M 8u ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN ÁNH NGUYỆT
THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH
QUA CHUYÊN MỤC THƢ TÂM SỰ
TRÊN BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM
(Thời gian khảo sát: Từ tháng 1/2013 đến 6/2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2015
Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Thông điệp về gia đình qua chuyên mục Thư tâm sự trên báo
Phụ nữ Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS. Mai Quỳnh Nam. Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong Luận
văn đều đảm bảo rõ nguồn, trung thực. Các kết quả nghiên cứu được công bố trong
Luận văn là hoàn toàn chính xác, không trùng lặp bất kỳ công trình khoa học đã
công bố trong và ngoài nước.
Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2015
Tác giả NGUYỄN ÁNH NGUYỆT
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Mai Quỳnh
Nam – người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí và Truyền
1.1.5 Báo in 19
1.2 Các khái niệm về gia đình và các chức năng của gia đình 19
1.2.1 Gia đình 19
1.2.2 Chức năng gia đình và xu hướng biến đổi các chức năng gia đình Việt Nam
hiện nay 20
1.2.3 Cấu trúc gia đình 21
1.2.4 Quan hệ gia đình 22
1.2.5 Giá trị và chuẩn mực 22
1.3. Vai trò của báo chí trong xây dựng gia đình 22
1.4 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 24
1.4.1 Báo chí truyền thông 24
1.4.2 Xã hội học Truyền thông đại chúng 28
1.4.3 Xã hội học gia đình 30
1.5 Thông tin cơ bản về báo, chuyên mục và mẫu nghiên cứu 31
1.5.1 Thông tin cơ bản về chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam 31
1.5.2 Thông tin cơ bản về mẫu nghiên cứu 31
Tiểu kết chƣơng 1 33
CHƢƠNG 2: TÌNH TRẠNG GIA ĐÌNH TRÊN CHUYÊN MỤC THƢ TÂM
SỰ - BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM 34
2.1 Giá trị hôn nhân 34
2.2 Các chức năng gia đình 45
2.3 Cấu trúc gia đình 58
2.4 Các mối quan hệ trong gia đình 66
2.5 Các yếu tố tác động đến gia đình 71
Tiểu kết chƣơng 2 77
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHUYÊN MỤC THƢ
TÂM SỰ - BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG TRUYỀN THÔNG XÂY
DỰNG GIA ĐÌNH 78
3.1 Phát huy hiệu quả tư vấn của chuyên mục đối với thông điệp về gia đình qua
thư độc giả 78
Biểu 3.1. Nơi cư trú của người gửi thư 84
Biểu 3.2. Phạm vi câu chuyện đề cập 85
Biểu 3.3. Nghề nghiệp của người gửi thư 86
Biểu 3.4. Giới tính của người gửi thư 87
Biểu 3.5. Tình trạng hôn nhân của người gửi thư 88
Biểu 3.6. Nội dung của tiêu đề thư tâm sự 90
Biểu 3.7: Từ ngữ tư vấn sử dụng khi trả lời thư (%) 96
Biểu 3.8: Đánh giá về phân tích, giải thích, làm rõ câu chuyện (%) 97
Biểu 3.9: Đánh giá về số lượng giải pháp cụ thể (%) 98
DANH MỤC ẢNH
Hình 2.1. Sống cùng “ một nửa ” có “ H ”. Thư tâm sự. Số 77 ra ngày 27/6/2014 37
Hình 2.2. Con trai yêu người lầm lỡ. Thư tâm sự. Số 75 ra ngày 23/6/2014 39
Hình 2.3. Khủng hoảng đầu hôn nhân. Thư tâm sự. Số 62 ra ngày 23/5/2014 40
Hình 2.4. Không hề ân hận. Thư tâm sự. Số 71 ra ngày 13/6/2014 40
Hình 2.5. Bỏ người yêu vì bố mẹ. Thư tâm sự. Số 32 ra ngày 15/3/2013 43
Hình 2.6. Chăm con quên chồng. Thư tâm sự. Số 73 ngày 18/6/2014 47
Hình 2.7. Sinh con một bề. Thư tâm sự. Số 49 ngày 24/4/2013 52
Hình 2.8. Vết cứa vào tim. Số 17 ngày 2/4/2014 54
Hình 2.9. Bỗng nhiên bị đòi con. Số 15 ngày 3/2/2014 57
1
PHẦN 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình phát triển xã hội Việt Nam trong bối cảnh của công cuộc đổi mới,
của nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đã dẫn đến những biến đổi sâu sắc ở các
thiết chế, các tổ chức xã hội, trong đó có gia đình. Một mặt, quá trình này mang đến
cho gia đình Việt Nam những giá trị mới như: sự biến đổi về bình đẳng giới, quyền
trẻ em,… Mặt khác, quá trình này cũng làm biến đổi những giá trị truyền thống tốt
đẹp của gia đình Việt Nam đã hình thành trong lịch sử như tinh thần trách nhiệm,
trên báo chí, bởi lẽ công chúng đều tiếp nhận thông tin qua các phương tiện truyền
thông đại chúng và chịu ảnh hưởng của các thông điệp đến việc hình thành nhận
thức, thái độ, hành vi của họ.
Trong lịch sử nghiên cứu truyền thông, đối với bất cứ mô hình truyền thông
nào (Lasswell, Claude Shannon, Weaver, David Berlo hay Charles Osgoog…) thì
“thông điệp” là một yếu tố quan trọng. Nguồn tin có thể lựa chọn các thông tin
khác nhau để đạt được những thông điệp mà nó mong muốn.
Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu của Xã hội học truyền thông đại chúng, theo
sơ đồ của Judith Lazar [39], nội dung nghiên cứu về thông điệp là một trong những
nội dung quan trọng. Hơn nữa, nhiệm vụ của phương pháp phân tích thông điệp báo
chí là cần thể hiện quan hệ của thông điệp với thực tế ngoài thông điệp đã sản sinh
ra thông điệp [30].
Luận văn với đề tài “Thông điệp về gia đình qua chuyên mục Thư tâm sự
trên báo Phụ nữ Việt Nam cũng tập trung vào hướng nghiên cứu này. Qua đó,
nghiên cứu mong muốn phản ánh tình trạng gia đình được đăng tải qua chuyên
mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam trong thời gian mà bản luận văn này
xác định để phân tích, từ đó mong muốn đưa ra các đề xuất để chuyên mục Thư
tâm sự cung cấp thông điệp phản ánh chân thực về tình trạng gia đình, đồng
thời đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng gia đình thành một tổ ấm để ấp ủ
và nuôi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người công dân Việt Nam
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 . Lịch sử nghiên cứu ngoài nước
Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói đầu
của Hiến chương Liên hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục (UNESCO),
năm 1946. Sau đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống
thường nhật và trong khoa học. Ngày nay truyền thông đại chúng đã trở thành đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: báo chí học, xã hội học,
nghiên cứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ. Tiêu biểu có
trường phái “Cultural studies” và lý thuyết không gian công cộng của Jurgen
Habermans.
Trong giai đoạn này, một số nhà nghiên cứu đã hướng sự quan tâm vào
nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng qua từng tác động riêng rẽ của nó.
Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả của truyền thông đại chúng
mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đó là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp.
Giai đoạn bốn, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin những năm cuối thế
kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã đem đến cho truyền thông đại chúng những khái niệm
mới “truyền thông đa phương tiện” với việc ra đời loại hình truyền thông mới là báo
điện tử, tích hợp trong nó đầy đủ những kỹ thuật của các phương tiện truyền thông
đại chúng trước đây. Và chính giai đoạn này cũng chứng minh tính đa chiều trong
tương tác giữa truyền thông đại chúng và công chúng.
Trong công trình “Viết phỏng theo quyển Lacsience de la com – munication
của Judith Lajan, Que sais, je, Paris 1992”, tác giả đã chỉ rõ trong khoảng những
năm 1930-1950 nổi lên bốn nhà nghiên cứu, ngày nay được xem là những vị sáng
lập ra truyền thông giao tiếp: Kaz-arsfeld, Lewin, Hovland, Lasswell. Các học giả
này đều hoạt động ở Mỹ. Điều đó cho thấy khoa học truyền thông giao tiếp gắn liền
với những biến đổi quan trọng về kinh tế xã hội và nhu cầu thúc đẩy cách mạng
khoa học kỹ thuật mà nước Mỹ đã có ảnh hưởng lớn trong hai cuộc đại chiến thế
giới. [52, tr.40]
Vào giai đoạn sau đó, năm 1962, trong công trình Tinh thần thời đại, Edgar
Morin đã coi văn hóa đại chúng như một phạm trù xã hội học và nhận định rằng nền
văn hóa này tạo nên một hệ thống đặc biệt ở chỗ, nó được sản sinh ra theo những
5
chuẩn mực của quy trình sản xuất công nghiệp và được các media phổ biến đến
những đám dân cư khổng lồ. Edgar Morin cũng đã có công ở việc xác định các thời
kỳ trong lịch sử hiện đại của văn hóa đại chúng.
Trong khoảng thập niên 70 - 80 “Nghiên cứu tác động của truyền thông đối
chúng gồm: công chúng truyền thông, các nhà truyền thông, ảnh hưởng xã hội thì
hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông có vị trí quan trọng, nhưng chưa có
nhiều công trình theo hướng này.
2.2. Lịch sử nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu truyền thông đại chúng ở nước ta trước hết diễn ra ở các
viện nghiên cứu báo chí – truyền thông và một số cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn.
Nhiều nghiên cứu về lịch sử báo chí – truyền thông trong nước đã được tiến
hành, tiêu biểu như những công trình của các tác giả Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo
chí Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1945; Trần Ngọc Tăng, Vai trò của Truyền
thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, 2001; Đỗ
Xuân Hà, Báo chí với thông tin quốc tế, Nxb ĐHQG Hà Nội, 1997; Hội Nhà Báo
Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí Cách Mạng, Nxb CTQG, 2004; Lê
Thanh Bình, Quản lý và Phát triển Báo chí-Xuất bản, Nxb CTQG, 2004…
Một số giáo trình cung cấp các tri thức về lý luận báo chí như Cơ sở lý luận
báo chí – Đặc tính và phong cách (Hà Minh Đức), Cơ sở lý luận báo chí truyền
thông (Đinh Hường – Dương Xuân Sơn – Trần Quang), Truyền thông đại chúng
(Tạ Ngọc Tấn), nhóm sách về thể loại báo chí như Thể loại báo chí thông tấn (Đinh
Hường), Thể loại báo chí chính luận nghệ thuật (Dương Xuân Sơn), Thể loại báo
chí chính luận (Trần Quang), Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn (Khoa Báo
chí – ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn)…
Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí - truyền thông của nhóm tác giả Đinh
Hường – Dương Xuân Sơn – Trần Quang được biên soạn in lần đầu năm 1991, năm
1995 được Nxb Văn hóa – Thông tin cho ra mắt bạn đọc. Nội dung của giáo trình
đề cập đến những vấn đề có tính phương pháp luận, các khái niệm, phạm trù, đặc
trưng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của lao động báo chí, làm
7
cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí –
truyền thông.
Ở Việt Nam, nghiên cứu dưới góc độ Xã hội học Truyền thông đại chúng là
hướng nghiên cứu đã được sự quan tâm của giới chuyên môn.
Thời gian đầu, nghiên cứu Xã hội học Truyền thông đại chúng chủ yếu tập
trung vào nghiên cứu truyền thông đại chúng trong hoạt động truyền thông nói
chung về một chủ đề nào đó, chẳng hạn nghiên cứu truyền thông về dân số, 1993,
nghiên cứu truyền thông phòng chống AIDS, 1996… Giai đoạn sau này, nghiên cứu
xã hội học truyền thông đại chúng ở Việt Nam mới tập trung đi vào hướng nghiên
cứu về lý luận và thực nghiệm, trong nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu nghiên cứu
về công chúng, về nội dung thông điệp, hiệu quả của truyền thông.
Những đóng góp về cơ sở lý luận cho những nghiên cứu xã hội học truyền
thông đại chúng ở Việt Nam, có thể kể đến những bài viết của Mai Quỳnh Nam
như: “Truyền thông đại chúng và Dư luận xã hội”, Tạp chí Xã hội học số 1, 1996;
“Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình”, Tạp chí Xã hội học số 4, 2000; “Đặc
điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng”, Tạp chí Xã hội học số 2, năm 2000…
Những bài viết trên tập trung vào các vấn đề cơ bản của truyền thông đại chúng,
những quan điểm, lý thuyết của các nhà xã hội học trên thế giới về truyền thông đại
chúng, đồng thời chỉ ra các hướng nghiên cứu cơ bản của Xã hội học truyền thông đại
chúng ở Việt Nam.
Cùng với những nghiên cứu của Mai Quỳnh Nam, Trần Hữu Quang đã có
đóng góp quan trọng về xã hội học truyền thông đại chúng bằng công trình “Xã hội
học báo chí”, năm 2006. Trong tác phẩm này, tác giả tập trung làm rõ những khái
niệm cơ bản của truyền thông đại chúng và đưa ra những đặc điểm về hoạt động của
tòa soạn, của nghề làm báo, những đặc trưng nghề nghiệp riêng của nhóm phóng
viên, nhà báo ở nước ngoài và Việt Nam. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đi sâu vào
những hướng nghiên cứu cơ bản của xã hội học truyền thông đại chúng: xã hội học
về công chúng, xã hội học về nội dung truyền thông. Hơn hết, ấn phẩm đã phác họa
được một số lý thuyết tiếp cận trong xã hội học truyền thông đại chúng làm cơ sở
cho những nghiên cứu truyền thông đại chúng sau này.
Có thể thấy, những nghiên cứu Xã hội học truyền thông đại chúng ở Việt
Nam bước đầu được dựa trên sự kế thừa những thành tựu có được từ các nghiên cứu
trẻ em được thông báo trong tháng 10 năm 1999 về 10 tờ báo in và trên 2 đài truyền
hình. Tác giả bài viết chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu: nội dung thông điệp về cả: số
10
lượng tờ báo có bài liên quan đến trẻ em, về vị trí, về thể loại, về trang mục; cách
đưa tin về các vấn đề liên quan đến trẻ em trên truyền hình và báo in; vấn đề trẻ em
trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên báo hình, báo in.
Ngoài các công trình nghiên cứu, các bài viết, còn có những khóa luận sinh
viên, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về truyền thông đại chúng với nội
dung nghiên cứu là thông điệp truyền thông:
Khóa luận Báo chí học của Vũ Thị Thu Hà về “ Xây dựng thông điệp quảng
cáo sữa trên truyền hình (khảo sát từ năm 2005 đến nay) ”, “ Thông điệp về trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên Báo chí ” của Đinh Thị Thu Trang, Nguyễn
Thương Huyền với đề tài “ Vấn đề giới trong các thông điệp quảng cáo ở Việt Nam ”…
Luận văn thạc sĩ Xã hội học của học viên Nguyễn Lan Hương, năm 1995 về
“Các dạng mâu thuẫn gia đình và hậu quả của sự ly hôn tìm hiểu được qua mục
Tâm tình với chị Thanh Tâm trên báo Phụ nữ Việt Nam”. Qua việc phân tích các
bức thư gửi đến mục Tâm tình với chị Thanh Tâm trên báo Phụ nữ Việt Nam, tác
giả đã có được kết luận về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng được đăng tải
trên mục này bao gồm: do kinh tế, do không chung thủy, quan điểm sống, mâu
thuẫn gia đình, vô sinh và không có con trai. Cũng qua việc phân tích này, tác giả
luận văn chỉ ra những hậu quả của sự ly hôn đến chính bản thân người ly hôn và con
cái là như nhau.
Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm của xã hội học truyền thông đại
chúng ở nước ta đã hướng đến sự gắn kết với các lĩnh vực của đời sống xã hội ở
Việt Nam được thể hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, đa
phần những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng về vấn đề
xã hội qua thông điệp được đưa trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mà
chưa chỉ ra được tính tiêu cực của truyền thông đại chúng đối với nhận thức của
công chúng.
Làm rõ một số khái niệm và lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu này.
Phân tích tình trạng gia đình được thể hiện trong nội dung thông điệp qua
chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam.
Đưa ra các đề xuất với báo Phụ nữ Việt Nam, nhằm tăng cường hiệu quả
xã hội của chuyên mục này, hướng đến việc xây dựng gia đình bền vững.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề gia đình qua chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam.
12
4.2 Khách thể nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về nội dung thông điệp gia đình được đăng tải
qua chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam. Vì vậy, khách thể nghiên
cứu của luận văn là thông điệp về gia đình trên chuyên mục này.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ Việt Nam từ tháng 1
năm 2013 đến tháng 6 năm 2014.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
5.1.1. Lý luận Mác xít, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng
Hồ Chí Minh về báo chí truyền thông.
Lý luận về hình thái ý thức của chủ nghĩa Mác chỉ rõ báo chí có vai trò quan
trọng tạo nên trạng thái tinh thần của đời sống xã hội thông qua sự tác động của hệ
thống này đối với quần chúng. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác viết: “Lý
luận có thể trở thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Tư
tưởng này của Mác được thể hiện trong các công trình kinh điển như Hệ tư tưởng
Đức; Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước; Dư luận xã hội
ở Anh; Phê phán cương lĩnh Gôta. Nền tảng tư tưởng đó được coi là cơ sở lý luận
dựa trên nguyên lý Mác xít để phân tích vai trò tổ chức quần chúng của báo chí, nhằm
thực hiện các định hướng xã hội.
nhau, tương tác và đan xen vào nhau. Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành
vi khởi phát quá trình truyền thông trước”. [3, tr.16]
Hướng tiếp cận lý luận báo chí truyền thông có ưu điểm nổi bật ở chỗ, cho
thấy các thông điệp báo chí được sản xuất như thế nào, hình thành ra sao, các tác
động xã hội đối với các thông điệp, những vấn đề này bao gồm cả mặt tích cực và
tiêu cực. Điển hình cho tính hai mặt của vấn đề này là hiện tượng thương mại hóa
trong hoạt động báo chí hiện nay cả từ phía tòa soạn lẫn nhà báo. Vì vậy sẽ có ảnh
hưởng không nhỏ đến nội dung thông điệp được truyền tải đến công chúng.
5.1.3. Lý luận Xã hội học Truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng được nghiên cứu dưới góc độ Xã hội học như một
quá trình xã hội. Trong đó, quá trình xã hội diễn ra với những tác động của truyền
14
thông đại chúng bằng sự liên kết các yếu tố: nguồn tin, thông điệp và người nhận.
Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Xã hội học truyền thông đại chúng đề xuất hướng nghiên cứu hiệu quả xã hội của
truyền thông đại chúng và xem xét truyền thông đại chúng như một thiết chế xã hội. Thiết
chế xã hội truyền thông đại chúng đảm nhiệm chức năng cơ bản là sản xuất, phân phối
thông tin cho những nhóm xã hội lớn thông qua các phương tiện kỹ thuật với vai trò là
những kênh truyền.
5.1.4. Lý luận xã hội học gia đình.
Xã hội học quan niệm gia đình như một thiết chế xã hội để thực hiện một hệ
thống chức năng trong cấu trúc xã hội tổng thể. Thiết chế gia đình là một hệ thống
nhỏ trong hệ thống lớn xã hội nên, một mặt nó được coi là “tế bào” của cấu trúc xã
hội tổng thể, mặt khác nó cũng chịu những tác động xã hội từ cấu trúc xã hội tổng
thể. Trong đó có hệ thống truyền thông đại chúng. Luận đề này cho thấy tính độc
lập tương đối của thiết chế gia đình cũng như tính phụ thuộc của gia đình vào các hệ
thống xã hội khác trong đó có hệ thống truyền thông đại chúng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu sử dụng các tài liệu có sẵn đã được nghiên cứu trước đó về báo
Phương pháp nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu 4 trường hợp:
- 01 Người phụ trách chuyên mục Thư tâm sự của báo Phụ nữ Việt Nam.
- 02 Cán bộ nghiên cứu về Phụ nữ.
- 01 Cán bộ nghiên cứu về Giới và Gia đình.
5.2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thông điệp về gia đình qua chuyên mục Thư tâm sự trên báo Phụ nữ
Việt Nam hiện nay như thế nào?
Thông điệp về gia đình biểu hiện như thế nào ở các khía cạnh cụ thể
như : thông điệp về giá trị hôn nhân – gia đình; thông điệp về các
chức năng gia đình; thông điệp về cấu trúc gia đình… ?
Các tác động xã hội đến tình trạng gia đình hiện nay được thể hiện ra
sao qua chuyên mục Thư tâm sự ?
Các giải pháp nhằm phát huy vai trò của chuyên mục Thư tâm sự -
Báo Phụ nữ Việt Nam góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình
bền vững, no ấm, tiến bộ, hạnh phúc như thế nào ?
16
5.2.2. Khung phân tích
(Nguồn : Luận văn sử dụng khung phân tích phỏng theo mô hình truyền thông hai
chiều của Claude Shannon nhưng có bổ sung thêm phần nghiên cứu về hiệu quả
gia đình bền
vững)
Phản hồi
-Báo chí học
-XHH TTĐC
- XHHGĐ