọng cao cho thấy nguồn vốn to lớn của khu vực dân cư và có thể huy động
cho đầu tư phát triển, và cũng cho thấy tiềm năng, nhu cầu phát triển kinh tế
của tỉnh trong những năm tiếp theo. Đây là một lợi thế của Tỉnh Vĩnh Phúc vì
đầu tư xây dựng là loại hình đầu tư dài hạn, kết quả là những công trình có thể
sử dụng trong thời gian dài, mục đích nhằm tạo ra cơ sở vật chất lâu dài cho
hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo ngành phản ánh khối lượng vốn đầu tư
xây dựng thực hiện của từng ngành trong từng năm và trong cà giai đoạn
2004-2008, Qua đó cho thấy tiến độ thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản của các
ngành, từ đó có những biện pháp phù hợp đảm bảo tiến độ của các công trình
đối với từng ngành; mặt khác nó cũng cho thấy được ngành nào có khối lượng
vốn đầu tư thực hiện lớn nhất trong kỳ, vốn đầu tư tập trung vào những ngành
nào, có phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
hay không.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cơ cấu vốn đầu tư là quan hệ tỷ lệ khối lượng vốn đầu tư vào các ngành
kinh tế, các khu vực và các vùng kinh tế cũng như các quan hệ trong thành
phần kinh tế, tính chất chi phí và các loại hình đầu tư. Cơ cấu đầu tư thực chất
phản ánh mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn nhất
định. Do vậy, nghiên cứu cơ cấu đầu tư cho phép rút được những kết luận đối
với việc vận dụng các quy luật kinh tế, cũng như các chủ trương phát triển
kinh tế của Đảng, Nhà nước.
Giữa cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế có một mối liên hệ mật thiết và tác
động qua lại với nhau, điều này thể hiện ở chỗ tỷ lệ các ngành kinh tế được
đặc trưng bởi cơ cấu tổng giá trị sản lượng trong các ngành cũng như trong
nội bộ nền kinh tế. Hơn nữa cơ cấu vốn đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến nhịp
độ phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến tính chất của sự phát triển đó.
Nhiệm vụ cơ bản của phân tích cơ cấu ngành của vốn đầu tư xây dựng cơ bản
là chỉ ra được tính hợp lý trong bố trí vốn đầu tư giữa các ngành trên cơ sở
xem xét tác động của đầu tư ở các ngành đến việc thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế của cả giai đoạn. Đồng thời nghiên cứu cơ câu đầu tư xây dựng
cơ bản ngành là cơ sở để hoàn thiện cơ cấu đầu tư của cả nền kinh tế. Do đó
nghiên cứu cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản ngành là cơ sở để hoàn thiện cơ
cấu đầu tư của cả nền kinh tế. Từ đó ta thấy được nghiên cứu cơ cấu đầu tư
xây dựng cơ bản theo ngành là rất cần thiết.
Trong cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nguồn vốn đầu tư tỉnh Vĩnh
Phúc các ngành chiếm tỷ trọng vốn đầu tư cao trong giai đoạn từ 2004-2008
đó là : Giao thông (25%), Nông lâm nghiệp (15%) và giáo dục - đào tạo (14
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
%). Sở dĩ có sự tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ bản vào 3 ngành nêu trên là
do tỉnh Vĩnh Phúc mới được tái lập (năm 1997), cơ sở hạ tầng phục vụ cho
công tác quản lý cũng như điều kiện phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh chưa được hoàn thiện. Mặt khác do hệ thống giao thông trên địa bàn
tỉnh còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng tốt được nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội. Các dự án thuộc lĩnh vực giao thông lại luôn đòi hỏi lượng vốn khá lớn,
do vậy tỷ trọng vốn dành cho ngành giao thông luôn cao hơn các ngành khác
cũng là điều dễ hiểu.
Giáo dục đào tạo chiếm một tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn trong cơ
cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản là do trong giai đoạn 2004-2008 hàng loạt
các công trình xây dựng trường học được phê duyệt và tiến hành xây dựng
như : Trường dạy nghề Việt Đức, Trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật Vĩnh
Phúc, Trường THPT Tam Dương II, trường THPT bán công Nguyễn Duy
Thì, THPT bán công Trần Hưng Đạo....
Nông lâm nghiệp cũng chiếm lượng vốn đáng kể là nhờ các dự án kiên cố
hoá kênh mương và đê điều ở các địa phương. Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh
nông nghiệp, người dân làm nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp khá
lớn. Hơn nữa, trong những năm gần đây tình hình mưa lũ diễn biến thất
thường,nên tỉnh đã tập trung đầu tư kiên cố lại các tuyến đê xung yếu trên địa
bàn. Do đó mà lượng vốn đầu tư vào nông lâm nghiệp, thuỷ lợi cũng chiếm tỷ
trọng cao. Các dự án giao thông cũng là đối tượng được tập trung vốn đầu tư
lớn, như dự án : đường tỉnh lộ 295, tổng vốn đầu tư là 69,412 triệu đồng, dự
án đường tỉnh lộ 271, tổng vốn đầu tư là 36,642 triệu đồng...
Trong cơ cấu vốn đầu tư XDCB qua các năm giai đoạn 2004-2008 thì năm
2008 có tổng vốn đầu tư cao nhất, đạt 8.870 tỷ đồng. Điều đó cho thấy nhu
và các huyện trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2004-2008 nhằm
rút ra những nhận định về công tác xây dựng của từng vùng. Đồng thời dựa
trên cơ sở là các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc, quy
hoạch của địa phương, đánh giá đúng đắn, hiệu quả của các công trình xây
dựng trong từng địa phương, xem xét huyện nào có quy mô đầu tư xây dựng
lớn nhất, phần nào đánh giá được nhu cầu phát triển kinh tế của vùng.
Ta xem xét vốn đầu tư XDCB thực hiện theo vùng thông qua bảng sau :
BẢNG 5 : VỐN ĐẦU TƯ XDCB THỰC HIỆN PHÂN THEO VÙNG
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
STT Địa điểm
Năm
Tổng
2004 2005 2006 2007 2008
1 Tp Vĩnh Yên
1,858.7
2 2,457.40 2,975.04 3,067.60 3,158.43 13,517.19
2 Mê Linh 725.18 935.20 1,109.13 1,213.80 1,321.29 5,304.60
3 Bình Xuyên 653.57 803.66 952.98 1,150.25 1,215.19 4,775.65
4 Tam Dương 354.27 463.26 553.35 587.21 620.9 2,578.99
5 Lập Thạch 263.05 337.9 395.25 421.32 463.6 1,881.12
6 Vĩnh Tường 516.71 717.98 859.53 812.23 875.41 3,781.86
7 Yên Lạc 511.32 663.65 758.17 764.43 792.62 3,490.19
8 Tam Đảo 178.18 238.95 301.19 383.16 422.56 1,524.04
Tổng
5,061.0
0
6,618.0
0
7,905.0
huyện Mê Linh cũng là một trung tâm kinh tế lớn thứ hai của tỉnh Vĩnh Phúc
với khu công nghiệp Quang Minh I, Quang Minh II có quy mô lớn, vì vậy
cũng đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng phù hợp, Huyện Bình Xuyên cũng có
lượng vốn đầu tư XDCB khá cao là một phần vì hai khu công nghiệp Bình
Xuyên và Bá Thiện đang trong quá trình hoàn thiện và xây dựng chuẩn bị đi
vào sản xuất nên đòi hỏi lượng vốn lớn. Huyện Tam Đảo là một huyện miền
núi, kinh tế còn nhiều khó khăn và tỉnh cũng đang từng bước tạo điều kiện
phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và tạo sự phát triển đồng đều
giữa các vùng. Lượng vốn đầu tư XDCB vào huyện thời gian qua đã tăng lên
đáng kể với các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình 134, 135,...
Vốn đầu tư xây dựng tập trung ở thành phố Vĩnh Yên và huyện Mê Linh cho
thấy đây là hai trung tâm kinh tế chính trị văn hoá xã hội lớn nhất của Tỉnh,
nhu cầu phát triển kinh tế ở hai khu vực này là rất lớn.Từ phát triển kinh tế
của hai khu vực này sẽ tạo thành điểm tựa, vùng trọng điểm để thúc đấy sự
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển của các vùng còn khó khăn, lạc hậu khác trên địa bàn như huyện
Tam Đảo, Lập Thạch.
Bảng trên cũng cho thấy cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Vĩnh Phúc là
tương đối hợp lý, ngoài ra hai vùng là thành phố Vĩnh Yên và huyện Mê Linh
thì cơ cấu vốn đầu tư giữa các huyện còn lại là tương đối đồng đều, cho thấy
việc phân bổ vốn cho các huyện là tương đối tốt, tạo điều kiện cho các huyện
phát triển kinh tế xã hội, tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững, không quá
chênh lệch kinh tế giữa các vùng trong tỉnh. Huyện Tam Đảo và Lập Thạch
có số vốn đầu tư thấp hơn so với các vùng khác một phần là do hai địa
phương này là vùng miền núi, địa hình khó khăn cho phát triển kinh tế, phần
khác là do vốn đầu tư XDCB là có hạn nên tỉnh cần cân nhắc đầu tư phát triển
những địa phương có lợi thế phát triển kinh tế trước. Tuy nhiên, lượng vốn
đầu tư vào hai vùng trên cũng đã có sự cải thiện đáng kể trong thời gian qua,
đó là chính sách đầu tư đúng đắn của tỉnh nhằm tạo sự phát triển kinh tế bền
với năm 2007 và 2006 một phần vì ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế
giới đến nền kinh tế nước ta, khiến cho nhiều dự án bị tạm dừng cấp vốn đầu
tư.
6. Kết quả và hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Vĩnh Phúc
6.1. Kết quả đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hàng năm có khoảng 300-350 công trình xây
dựng hoàn thành và được đưa vào khai thác sử dụng, đã mang lại những hiệu
quả to lớn cho nền kinh tế, góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hội của địa phương. Trong giai đoạn 2004-2008, cùng với sự đổi mới và phát
triển kinh tế chung toàn tỉnh, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực, các
ngành kinh tế quan trọng có tốc độ phát triển khá, ngành XDCB với vai trò
quan trọng của mình cũng thu được kết quả khả quan. Qua đó tạo điều kiện
cho các ngành kinh tế khác phát triển, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, giao
thông trong tỉnh, cũng như tạo thêm sức hút đối với các nhà đầu tư trong và
ngoài nước đầu tư vào địa bàn tỉnh.
Để thấy được kết quả đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh, ta xét các chỉ tiêu
kết quả kinh tế xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2004-2008. Tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân giai đoạn 2004 - 2008 của tỉnh tăng 20,42%/năm, cụ thể trong
đó: công nghiệp - xây dựng tăng 26,85%/năm, dịch vụ tăng 19,35%/năm và
nông - lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 3,75%/năm. Ước thực hiện hết năm 2008,
qui mô GDP (giá CĐ 94) đạt 10.863,3 tỷ đồng, bằng 93,5% mục tiêu đề ra
đến năm 2010 (11.621 tỷ đồng).
GDP bình quân đầu người (theo giá TT) liên tục tăng, năm 2005 mới chỉ
đạt 8,5 triệu đồng/người, đến năm 2007 đạt 15,3 triệu đồng/người (tương
đương khoảng 950 USD/người) đã vượt mức bình quân chung cả nước. Ước
thực hiện năm 2008 đạt 21,6 triệu đồng/người (khoảng trên 1.200 USD/người.
Trong giai đoạn 2004-2008, phần lớn nguồn vốn đầu tư XDCB được phân
bổ cho các ngành, các lĩnh vực mũi nhọn, có tầm quan trọng chiến lược trong