SKKN xây dựng hệ thống bài tập hoá học để củng cố và phát triển kiến thức cho học sinh lớp 10 - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở thời đại ngày nay giáo dục đứng trước một thực trạng là thời gian
học có hạn nhưng khối lượng kiến thức nhân loại phát triển rất nhanh, từ đó
một vấn đề hết sức quan trọng là : làm thế nào để học sinh có thể tiếp nhận
đầy đủ khối lượng tri thức ngày càng tăng của nhân loại trong khi quỹ thời
gian dành cho dạy và học không thay đổi. Để giải quyết vấn đề này thì nền
giáo dục phải có biến đổi sâu sắc cả mục đích, nội dung và phương pháp dạy
học. Trong đó quan trọng hơn là phải đổi mới phương pháp dạy và học.
Định hướng công cuộc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là
chuyển đổi từ cách dạy “thầy truyền thụ, trò tiếp thu” sang việc thầy tổ chức
các hoạt động dạy học để trò tự dành lấy kiến thức, tự xây dựng kiến thức cho
mình, bồi dưỡng năng lực tự học.
Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã xác định : “Phải
khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để
bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục điều 24.2 :
“phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Thực trạng hiện nay ở các trường trung học phổ thông nói chung thì đa
số giáo viên còn nặng về việc thuyết trình, chỉ chú trọng vào việc hoàn thành
bài giảng, phương pháp dạy học theo kiểu “truyền thụ một chiều” mà chưa
chú ý đến việc phát huy nội lực của người học, học sinh chỉ có một nhiệm vụ
là tiếp thu một cách thụ động kiến thức do người thầy truyền cho.
Là một giáo viên môn Hoá ở trường trung học phổ thông qua nhiều
năm công tác, bản thân tôi nhận thấy trong quá trình học tập học sinh tỏ ra rất
hứng thú và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người khám phá
ra. Còn như bắt các em phải ghi nhớ kiến thức một cách thụ động như trên thì
gây nên tâm lí ỷ lại, kiến thức dồn nén không được vận dụng đẫn đến tình

* Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học hoá học.
* Lý luận về bài tập hoá học, hệ thống bài tập hoá học lớp 10 trung học
phổ thông, các phương pháp giải và vai trò của các bài tập trong hoạt động
nhận thức.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Nghiên cứu lí luận :
- Nghiên cứu các văn bản và chỉ thị của Đảng, nhà nước và bộ Giáo
dục- Đào tạo có liên qua đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu liên quan về lí luận dạy học, tâm lí dạy học, giáo
dục học và sách giáo khoa, tài liệu tham khảo phục vụ đề tài. Đặc biệt chú
trọng đến cơ sở lí luận của bài tập hoá học và ý nghĩa, tác dụng của loại bài
tập hoá học củng cố và phát triển kiến thức đối với hoạt động dạy học.
* Điều tra cơ bản :
- Điều tra tổng hợp ý kiến các nhà nghiên cứu giáo dục, các giáo viên
đang trực tiếp giảng dạy ở trường trung học phổ thông về thực trạng của việc
sử dụng bài tập hoá học trong giảng dạy hoá học nói chung.
- Thăm dò lấy ý kiến của giáo viên về giải pháp xây dựng hệ thống bài
tập hoá học để củng cố và phát triển kiến thức và sử dụng nó vào quá trình tổ
chức hoạt động dạy học.
* Thực nghiệm sư phạm :
- Đánh giá chất lượng của hệ thống bài tập đã xây dựng.
- Đánh giá hiệu quả đem lại từ việc sử dụng bài tập hoá học củng cố và
phát triển kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập hoá học theo hướng củng cố và
phát triển kiến thức thì sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
học sinh, gây hứng thú học tập cho học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả của việc
dạy và học môn hoá học.
7. CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Bên cạnh việc sử dụng bài tập để kiểm tra, tái hiện lại kiến thức thì tác

1.1.1.2. Diễn biến của quá trình nhận thức
Cũng theo Lênin : “Trực quan sinh động, tư duy trừu tượng và thực tiễn
là 3 yếu tố của cùng một quá trình thống nhất”. Do đó, quá trình nhận thức có
thể được xem như 3 giai đoạn :
- Giai đoạn nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) : là giai đoạn
nhận thức trực tiếp các sự vật, hiện tượng ở mức độ thấp, chưa đi vào bản
chất. Giai đoạn này có các mức độ : cảm giác và biểu tượng.
- Giai đoạn tư duy trừu tượng : là giai đoạn cao của quá trình nhận thức
(lí tính). Dựa vào những tài liệu cảm tinh ý phong phú đã có ở giai đoạn đầu
và trên cơ sở của thực tiễn được lặp đi lặp lại nhiều lần, nhận thức chuyển lên
một giai đoạn cao. Khi đó trong đầu óc con người nảy sinh ra một loạt các
hoạt động tư duy như : phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái
quát hoá, tạo ra khái niệm rồi vận dụng khái niệm để phán đoán, suy lý thành
hệ thống lý luận.
- Thực tiễn, theo Lênin : “Thực tiễn là cơ sở nhận thức. Vì nó không
những có ưu điểm là phổ biến mà còn có ưu điểm thể hiện trực tiếp”. Mặt
khác, thực tiễn còn là tiêu chuẩn để xác định chân lý. Tất cả những hiểu biết
của con người được khảo nghiệm trở lại trong thực tiễn mới trở nên sâu sắc và
vững chãi được. Thông qua hoạt động thực tiễn thì trình độ nhận thức của con
người ngày càng phong phú và trở thành hệ thống lý luận.
1.1.2. Năng lực nhận thức và những nhiệm vụ phát triển năng lực nhận
thức của học sinh qua bộ môn hoá học
1.1.2.1. Năng lực nhận thức
Năng lực nhận thức được đánh giá qua việc thực hiện các thao tác tư
duy : phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá. Được chia ra thành bốn
trình độ nắm vững kiến thức, kĩ năng và bốn cấp độ năng lực tư duy.
Bốn trình độ nắm vững kiến thức kĩ năng : Bậc một là trình độ tìm hiểu hay ghi
nhớ sự kiện, học sinh nhận biết xác định, phân biệt những kiến thức cần tìm.
Bậc hai là trình độ tái hiện tức là tái hiện lại thông báo theo trí nhớ. Bậc ba là
trình độ vận dụng tức là vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống

từng hoạt động của quá trình dạy học hoá học.
Rèn luyện toàn diện trong từng giai đoạn phát triển các kĩ năng khái quát
trí tuệ và thực nghiệm hoá học : Hoạt động nhận thức hoá học bao gồm
nhiều hoạt động học tập để nắm vững kiến thức hoá học. Ví dụ như tiến hành
thí nghiệm hoá học, phân tích tổng hợp các chất, mô tả bằng kí hiệu và biểu
đồ, sử dụng khả năng dự đoán của hệ thống tuần hoàn, giải bài tập hoá học
Kĩ năng là kết quả của sự nắm vững kiến thức. Thực nghiệm hoá học là
biện pháp quan trọng để tiếp thu hoá học một cách hiệu quả cùng với các kĩ
năng trí tuệ như : các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, suy diễn, qui nạp
loại suy các kĩ năng này được hình thành trong quá trình dạy học hoá học,
được phát triển và khái quát ở dạng chung nhất và dễ dàng được chuyển thành
năng lực học tập. Sự rèn luyện toàn diện, từng giai đoạn các kĩ năng khái quát
trí tuệ và thực nghiệm hoá học là nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển học
sinh.
Tích cực hoá tất cả các dạng hoạt động nhận thức của học sinh : trong
quá trình dạy học hoá học học sinh cần phát triển cả hoạt động nhận thức tái
hiện, sao chép và hoạt động tích cực, chủ động bằng sự kết hợp hợp lý
phương tiện và phương pháp dạy học. Sự kết hợp hai yếu tố này giúp người
giáo viên tích cực hoá được các dạng nhận thức hoá học cho học sinh từ đơn
giản đến phức tạp. Thực tế đã xác nhận rằng sự dạy học hoá học tiến hành
theo phương pháp dạy học nêu vấn đề sẽ làm tăng tính tích cực nhận thức của
học sinh vì trong các bước đi của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic, học sinh tích
cực bắt tay vào hoạt động độc lập tìm kiếm kiến thức một cách sáng tạo.
Thường xuyên phát triển hứng thú nhận thức của học sinh : Trong lí luận
dạy học chỉ ra rằng hứng thú nhận thức là nguyên nhân - động cơ đầu tiên của
hoạt động nhận thức trong học sinh. Lí thuyết về giáo dục học và cả các
nghiên cứu về phương pháp dạy học chỉ ra rằng nếu không phát triển hứng
thú của học sinh với hoá học thì năng lực nhận thức của học sinh sẽ giảm đột
ngột, đặc biệt là ở học kì một lớp 10, khi nghiên cứu hoá học hoàn toàn bằng
kiến thức lí thuyết trừu tượng. Giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục

bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi, mà trong khi
hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định hoặc
hoàn thiện chúng. Câu hỏi đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học
sinh phải tiến hành một hoạt động tái hiện bất luận trả lời miệng, trả lời viết
hay kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm. Bài toán đó là bài
làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành một hoạt động sáng tạo,
bất luận hình thức hoàn thành bài toán là trả lời miệng hay viết, thực hành, thí
nghiệm, bất cứ bài toán nào cũng xếp vào hai nhóm bài toán định lượng (có
tính toán) và bài toán định tính.
Ở nước ta theo cách dùng tên sách hiện nay : “bài tập hoá học 10”, “bài
tập hoá học 11”, v.v thì thuật ngữ bài tập có sự tương đồng với quan niệm
trên.
Tóm lại : Bài tập hoá học là khái niệm bao hàm tất cả, giải bài tập hoá học
học sinh không chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức cũ mà cả tìm kiếm kiến
thức mới và vận dụng kiến thức cũ trong những tình huống mới.
1.2.2. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học ở trường phổ thông [9]
Trong quá trình dạy-học hoá học ở trường phổ thông, không thể thiếu
bài tập. Bài tập hoá học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất
lượng dạy - học, nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào
tạo : Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học
hiệu nghiệm. Nó cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến
thức và cả hứng thú say mê nhận thức.
Bài tập hoá học có những ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt :
1.2.2.1. Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học. Củng cố, đào sâu và mở
rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng
được kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức
một cách sâu sắc.
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Khi ôn tập học
sinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức.

Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tư
tưởng đạo đức. Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình
phát sinh những tư tưởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to
lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới. Thông qua việc giải
các bài tập, còn rèn luyện cho học sinh phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên
trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứng
thú bộ môn hoá học nói riêng và học tập nói chung.
1.2.2. 4. Ý nghĩa đánh giá phân loại học sinh
Bài tập hoá học còn là phương tiện rất có hiệu quả để kiểm tra kiến
thức, kĩ năng của học sinh một cách chính xác. Trong quá trình dạy học, khâu
kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá việc nắm vững tri thức, kĩ năng kỹ
xảo của học sinh có một ý nghĩa quan trọng. Một trong những biện pháp để
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình đó là làm bài tập. Thông qua việc
giải bài tập của học sinh, giáo viên còn biết được kết quả giảng dạy của mình,
từ đó có phương pháp điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy của mình cũng
như hoạt động học của học sinh.
1.3. SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC NHƯ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP
Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài
tập. Khi dạy học bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có
vấn đề, để chuyển tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố Khi ôn tập
củng cố và kiểm ta đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài tập.
Để phát triển kĩ năng và tính sáng tạo của học sinh, nâng cao tính tích
cực độc lập trong việc nắm vững kiến thức hoá học được thực hiện qua các
dạng bài tập nhận thức sau :
Bài tập mô tả : Bản chất là sự mô tả các đối tượng và hiện tượng nghiên cứu.
Để giải dạng bài tập này trong giảng dạy cần rèn luyện các kĩ năng và phương
pháp quan sát, đo đạc thực nghiệm hoá học. Dạng bài tập này có đặc điểm học
sinh phải có thao tác hoạt động thực với các chất, đối tượng thực nghiệm. Kết
quả của sự quan sát thực thí nghiệm hoặc đo đạc luôn trùng với sự mô tả bằng

từ đó mà thu thập được phương pháp nhận ra vấn đề mới trong các tình huống
quen thuộc hoặc thấy được chức năng mới của đối tượng quen thuộc. Ví dụ:
Viết phương trình phản ứng điều chế khí NO từ các hoá chất sau : Cu, dung dịch
NaHSO
4
, dung dịch NaNO
3
? Thông thường học sinh sẽ nghĩ đến phản ứng giữa
Cu với HNO
3
loãng. Sau khi giải xong bài tập học sinh sẽ rút ra tính oxi hoá của
ion NO
3
-
trong môi trương axit cũng tương tự như HNO
3
loãng.
1.3.1 Sử dụng bài tập hoá học để củng cố kiến thức
Bài tập hoá học là một hình thức củng cố, ôn tập hệ thống hoá kiến
thức một cách sinh động và hiệu quả. Khi giải bài tập hoá học, học sinh phải
nhớ lại kiến thức đã học, phải đào sâu một khía cạnh nào đó của kiến thức
hoặc phải tổ hợp, huy động kiến thức để có thể giải quyết được bài tập. Tất cả
thao tác tư duy đó đã góp phần củng cố, khắc sâu mở rộng kiến thức cho học
sinh.
1.3.2 Sử dụng bài tập hoá học để hình thành các khái niệm hoá học cơ
bản (cung cấp, truyền thụ kiến thức)
Ngoài việc dùng bài tập hoá học để củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ
năng hoá học cho học sinh người giáo viên có thể dùng bài tập để tổ chức,
điều khiển quá trình nhận thức của học sinh hình thành khái niệm mới. Trong
bài dạy hình thành khái niệm học sinh phải tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới mà

a/ Cho nhận xét về số electron, số proton, số nơtron trong các nguyên
tử mỗi loại nguyên tố trên ?
b/ Từ kết quả của câu A/ hãy cho biết thế nào được gọi là hiện tượng
đồng vị ?
Kết luận rút ra : Khi giải bài tập trên với sự chỉnh lí, bổ sung của giáo viên và
nhiều học sinh khác bản thân các em đã tham gia tích cực, chủ động vào quá
trình hình thành khái niệm.
Với các khái niệm khác như hoá trị, số oxi hoá, phản ứng oxi hoá khử,
liên kết hoá học, ta cũng có thể lựa chọn, xây dựng các bài tập phù hợp đưa
vào tiết học để tổ chức, điều khiển hoạt động học tập tích cực của học sinh.
1.3.3. Sử dụng bài tập hoá học để phát triển kiến thức lý thuyết khi
nghiên cứu tài liệu mới
Bài tập hoá học được sử dụng là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi
trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến
thức một cách sâu sắc và vững chắc. Việc nghiên cứu một kiến thức mới thường
bắt đầu bằng việc nêu vấn đề. Mỗi vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu mới
cũng là một bài tập đối với học sinh. Để làm một vấn đề trở nên mới và hấp dẫn
và xây dựng vấn đề nghiên cứu còn có thể dùng cách giải các bài tập. Việc xây
dựng các vấn đề dạy học bằng bài tập không những sẽ kích thích được hứng thú
cao của học sinh đối với kiến thức mới sắp được học, mà còn tạo ra khả năng
củng cố kiến thức đã có và xây dựng được mối liên qua giữa các kiến thức cũ và
mới. Ví dụ, khi nghiên cứu số oxi hoá của lưu huỳnh ta yêu cầu học làm bài tập
sau:
Đề bài : Xác định số oxi hoá của nguyên tố lưu huỳnh trong các hợp chất H
2
S,
SO
2
, H
2

thực hành, từ đó có tác dụng giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho
học sinh. Ví dụ, khi nghiên cứu về chương halogen ta dùng bài tập :
Đề bài : Tự chọn một hoá chất cho quá trình sau :
a/ Loại bỏ khí clo làm ô nhiễm không khí trong phòng thí nghiệm.
b/ Loại bỏ brom lỏng chẳng may bị làm đổ trong phòng thí nghiệm.
Vì những tính chất nào mà trong chiến tranh thế giới thứ nhất người ta
đã dùng clo để chế tạo vũ khí hoá học ?
Kết luận rút ra : Kĩ năng làm việc với hoá chất độc hại, hình thành ý thức bảo
vệ môi trường, xử lý sự cố môi trường.
1.4. ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG GIẢNG DẠY HOÁ HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.1.1. Mục đích điều tra
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc học tập môn hoá học hiện nay ở
các trường trung học phổ thông thuộc địa bàn huyện tỉnh Hà Tĩnh, coi đó là
căn cứ để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển của đề tài.
- Thông qua quá trình điều tra đi sâu phân tích các dạng bài tập mà hiện
tại giáo viên thường ra cho đối tượng lớp 10, hiệu quả của việc sử dụng bài
tập hoá học đem lại (ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân).
- Nắm được mức độ ghi nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh,
xem đây là một cơ sở định hướng nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy - học
hiện nay.
1.1.2. Nội dung - Phương pháp - Đối tượng - Địa bàn điều tra
* Nội dung điều tra :
- Điều tra tổng quát về tình hình sử dụng bài tập hoá học ở trường trung
học phổ thông hiện nay.
- Lấy ý kiến của các giáo viên, chuyên viên về các phương án sử dụng
bài tập trong các tiết học bộ môn hoá học.
- Điều tra về tình trạng cơ sở vật chất ở trường trung học phổ thông
hiện nay : dụng cụ, hoá chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm và các phương tiện
dạy học khác.

- Một số lớn giáo viên trong tiết học chỉ chú trọng vào truyền thụ kiến
thức mà xem nhẹ vai trò của bài tập.
- Một số giáo viên còn lại có sử dụng bài tập trong tiết học nhưng chỉ
sử dụng để kiểm tra miệng, và cuối tiết học để hệ thống lại bài học.
- Một số ít giáo viên sử dụng bài tập như là nguồn kiến thức để học
sinh củng cố, tìm tòi, phát triển kiến thức cho riêng mình.
- Khi được hỏi ý kiến về việc xây dựng một hệ thống bài tập môn hoá
học củng cố và phát triển kiến thức đễ hỗ trợ cho quá trình tổ chức hoạt động
dạy học thì toàn bộ giáo viên đều nhất trí đây là một giải pháp hay và có tính
khả thi trong việc nâng cao hiệu quả dạy học ở trường trung học phổ thông hiện
nay.
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC LỚP 10 THPT
THEO HƯỚNGCỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CHO HỌC SINH
2.1. NỘI DUNG CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC LỚP 10 (CHƯƠNG TRÌNH
CHUẨN) [9] [27] [28]
- Chương trình môn hoá học lớp 10 (chương trình chuẩn) thực hiện
trong 70 tiết, gồm 38 tiết lí thuyết (54%), 15 tiết luyện tập (21%), 5 tiết ôn tập
(7,5%), 6 tiết thực hành (8,5%) và 6 tiết kiểm tra (8,5%).
- Chương trình gồm bảy chương :
Chương 1 - Nguyên tử : Thành phần nguyên tử; hạt nhân nguyên tử -
Nguyên tố hoá học - Đồng vị; Cấu tạo vỏ nguyên tử; cấu hình electron của
nguyên tử.
Chương 2 - Bảng hệ thống tuần hoàn và định luật tuần hoàn các
nguyên tố hoá học : Bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học; sự biến
đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố hoá học; sự biến
đổi tuần hoàn tính chất của các nguyên tố hoá học. Định luật tuần hoàn; ý
nghĩa của bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học.
Chương 3 - Liên kết hoá học : Liên kết ion - tinh thể ion; liên kết cộng
hoá trị; tinh thể nguyên tử và tinh thể phân tử; hoá trị và số oxi hoá.

củng cố mở rộng kiến thức đã học, phải đẩm bảo phát huy được tính tích cực
chủ động trong quá trình dạy học.
- Hệ thống bài tập thiết kế phải giúp phát triển các thao tác tư duy và rèn
luyện các kĩ năng thực hành thí nghiệm.
- Nội dung bài tập phù hợp với các đối tượng học sinh, thời gian học tập
ở lớp và ở nhà.
- Thiết kế các bài tập hoá học theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp. Song nội dung hệ thống các bài tập phải phản ánh được toàn bộ
chương trình đã học, giúp học sinh củng cố, ôn tập các khái niệm, tính chất
của các chất, các định luật cơ bản
2.2.2. Nguyên tắc xây dựng các bài tập củng cố và phát triển kiến thức
Bài tập hoá học để củng cố và phát triển kiến thức là một bộ phận trong
hệ thống bài tập hoá học nói chung, nên trước hết phải căn cứ vào các nguyên
tắc chung của việc xây dựng bài tập mới. Điểm khác biệt ở đây là các bài tập
không chỉ đơn thuần là đòi hỏi tái hiện kiến thức cũ, ở đây học sinh vừa phải
tái hiện kiến thức cũ vừa phải vận dụng nó để giải quyết một tình huống mới
chưa quen biết hay có thể là một tình huống đã gặp, nhưng trong một hoàn
cảnh mới, có nghĩa là khi học sinh giải được xong một bài tập loại này thì học
sinh không chỉ nhớ mà phải hiểu các kiến thức đã học và tự rút ra (hay lĩnh
hội) được những kiến thức mới mà tại thời điểm khi làm bài tập các em chưa
biết.
Loại bài tập chỉ đơn thuần là tái hiện kiến thức như : “Hãy nêu định
nghĩa phản ứng oxi hoá-khử, cho ví dụ minh hoạ ?” hay “Hãy nêu các tính
chất hoá học chung của axit ?” v .v
Loại bài tập củng cố và phát triển kiến thức thường có dạng như “ ,
hãy giải thích hiện tượng ” hoặc “Vì sao ” hoặc “Từ hãy rút ra nhận xét
(hay cho kết luận) về ” v.v Ta có thể hình dung theo sơ đồ sau :
2.3. HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC ĐỂ CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC
HOÁ HỌC LỚP 10
2.3.1. Chương 1 : Nguyên tử

chương
Loại bài tập số 1 : Sử dụng khi dạy bài “Thành phần nguyên tử”.
Đề bài 1 : Trình bày ngắn gọn thí nghiệm của Rơ dơ pho thực hiện năm 1911
và các kết luận rút ra từ kết quả của thí nghiệm ?
Hướng dẫn : Rơ dơ pho và các cộng sự dùng chùm hạt
α
do chất phóng xạ
Ra đựng trong hộp chì phóng qua khe hẹp bắn vào lá vàng mỏng, xung quanh
là màn huỳnh quang.
Kết quả : Hầu hết các hạt
α
xuyên qua lá vàng mỏng, một số ít hạt
α
bị lệch
khỏi đường thẳng, rất ít hạt
α
bị bật trở lại.
Kết luận : Nguyên tử cấu tạo rỗng, các e chuyển động xung quanh hạt nhân
tích điện dương nằm ở tâm của nguyên tử và có kích thước rất nhỏ bé so với
nguyên tử.
Kiến thức cũ được tái hiện : Đặc điểm của các loại hạt electron, proton, hạt
α
và sự tương tác tĩnh điện giữa chúng.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Rút ra được các kết luận về cấu tạo của nguyên tử.
Đề bài 2 : Nêu theo thứ tự thời gian những mô hình cấu tạo nguyên tử đã
được các nhà khoa học đề ra bắt đầu từ mô hình Bo, phát biểu rất ngắn gọn
bản chất của mỗi mô hình đó ?
Hướng dẫn :
Mô hình của Bo : Trong nguyên tử các electron chuyển động xung quanh hạt
nhân trên những quỹ đạo xác định hình tròn hay bầu dục tương tự như hành

123
10.66,1
)(10.023,6.12
)/(12


=
Kiến thức cũ được tái hiện : Các loại đơn vị khối lượng nguyên tử đã dùng
trong lịch sử, ý nghĩa của từng loại đơn vị.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Khối lượng nguyên tử chỉ là một đại lượng tương
đối, đại lượng này cho biết khối lượng nguyên tử đang xét lớn gấp bao nhiêu
lần khối lượng nguyên tử của một nguyên tố khác được thừa nhận làm đơn vị.
Biết cách tính được khối lượng thực của nguyên tử từ khối lượng tương đối.
Đề bài 4 : Cho các nguyên tử cùng với các số hạt electron, proton, nơton
tương ứng là : N : 7e; 7p; 7n; C : 6e; 6p; 6n. Hãy tính tỉ số khối lượng của hạt
nhân so với nguyên tử, tỉ số khối lượng của vỏ nguyên tử so với nguyên tử, từ
đó rút ra nhận xét ?
Hướng dẫn : Cả nguyên tử Nitơ cũng như nguyên tử cacbon ta đều có :
= = 0,999727.
Kiến thức cũ được tái hiện : Cách tính khối lượng tương đối của nguyên tử,
kích thước hạt nhân, kích thước nguyên tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Tuy kích thước của hạt nhân rất bé so với
nguyên tử nhưng có thể xem khối lượng nguyên tử bằng khối lượng của hạt
nhân bỏ qua khối lượng của vỏ nguyên tử. Nếu biết số khối thì có thể từ đó
suy ra được nguyên tử khối, khối lượng mol nguyên tử.
m
hạt nhân
m
nguyên tử
6748,16726,110.1095,9


π
= 0,1174.10
18
Kg/m
3
= 117,4 triệu tấn/m
3
.
Kiến thức cũ được tái hiện : Các biểu thức tính thể tích của hình cầu (xem hạt
nhân như là một khối cầu), biểu thức tính khối lượng riêng, qui đổi u (hay
đvC) ra Kg.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Hạt nhân có khối lượng riêng là rất lớn. Trong
biểu thức tính khối lượng riêng của hạt nhân không xuất hiện đại lượng A nên
khối lượng riêng hạt nhân không phụ thuộc vào số khối hay nói đúng hơn tất
cả hạt nhân đều có cùng giá trị khối lượng riêng.
Loại bài tập số 2 : Sử dụng khi nghiên cứu bài “Hạt nhân nguyên tử - Nguyên
tố hoá học - Đồng vị”.
Đề bài 1 : Dựa vào bảng hệ thống tuần hoàn tìm giá trị lớn nhất, bé nhất của tỉ
lệ
Z
N
cho các đồng vị bền của 82 nguyên tố đầu, từ đó rút ra kết luận ?
Hướng dẫn : Với các đồng vị bền của 82 nguyên tố đầu trong bảng hệ thống
tuần hoàn thì
207
82
Pb có tỉ lệ
Z
N


5,3
a
.
Đề bài 2 : Hãy giải thích vì sao vỏ nguyên tử tích điện âm, hạt nhân nguyên
tử tích điện dương trong khi đó các hạt nguyên tử, phân tử lại trung hoà về
điện, còn các hạt ion có thể tích điện dương hoặc âm ?
Hướng dẫn : Vỏ nguyên tử tích điện âm là do được cấu tạo bởi các loại hạt
electron tích điện âm. Hạt nhân tích điện dương là do được cấu tạo bởi các hạt
proton, nơtơron. trong đó nơtơron không mang điện tích còn proton mang
điện tích dương. Nguyên tử, phân tử trung hoà điện vì các hạt electron, proton
có số lượng bằng nhau, điện tích của electron là 1-, của proton là 1+. Các ion
mang điện tích là do có số electron khác với số proton.
Kiến thức cũ được tái hiện : Thành phần, cấu tạo nguyên tử. Đặc điểm các hạt
cơ bản cấu tạo nên nguyên tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Rút ra được nhận xét : Trong nguyên tử, phân
tử số electron bằng số proton. Trong ion thì : X
n+
+ ne = X; Y
m-
= Y + me.
Với mỗi nguyên tố được đặc trưng bởi một giá trị số proton, trong quá trình
tham gia phản ứng hoá học nguyên tố có thể cho hoặc nhận thêm electron
nhưng số proton không thay đổi.
Đề bài 3 : Có học sinh đã cho rằng : “Số khối của hạt nhân bằng nguyên tử
khối”. Theo em thì nhận định trên có chính xác không, tại sao ?
Hướng dẫn : Số khối là tổng số hạt proton và nơtơron của hạt nhân nên không
có đơn vị. Nguyên tử khối là khối lượng nguyên tử có đơn vị là đvC hay u
(Tiếng Anh là Atomic mas unit(amu), tiếng Pháp là Unité de mas
atomique(uma)), là đại lượng chỉ có tính tương đối. Về trị số nguyên tử khối

,A
3
. Biết rằng : p
1
= 99,762%; p
2
= 0,038%; p
3
= 0,200% ; A
1
=
15,99491; A
2
= 16,99914; A
3
= 17,99916. Hãy tính NTKTB của oxi, đối chiếu
với bảng hệ thống tuần hoàn cho nhận xét ?
Hướng dẫn : A =
321
332211

ppp
ApApAp
++
++

=
100
2,0.99916,1799914,16.038,099491,15.762,99 ++
= 15,9993 đvC.

58
60
Ni
Ni
28
28
28
61
62
(100%)
(67,76%)
(26,16%)
(2,42%) (3,66%)
;
; ;
;
Hướng dẫn :
Khối lượng nguyên tử của Co = 59 đvC.
A
Ni
=
100
62.66,361.42,260.16,2658.76,67 +++
= 58,7422 đvC.
Sở dĩ có điều trên là do khối lượng nguyên tử trung bình phụ thuộc vào
đồng vị có thành phần phần trăm lớn, ở trên giá trị A
Ni
sẽ tiến tới gần với
khối lượng nguyên tử
58

p
pp +
= 63,562.
Kiến thức cũ được tái hiện : Biểu thức tính khối lượng nguyên tử trung bình
trong trường hợp nguyên tố chỉ có hai đồng vị, mối liên quan giữa đại lượng m,
M, n.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Tỉ lệ số nguyên tử hay tỉ lệ số mol nguyên tử
cũng chính là tỉ lệ của thành phần phần trăm của các đồng vị. Biết được một
thủ thuật trong tính toán đó là chuyển các đại lượng khác nhau về một đại
lượng nhằm triệt tiêu chúng.
Đề bài 7 : Gọi tên những đồng vị của nguyên tố có số khối khác nhau gấp
rưỡi, và hơn nữa ?
Hướng dẫn :
1
1
H proti;
2
1
D (hay
2
1
H) đơteri;
3
1
T (hay
3
1
H) triti.
Kiến thức cũ được tái hiện : Kí hiệu nguyên tử, khái niệm đồng vị.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Hiểu được hiđro là một nguyên tố có tỉ lệ số khối

số lượng tử từ, qui định hướng của obitan trong không gian.
n = 1,2,3 ; l = 0,1,2, ,(n-1); -l

m

+l. (n,m,l

Z).
Để mô tả đầy đủ trạng thái của electron ngoài 3 số lượng tử trên cần phải
có thêm một số lượng tử nữa đó là số lượng tử spin m
s
, số lượng tử này đặc
trưng cho sự tự quay xung quanh mình của electron và nhận các giá trị
±
2
1
.
Kiến thức cũ được tái hiện : Sự chuyển động của electron trong nguyên tử,
các khái niệm lớp electron, phân lớp electron, obitan.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Học sinh có thể xác định được đầy đủ 4 số
lượng tử của electron hoá trị dựa trên cấu hình electron, hoặc ngược lại dựa
vào các mối quan hệ giữa 4 số lượng tử của electron sau cùng để viết cấu hình
electron của nguyên tử.
Đề bài 3 : Trong nguyên tử thì electron lớp nào là liên kết chặt chẽ nhất với
hạt nhân, electron lớp nào là liên kết kém chặt chẽ nhất đối với hạt nhân ?
Hướng dẫn : Trong nguyên tử thì electron ở lớp trong cùng liên kết chặt chẽ
với hạt nhân nhất, electron ở lớp ngoài cùng liên kết kém chặt chẽ với hạt
nhân nhất.
Kiến thức cũ được tái hiện : Cấu tạo của vỏ nguyên tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Học sinh rút ra được sự cho nhận electron của

4s
2
.
Fe
2+
(Z = 26) : 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
6
; Fe
3+
(Z = 26) : 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d

(Z = 7). Hầu hết các nguyên tử (trừ nguyên tử khí
hiếm) có cấu hình electron kém bền so với cấu hình electron tương ứng.
Kiến thức cũ được tái hiện : Viết cấu hình electron của nguyên tử, đặc điểm
các electron trên lớp ngoài cùng.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Thấy được các ion tạo ra bởi nguyên tử có cấu
hình electron giống với cấu hình electron của khí hiếm gần nhất. Các nguyên
tử kim loại thì tạo ra ion đơn nguyên tử dương còn các nguyên tử phi kim thì
tạo ra các ion đơn nguyên tử âm. Cấu hình electron của ion thường bền hơn
cấu hình electron của nguyên tử tương ứng từ đó có thể giải thích được vì sao
Cl
2
rất độc trong khi NaCl lại không độc,
Đề bài 3 : Có phải tất cả các nguyên tử có 1 hoặc 2 hoặc 3 electron lớp ngoài
cùng là nguyên tử kim loại không ? Nguyên tử có 4 electron lớp ngoài cùng là
nguyên tử kim loại hay phi kim ?
Hướng dẫn : Điều trên không phải bao giờ cũng đúng. Chẳng hạn, nguyên tử
hiđrô có 1 electron ngoài cùng là nguyên tử phi kim, nguyên tử Heli có 2
electron ngoài cùng là nguyên tử khí hiếm, nguyên tử Bo có 3 electron ngoài
cùng là nguyên tử phi kim.
Nguyên tử có 4 electron ngoài cùng nếu có số lớp electron

3 thì là
nguyên tử phi kim còn số lớp electron

3 là nguyên tử kim loại.
Kiến thức cũ được tái hiện : Đặc điểm các electron trên lớp ngoài cùng.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Biết được một số trường hợp đặc biệt khi dựa vào
số electron trên lớp ngoài cùng để suy ra tính chất hoá học cơ bản của nguyên tử.
Đề bài 4 : Viết cấu hình electron của nguyên tố Pd (Z = 46), nhận xét về vị trí
trong bảng hệ thống tuần hoàn của Pd ?

2p
6
3s
2
3p
6
3d
5
4s
1
. Electron cuối
cùng có n = 3; l = 2; m
l
= -2; m
s
= +
2
1
.
Kiến thức cũ được tái hiện : Viết cấu hình electron của nguyên tử, biểu diễn
cấu hình electron dưới dạng ô lượng tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Biết được hiện tượng bán bão hoà gấp của cấu
hình electron, nhận thấy electron cuối cùng là electron ở trên phân lớp electron
đang xây dựng, trong nhiều trường hợp nó khác với electron ngoài cùng.
Đề bài 6 : Viết cấu hình electron của nguyên tử nguyên tố mà phân lớp
electron ngoài cùng là 4s
1
. Từ đó cho biết số hiệu nguyên tử và số electron
hoá trị của chúng ?
Hướng dẫn : Kr (Z = 19) : 1s

6
3s
2
3p
6
3d
10
4s
1
.
Tất cả ba cấu hình electron trên đều có 1 electron ngoài cùng nhưng số
electron hoá trị thì khác nhau.
Kiến thức cũ được tái hiện : Viết cấu hình electron của nguyên tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Nắm được hiện tượng bán bảo hoà gấp, hiện
tượng bão hoà gấp trong cấu hình electron. Phân biệt được khái niệm electron
hoá trị với khái niệm electron ngoài cùng.
Đề bài 7 : Electron cuối cùng của các ion A
-
, B
+
,C
2+
,D
2-
đều có bộ 4 số lượng tử
thoã mãn : n.m = -3; l + m
S
= 0,5. Xác định hợp chất tạo nên từ các ion trên, đọc tên
?
Hướng dẫn : Vì cấu hình electron của ion thường phải bền nên m

S; CaCl
2
; CaS.
Kiến thức cũ được tái hiện : Mối quan hệ giữa các số lượng tử. Suy ra cấu
hình electron đầy đủ từ phân lớp electron đang xây dựng.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Rút ra được sự khác nhau giữa cấu hình electron
của ion và của nguyên tử là cấu hình electron của ion thường bền đa số giống
với cấu hình khí hiếm gần nhất. Học sinh làm quen dần với một số hợp chất
ion.
Đề bài 8 : Viết cấu hình electron các nguyên tử nguyên tố thuộc chu kì 4 thỏa
mãn điều kiện của lớp electron hoá trị :
a/ Có 2 electron độc thân.
b/ Có số electron độc thân bằng 0.
Hướng dẫn :
a/ Ge (Z = 32) : 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
10
4s
2
4p
2

4s
2
; Ni (Z = 28) : 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
8
4s
2
.
b/ Ca (Z = 20) : 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
4s
2
; Zn (Z = 30) : 1s

.
Kiến thức cũ được tái hiện : Viết cấu hình electron, biểu diễn cấu hình
electron dưới dạng ô lượng tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Biết được lớp electron hoá trị bao gồm các
electron ngoài cùng và cả các electron sát lớp ngoài cùng.
2.3.2. Chương 2 : Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học và định luật tuần
hoàn
2.3.2.1. Mục tiêu của chương [28]
* Về kiến thức :
Cho học sinh hiểu :
- Các nguyên tố được sắp xếp vào bảng hệ thống tuần hoàn theo
nguyên tắc nào ?
- Mối quan hệ giữa cấu hình electron nguyên tử của nguyên tố hoá học
với vị trí của nó trong bảng hệ thống tuần hoàn như thế nào ?
- Tính chất các nguyên tố trong bảng nguyên tố trong bảng tuần hoàn
biến đổi như thế nào ? Bảng hệ thống tuần hoàn có ý nghĩa gì ?
* Về kĩ năng:
Học sinh có kĩ năng giải các bài tập liên quan đến : Quan hệ giữa vị trí
và cấu tạo, quan hệ giữa các vị trí và tính chất, so sánh tính chất hoá học của
một nguyên tố với nguyên tố lân cận.
*Về giáo dục và tình cảm thái độ:
- Thông qua việc dạy học chương trình này, giáo viên đã truyền đạt tới
học sinh một định luật tổng quát cũa tự nhiên là định luật tuần hoàn.
- Trong hoá học, định luật tuần hoàn và bảng tuần hoàn :
• Vạch phương hướng nghiên cứu cho các nhà khoa học.
• Giúp học sinh học tập một cách hệ thống và biết suy luận quy luật.
- Trong cuộc sống con người, trong thiên nhiên cũng có nhiều định luật
tuần hoàn. Về mặt tư tưởng, định luật tuần hoàn góp phần hình thành thé giới
quan duy vật biện chứng cho học sinh.
2.3.2.2. Hệ thống bài tập hoá học củng cố và phát triển kiến thức của

= Z
B
+
32.
Chỉ có cặp Z
A
=12 ; Z
B
=20 là thoã mãn. A là Mg, B là Ca, đều là kim loại.
Kiến thức cũ được tái hiện : Cấu trúc bảng hệ thống tuần hoàn, vị trí của
nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn, đặc điểm các electron lớp ngoài
cùng.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Biết được hai nguyên tố cùng một phân nhóm
chính thuộc hai chu kì liên tiếp trong bảng hệ thống tuần hoàn thì số thứ tự
cách nhau hoặc 2 hoặc 8 hoặc 18 hoặc 32 đơn vị.
Đề bài 2 : Hãy cho biết đặc điểm của những nguyên tử của nguyên tố thuộc
phân nhóm chính, thuộc phân nhóm phụ.
Hướng dẫn : Các nguyên tố thuộc phân nhóm chính có phân lớp electron
đang xây dựng là phân lớp s hoặc p, các nguyên tố thuộc phân nhóm phụ có
phân lớp electron đang xây dựng là phân lớp d hoặc f.
Kiến thức cũ được tái hiện : Bảng hệ thống tuần hoàn, cấu hình electron.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Từ phân lớp electron đang xây dựng học sinh
có thể suy ra được nguyên tử nguyên tố đó thuộc phân nhóm chính hay phụ.
Rút ra được phân nhóm chính gồm kim loại và phi kim, bao gồm các nguyên
tử nguyên tố chu kì nhỏ và chu kì lớn. Phân nhóm phụ chỉ gồm các kim loại,
chỉ có các nguyên tố ở chu kì lớn.
Đề bài 3 : Chỉ ra những trường hợp nguyên tử nguyên tố thuộc chu kì 4 có
cấu hình electron bất thường, giải thích ?
Hướng dẫn : Cu (Z = 29) : [Ar]3d
10

1
đến [ ](n-
1)d
10
ns
2
np
6
có 18 nguyên tố, chu kì 6, 7 ngoài phân lớp (n-1)d còn xuất hiện
phân lớp (n-2)f cho nên có 32 nguyên tố. Hiện mới tìm ra nguyên tố thứ 113
cho nên chu kì 7 trong bảng hệ thống tuần hoàn chưa đầy đủ.
Kiến thức cũ được tái hiện : Cấu trúc bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố
hoá học, mối quan hệ giữa cấu hình electron và vị trí trong bảng.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Biết được số lượng các nguyên tố trong từng
chu kì và hiểu được vì sao lại có những giá trị đó. Biết thêm thông tin về các
nguyên tố mới tìm ra.
Đề bài 5 : Cấu tạo vỏ electron của nguyên tử có liên hệ gì đến vị trí của
nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn với nguyên tố ?
Hướng dẫn : Số thứ tự của chu kì bằng số lớp electron. Số thứ tự của nhóm
bằng số electron hoá trị. Phân nhóm chính hay phụ liên quan đến phân lớp
electron đang xây dựng.
Kiến thức cũ được tái hiện : Các nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong bảng
hệ thống tuần hoàn.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Học sinh có thể xác định vị trí của nguyên tố
trong bảng từ cấu hình electron nguyên tử và cũng có thể làm ngược lại là từ
vị trí trong bảng suy ra cấu hình electron nguyên tử.
Đề bài 6 : Nguyên tử nguyên tố X có cấu hình electron của các phân lớp
electron ngoài cùng là 5f
3
6d

phân tử hợp chất M ?
Hướng dẫn : Xét ion X
+
ta có

Z
=
5
11
= 2,2. Suy ra có một nguyên tố là H,
nguyên tố còn lại là N, X
+
là NH
4
+
; Xét ion Y
3-
ta có

Z
=
5
47
= 9,4. Suy ra có
một nguyên tố là F hoặc O hoặc C và nguyên tố O là thoã mãn, nguyên tố còn
lại là P, Y
3-
là PO
4
3-

2p
6
3s
2
3p
6
3d
10
4s
2
4p
6
4d
10
4f
14
5s
2
5p
6
5d
10
5f
14
6s
2
6p
6
6d
10


Z
=
2
23
= 11,5. Vậy phải có một nguyên tố là C (Z = 6) hoặc N
(Z = 7) hoặc O (Z = 8). Tuy nhiên chỉ có B là N (Z = 7), A là S (Z = 15) là
thoã mãn đề bài.
Kiến thức cũ được tái hiện : Cấu trúc bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố
hoá học, cấu hình electron của nguyên tử.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Ở trạng thái đơn chất một số nguyên tố không
tác dụng trực tiếp với nhau, chẳng hạn N
2
với S, Halogen với O
2
, Halogen với
N
2
, halogen với C,
Loại bài tập số 3 : Sử dụng khi nghiên cứu bài “Sự biến đổi tuần hoàn tính
chất các nguyên tố hoá học. Định luật tuần hoàn”.
Đề bài 1 : Hãy xem xét các nguyên tử sau Na (Z = 11), F (Z = 9), Ne (Z = 10)
nguyên tử nào là kim loại, nguyên tử nào là phi kim ? Khi các nguyên tử Na,
F chuyển từ cấu hình electron không bền về cấu hình electron bền giống khí
hiếm gần nhất thì sẽ có những xu hướng nào, phân tích cho kết luận ?
Hướng dẫn : Na : 1s
2
2s
2
2p

vỏ tăng. Do lực hút giữa hạt nhân và lớp vỏ nguyên tử tăng nên tính kim loại
giảm, tính phi kim tăng, độ âm điện tăng.
Kiến thức cũ được tái hiện : Cấu tạo của nguyên tử, tính kim loại, tính phi
kim.
Kiến thức mới được lĩnh hội : Học sinh biết vận dụng kiến thức phần cấu tạo
nguyên tử để giải quyết các vấn đề liên quan, hiểu được nguyên nhân gây ra
sự biến đổi tuần hoàn tính chất của nguyên tử các nguyên tố trong chu kì.
Đề bài 3 : Sắp xếp có giải thích các hạt vi mô cho dưới đây theo chiều giảm
dần bán kính hạt :
a/ Rb
+
(Z = 37); Y
3+
(Z = 39); Kr(Z = 36); Br
-
(Z = 35); Se
2-
(Z = 34); Sr
2+
(Z = 38).
b/ Na (Z = 11); Na
+
(Z =11); Mg (Z = 12); Mg
2+
(Z= 12); Al (Z = 13); Al
3+
(Z = 13);
F
-
(Z = 9); O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status