Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A. LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói thị trường tài chính nước ta chưa bao giờ phát triển mạnh và đạt
được những thành công tốc độ tăng trưởng cao vượt bậc trở thành " địa điểm ”
đầu tư hấp dẫn trong con mắt các nhà tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài. Thị
trường tiền tệ phát triển mạnh với hệ thống ngân hàng 2 cấp và ngày càng xuất
hiện nhiều các ngân hàng thương mại cổ phần và thương mại nước ngoài. Thị
trường vốn vẫn tiếp tục được coi là một thị trường tiềm năng, thu hút nhiều nhà
đầu tư nước ngoài. Lượng vốn đầu tư gián tiếp trong các năm qua liên tục tăng
cao. Còn thị trường chứng khoán thì lại sôi động hơn bao giờ hết, không chỉ
những nhà đầu tư mà ngay cả những người dân cũng quan tâm đến thị trường
này. Tất cả những điều đó càng được thể hiện rõ nét sau sự kiện Việt Nam gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Mặc dù đã có những phát triển mạnh mẽ như vậy nhưng không thể không
nhìn nhận sự tụt hậu của tài chính nước ta so với các nước trong khu vực và thế
giới. Thị trường tài chính dù là vốn, tiền tệ hay chứng khoán đều đóng một vai
trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Việt Nam. Vì vậy thị trường tài chính
được cọi là một trong những ưu tiên hàng đầu của nước ta hiện nay. Đó cũng
chính là lí do em chọn đề tài :
“ Đánh giá về thị trường tài chính Việt Nam hậu WTO ”
Nhằm nghiên cứu về thị trường tài chính Việt Nam về thực trạng về các
giải pháp phát triển thị trường tài chính của Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
B. NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1:
Lý luận chung về thị trường tài chính
Lịch sử xã hội cho thấy tài chính ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời
của nhà nước và nền sản xuất hàng hóa. Tài chính là hệ thống quan hệ kinh tế
biểu hiện trong lĩnh vực hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong
nền kinh tế quốc dân nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển xã hội. Theo cách
chức năng tài chính của cá chủ thể trong nền kinh tế được gọI là hệ thống tài
chính. Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước và định hướng xã hộI chủ nghĩa trong
đó hệ thống tài chính bao gồm các bộ phận hợp thành vớI tư cách là các tụ điểm
tài chính. Các tụ điểm tài chính này gắn với chủ thể nhất định và thực hiện quá
trình “ bơm ”, “ hút ” các nguồn lực tài chính dướI hình thức trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua thị trường tài chính. Như vậy vớI tư cách là nơi diễn ra các hoạt
động trao đổI mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những
phương thức giao dịch, các công cụ và dịch vụ tài chính nhất định, thị trường tài
chính có thể hiểu là tổng hào các quan hệ cung cầu về vốn.
Thị trường tài chính được phân thành 2 loại : Thị trường vốn ngắn hạn ( thị
trường tiền tệ ) và thị trường vốn dài hạn
- Thị trường vốn ngắn hạn : hay còn gọi là thị trường tiền tệ là các hoạt
động về cung cấp vốn ngắn hạn ( dướI 1 năm ) diễn ra chủ yếu thông qua hoạt
động của hệ thống ngân hàng các cấp.
- Thị trường vốn dài hạn là nơi diễn ra các hoạt động về cung cấp vốn dài
hạn cho Chính Phủ , doanh nghiệp, hộ gia đình. Thị trường vốn dài hạn bao gồm
thì trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Vai trò và chức năng của thị trường tài chính
a/ Vai trò :
Thị trường tài chính ngày nay càng này càng mang tính mở và đóng góp
vai trò quan trọng trong đờI sống kinh tế - xã hộI hiện đạI ở cấp quốc gia cũng
như cấp quốc tế. Đó là những vai trò :
- Tạo ra các kênh và công cụ huy động vốn cho đầu tư phát triển từ các
nguồn trong và ngoài nước, từ trong doanh nghiệp và trong dân.
- Cung cấp cho các nhà đầu tư những cơ hội và thách thức đầu tư đa dạng
và phù hợp. Nhà nước trên cơ sở kiểm tra giám sát bằng đồng tiền, nắm được
thực tế hoạt động của nền kinh tế có thể dung các biện pháp đầu tư them vốn, bổ
khoán,… Có thể nói cho đến nay nước ta đã có một cấu trúc thị trường tài chính
tài chính khá đầy đủ. Tuy nhiên không chỉ hình thành một cách đầy đủ mà thị
trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển mạnh và đạt
được tốc độ tăng trưởng cao vượt bậc nhanh chóng trở thành “ địa điểm ” đầu tư
hấp dẫn trong con mắt trong con mắt của các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài.
Theo nhận định của các nhà chuyên môn, thị trường tài chính Việt Nam là một
trong những thị trường tài chính phát triển nhanh nhất thế giới.
Thị trường tài chính Việt Nam được hình thành trong thời kì đổI mớI ngày
càng gia tăng về qui mô, đồng bộ về cơ cấu, hiện đại hơn về công nghệ, nghiệp
vụ và cũng ngày càng khẳng định đậm nét hơn vị thế mà không thể thiếu được
trong tổng thể nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xét về tổng thể thị trường tài
chính Việt Nam nổI lên một số đặc điểm sau :
Thứ nhất, thị trường tài chính chưa phát triển đồng bộ về cơ cấu, chưa
đồng đều về trình độ giữa các bộ phận hợp thành. Các hoạt động tài chính ở
nước ta mới chỉ tập trung vào thị trường vốn ngắn hạn chưa nhiều hoạt động trên
thị trường vốn dài hạn. Hơn nữa trong thị trường vốn ngắn hạn cũng chủ yếu tập
trung ở một số hoạt động huy động vốn và cho vay tín dụng thông thường của
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các ngân hàng thương mạI nhà nước, còn ở trong thị trường vốn dài hạn mớI tập
trung ở các hoạt động vay nợ dài hạn của Chính Phủ hoặc doanh nghiệp nhà
nước… Thị trường chứng khoán _ một định chế tài chính tiên tiến, thước đo
trình độ phát triển thị trường của một quốc gia, một hình thức tổ chức trực tiếp
giữa người có cung – cầu vốn, không có trung gian tài chính, một thị trường liên
tục gần vớI thị trường cạnh tranh hoàn hảo – thì hầu như chưa hình thành vớI tư
cách một thị trường cũng như chưa được mở rộng trên cả nước.
Thứ hai, qui mô thị trường còn nhỏ, các hàng hóa và dịch vụ tài chính còn
nghèo nàn, đơn giản và tính chuyên nghiệp chưa cao. Mặc dầu còn thiếu số liệu
đầy đủ để đánh giá tổng quát qui mô thị trường tài chính của nước ta cả về tổng
Thứ tư, Thị trường tài chính hoạt động chưa mang tính thị trường cao và
chưa gắn đồng bộ vớI các thị trường khác trong nền kinh tế. Rất nhiều ngân
hàng, công ty tài chính vẫn còn mang dáng dấp và phong cách kinh doanh của
thờI bao cấp. Hơn nữa do còn một số bất cập trong khung pháp lí về hoạt động
do tập trung và các đốI tác thuộc khu vực kinh tế nhà nước nên các nguyên tắc
kinh doanh thị trường nhiều khi được thực hiện một cách ước lệ, hình thức.
Dòng vốn xã hộI thông qua thị trường tài chính vẫn chưa được thực sự chảy đến
những nơi cần đến và tuân theo tín hiệu nguyên tắc thị trường. Tính cạnh tranh
thị trường giữa các ngân hàng mớI được khởI động gần đây, từ khi ngân hàng
nhà nước áp dụng chế độ lãi suất cơ bản và bãi bỏ kiểm soát lãi suất… Nợ quá
hạn khó đòi của nhiều ngân hàng còn cao do ngân hàng chịu sức ép “ cho vay
chính sách ”, còn các đốI tác được vay thì sẵn tâm lí xin hỗ trợ chính sách càng
nhiều càng tốt…Hơn nữa thị trường tài chính dường như còn hoạt động một
cách đơn độc, thiếu gắn kết đồng bộ vớI nhiều thị trường và các hoạt động kinh
tế - xã hộI lớn khác. Ví dụ, thị trường chứng khoán còn thờ ơ vớI quá trình cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước; hoặc thị trường tiền tệ trong nước còn quá “
lãnh đạo” vớI thị trường tài chính quốc tế.
Thứ năm, thị trường tài chính đang từng bước được xây dựng, củng cố và
phát triển phù hợp vớI quá trình chuyển đổI cơ chế và đáp ứng các cam kết hộI
nhập và thông lệ quốc tế. Đây đã, đang và sẽ còn là đặc điểm lớn nhất bao trùm
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuyên suốt chi phốI và định hướng toàn bộ quá trình vận động của thị trường tài
chính Việt Nam. Cùng vớI sự chuyển biến về nhận thức và sự hoàn thiện cơ chế
thị trường mở nói chung, hệ thống pháp lí kinh tế nói riêng, thị trường tài chính
Việt Nam sẽ ngày càng được củng cố và phát triển vững chắc, an toàn và hiệu
quả hơn cả về bề rộng lẫn bề sâu. Các bộ phận thị trường trong hệ thống thị
trường tài chính sẽ tiếp tục mở rộng về quy mô, tăng thêm các công cụ, dịch vụ
chuyên nghiệp, phân nhánh chi tiết và rõ nét hơn các bộ phận thị trường chuyên
biệt ( thị trường cổ phiếu doanh nghiệp sẽ phân thành thị trường cổ phiếu của
Trước tình hình như vậy, người viết xin dự báo một số hệ quả sau có thể
xảy ra đối với diễn biến tiền tệ từ nay về cuối năm:
+ Lãi suất tiếp tục xu hướng giảm. Lãi suất huy động dự báo hạ xuống còn
khoảng 10% vào thời điểm cuối năm.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Các hoạt động tín dụng sẽ được chủ động nới lỏng trở lại. Dự báo đến
quý 1/2009 các kênh cho vay vốn sẽ được “khơi thông” mạnh mẽ hơn với mặt
bằng lãi suất thấp, tăng trưởng tín dụng đạt trung bình 3%-5% tháng.
+ Nới lỏng tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ giá theo xu hướng tăng USD/VND.
Tuy nhiên có thể tỷ giá cũng sẽ được chủ động điều chỉnh để phù hợp với tình
hình. Dự báo tỷ giá có thể dao động trong mức 17.000-17.500 vào cuối năm.
Biểu đồ diễn biến tình hình lạm phát từ năm 2000 đến nay - Nguồn: GSO,
BVSC.
Tham gia là thành viên của các dạng thị trường tiền tệ có 5 Ngân hàng
thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương mại
cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Qũy tín
dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công ty bảo hiểm và tái bảo
hiểm, Quỹ đầu tư... Tuy nhiên tham gia là thành viên của thị trường liên ngân
hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị trường mở... thì không
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ có các Ngân hàng Thương MạI Nhà
nước, Ngân hàng Thương mạI cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo hiểm...
Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập
trung ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung
ương. Theo đó, dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế, từ tháng 6 -2002, Ngân
hàng Nhà nước chuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trước đó.
Hàng tháng Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản, vẫn quy định lãi suất
cấp vốn với chi phí thấp hơn. Chính phủ cũng cần tạo điều kiện khuyến khích
thêm các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các dự án đầu tư công này với mục
đích thúc đẩy tổng cầu.
Đối với khối xuất nhập khẩu, trước viễn cảnh xuất khẩu sẽ gặp khó khăn,
và dự kiến tăng trưởng kim ngạch dự kiến khó vượt qua 10% trong năm 2009,
nhu cầu vốn đối với doanh nghiệp xuất khẩu sẽ giảm. Thị trường sụt giảm và
sức cầu thế giới giảm sẽ là yếu tố khó khăn đối với tăng trưởng sản xuất và nhu
cầu tín dụng đối với đối tượng này. Các doanh nghiệp nhập khẩu cũng sẽ đối
diện với tình trạng tương tự khi hơn 80% giá trị hàng hóa nhập khẩu là dành cho
sản xuất và xuất khẩu.
Xuất khẩu giảm sẽ kéo nhập khẩu giảm theo. Nhập khẩu tiêu dùng có thể
tăng song hiện chỉ chiếm hơn 10% giá trị nhập khẩu.
Đối với lĩnh vực xây dựng bất động sản, tăng trưởng tín dụng sẽ khó khăn
do 2 nguyên nhân: giải quyết vấn đề nợ xấu trong quý 4 đối với các khoản vay
bất động sản trước đây và thị trường bất động sản tiếp tục suy thoái.
Hiện nay gần như ngân hàng vẫn nói “không” với cho vay bất động sản.
Bất động sản đã từng là đối tượng tạo tăng trưởng tín dụng chủ lực của ngân
hàng trong năm 2007. Rõ ràng ngân hàng đã mất đi một nguồn tiêu thụ tín dụng
lớn. Người viết cho rằng bản thân ngành xây dựng bất động sản và cho vay bất
động sản sẽ khó có thể triển khai ít nhất đến hết quý 1/2009.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, năm 2008 là năm vô cùng khó khăn
đối với các doanh nghiệp do thắt chặt tiền tệ. Tình thế có thể sẽ thay đổi trong
thời gian tới, khi chính sách tiền tệ chuyển sang dần nới lỏng. Việc các doanh
nghiệp vừa và nhỏ được tạo điều kiện hơn trong tiếp cận nguồn vốn nhằm nâng
sức sản xuất trong nước là điều có thể được dự đoán trước.
Tiêu dùng cá nhân có thể được các ngân hàng đẩy mạnh hơn trong thời
gian tới để kích thích tiêu dùng. Đây là nhóm khá dễ trong việc thúc đẩy dư nợ
tín dụng nhất vì vấn đề lãi suất không ảnh hưởng quá nhiều đến nhu cầu vốn.
+/-2% lên +/-3% đã phần nào cho thấy xu thế tăng tỷ giá được khẳng định.
Hiện nay tỷ giá được giao dịch dao động ở mức xung quanh 17.000
VND/USD. Xu thế tăng này đến từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Kích thích xuất khẩu chống giảm phát: Lạm phát giảm và tỷ giá danh
nghĩa tăng sẽ góp phần kích thích xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh của các doanh
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Dự báo về việc xuất khẩu sẽ gặp khó khăn và nguy
cơ giảm phát kinh tế thế giới trong thời gian tới là nguyên nhân chính để chính
sách tỷ giá có những bước đi thích hợp.
+ VND đã lên giá nhiều so với các đồng tiền khác: VND neo vào USD với
một tỷ giá khá ổn định trong thời gian qua, trong khi đồng USD tăng giá mạnh
so với các đồng tiền chủ chốt khác. Điều này dẫn tới việc VND lên giá so với
các đồng tiền này, làm tăng khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam.
+ Xu thế cung cầu ngoại tệ: Nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu gặp khó khăn
và dòng vốn đầu tư nước ngoài có khả năng sụt giảm dẫn tới cung cầu ngoại tệ
đang dần nghiêng về phía cầu. Trong thời gian cuối năm nhu cầu nhập khẩu có
thể tăng trở lại.
Sau một thời gian ổn định, tỷ giá trở lại xu thế tăng với giao dịch chạm biên
giới hạn - Nguồn: SBV, Bloomberg.
Nhập siêu trong 3 tháng gần nhất vẫn ở mức dưới 1 tỷ USD nhưng doanh
thu xuất khẩu đang sụt giảm ngay trong quý 4 đang gây nên những lo ngại tiềm
ẩn về sự biến động của tỷ giá nếu không có những điều chỉnh kịp thời đón trước.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trước tình hình như vậy, người viết cho rằng tỷ giá từ nay đến cuối năm sẽ
tiếp tục tăng nhẹ, nhiều khả năng dao động xung quanh mức 17.000 - 17.500
VND/USD. Ngoài ra, cũng không nên lo ngại về sức khỏe của đồng VND.
Mặc dù nhập siêu đang có xu hướng tăng trong những tháng cuối năm do
xuất khẩu đang gặp khó khăn, song nhập khẩu có lẽ cũng sẽ không quá đột biến