DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐÓNG MỚI TÀU CHỞ HÀNG KHÔ TRỌNG
TẢI 7000 DWT TRỰC THUỘC CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT THƯƠNG
MẠI DỊCH VỤ CÁT BIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
v
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
vi
DWT Dead-Weight Tonnes (Tấn)
DANH MỤC CÁC BẢNG
vii
Trang
Mô hình tổng quát của bài toán phân tích rủi ro 21
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Mô hình tổng quát của bài toán phân tích rủi ro 21
viii
ix
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Sự cần thiết của đề tài:
Trong xu thế mở cửa và hội nhập của nền kinh tế hiện nay, nhu cầu về xuất
nhập khẩu hàng hoá ngày một tăng cao đã mở ra triển vọng phát triển cho ngành hàng
hải Việt Nam. Với lợi thế về vị trí địa lý, có đường bờ biển kéo dài hơn 3.260 km và
nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện thuận
lợi để phát triển ngành kinh tế biển nói chung và ngành hàng hải nói riêng.
Hiện tại, Việt Nam có 266 cảng biển, bố trí tại 24 tỉnh, thành trên cả nước,
trong đó có nhiều cảng biển tiềm năng và lợi thế lớn như Lạch Huyện (Hải Phòng),
Vân Phong (Khánh Hoà)… Tuy nhiên, các cảng biển Việt Nam bố trí chưa hợp lý,
tính và các sản phẩm điện tử khác nhưng giá trị thương mại của những hàng hoá này
vẫn tăng không nhanh hơn các mặt hàng công nghiệp nói chung. Tỷ lệ tăng trưởng
năm 2005 của các dịch vụ thương mại: vận tải biển, du lịch và một số dịch vụ khác
gần tương tự nhau, theo thứ tự là 12% đối với dịch vụ vận tải và 10% đối với dịch vụ
du lịch.
Cho nên tôi chọn đề tài : Đóng mới tàu hàng khô 7000 DWT là phù hợp với
điều kiện tình hình thực tế hiện nay.
1.2. Gíới hạn đề tài ( Phạm vi nghiên cứu)
Phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng. Tập trung nghiên cứu cách hình thành
dự án, hình thành phương thức vay vốn. Dự tóan doanh thu lãi lỗ, và giải pháp thực
hiện nhằm chứng minh tính khả thi của dự án.
Đề tài không đi sâu vào việc thành lập ban quản lý dự án, không tìm hiểu về
cách thức quản lý vật tư đóng tàu của doanh nghiệp.
Do Việt Nam chưa có ban hành những qui định về chỉ số bình quân ngành của
ngành hàng hải nên các chỉ tiêu tài chính không nói lên được rằng những chỉ số tài
chính của dự án này đã tốt hay chưa.
2
1.3. Mục đích:
Mục đích của việc nghiên cứu tìm hiểu qui trình sọan thảo 1 dự án, qua đó
nghiên cứu cách thức thực hiện 1 dự án từ lý thuyết đưa vào thực tiễn. Qua đó đề xuất
những ý kiến để thực thi nó vào hiện thực.
1.4. Ý nghĩa thực tiễn:
Việc nghiên cứu đề tài này nâng cao kĩ năng sọan thảo dự án, nắm bắt tốt
những vấn đề liên quan đến tài chính, cơ cấu vận hành, phương pháp vay vốn khi
thành lập 1 công ty.
1.5. Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn:
Chương 1: Đặt vấn đề
- Đưa ra những luận điểm nhằm nêu bật lên sự cần thiết của đề tài.
- Nêu chu trình dự án và nội dung cần nghiên cứu.
- Giới thiệu sơ lược cấu trúc luận văn.
Chủ đầu tư lá các tư nhân có đủ tư cách pháp nhân và họat động kinh doanh
trên cơ sở pháp luật qui định.
2.1.2.2. Phân lọai theo nội dung kinh tế:
+ Đầu tư vào tài sản cố định: Nhằm phát triển mở rộng, nâng cao các tài sản
cố định để tăng cường năng lực sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp thông qua các
họat động mua sắm, xây dựng căn bản.
+ Đầu tư vào tài sản lưu động: Nhằm gia tăng nguồn vốn họat động của doanh
nghiệp thông qua việc sử dụng một nguồn vốn dài hán để bổ sung và mở rộng qui mô
vốn lưu động.
2.1.2.3. Phân lọai theo mục tiêu đầu tư:
Đầu tư đóng mới tàu chở hàng khô 7000 DWT.
2.1.2.4. Phân lọai theo mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư với đối tượng đầu
tư:
Mục tiêu đầu tư là đầu tư trực tiếp hay còn gọi là đầu tư phát triển, nhằm tạo
nên những năng lực mới về lượng hay chất cho các họat động sản xuất dịch vụ để làm
4
phương tiện sinh lời. Đầu tư phát triển có ý nghĩa lớn, biểu hiện cụ thể của tái sản xuất
mở rộng là biện pháp chủ yếu cung cấp việc làm cho người lao động.
2.1.2.5. Phân lọai theo nguồn vốn:
Dự án đầu tư có vốn huy động từ vốn tín dụng thương mại và vốn chủ sỡ hữu
2.1.2.6. Hình thức đầu tư :
Doanh nghiệp tư nhân.
2.1.3 Vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư:
2.1.3.1. Khái niệm và vai trò vốn đầu tư trong lĩnh vực đầu tư:
Khái niệm vốn đầu tư:
Trong bất kỳ một lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào, yếu tố quyết định cả về qui
mô, chất lượng, thị hiếu phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn đầu tư. Vậy vốn đầu tư được
huy động từ đâu, số lượng là bao nhiêu? Đây là một vấn đề khá phức tạp. Nếu sốn vốn
này trích trực tiếp từ doanh nghiệp tư nhân mà đang triển khai dự án này sẽ gây ra khó
khăn trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh và sinh họat xã hội. Do đó tiền vốn
Xuất phát từ những góc độ trên, khi xem xét đầu tư nguồn vốn vào các dự án,
chủ đầu tư cần căn cứ vào mục tiêu cơ bản hay vì lợi ích kinh tế để có những quyết
định đầu tư nguồn vốn cho phù hợp.
2.1.3.2. Các nguồn vốn và nguyên tắc sử dụng:
Mục đích họat động đầu tư là nhằm phát triển kinh tế xã hội, muốn họat động
đầu tư có hiệu quả, thì phải có nguồn vốn đầu tư ban đầu. Nguồn vốn cho lĩnh vực đầu
tư được nhà nước ban hành nguyên tắc về quản lý và sử dụng vốn đối với:
Vốn tín dụng thương mại: Dùng để đầu tư thương mại mới để cải tạo, mở
rộng đối với kĩ thuật công nghệ, của các dự án sản xuất kinh doanh dịch vụ, có hiệu
quả, có khả năng thu hồi vốn, và có điều kiện vay vốn theo qui định hiện hành. Vốn
này áp dụng theo cơ chế tự vay tự trả, và được thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và
vay trả vốn.
2.1.4. Trình tự đầu tư và xây dựng:
Theo qui chế chính phủ về quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị
định 16/2005/NĐ-CP ngày 7/2/2005 của Chính phủ về qui chế quản lý đầu tư và xây
dựng, trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm ba giai đọan:
1) Chuẩn bị đầu tư.
2) Thực hiện đầu tư.
6
3) Kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng.
Các công việc trong giai đọan thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công
trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ tùy theo điều
kiện cụ thể của từng dứ án do người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Đối với các dự
án phải thu hồi vốn, chủ đầu tư có trách nhiệm, thu hồi vốn, và trả vốn đầu tư.
2.1.5. Nội dung công việc chuẩn bị đầu tư:
Bao gồm:
1/ Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư.
2/ Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngòai nước để xác định
nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết
bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức
+ Những ưu thế và bất lợi so với các đối thủ cạnh tranh về thời gian họat động,
uy tín, tài chính.
+ Khả năng cạnh tranh về chi phí sản xuất, giá bán, chất lượng dịch vụ.
+ Khảo sát khách hàng tiềm năng.
+ Phân tích sản lượng, giá dịch vụ của dự án.
+ Quy định về giá cước và sản lượng khai thác.
2.1.8.2 Phân tích kĩ thuật:
Nội dung phân tích:
+ Phân tích các phương án lựa chọn, địa điểm, kiến trúc, thiết kế, thiết bị công
nghệ.
+ Chất lượng nguồn cung cấp nhiên liệu.
+ Dự kiến kế họach sản xuất hàng năm.
2.1.8.3. Phân tích nhân sự:
+ Phân tích nhu cầu nhân sự trong giai đọan vận hành dự án.
+ Số lượng và chi phí cho bộ máy quản lý thực hiện và vận hành dự án.
+ Nguồn cung cấp lao động và giá cả lao động.
2.1.8.4. Phân tích tài chính:
+ Xác định các khỏan mục thu chi của bảng dự tóan dòng tiền.
+ Xác định các nguồn tài trợ.
+ Xác định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án.
+ Phân tích khả năng trả nợ và các chỉ số nợ.
+ Phân tích rủi ro.
8
2.1.8.5 Phân tích kinh tế:
+ Phân tích những đóng góp thực của dự án vào tăng trưởng kinh tế, và được thực hiện
dựa trên phân tích tài chình.
+ Xác định suất chiết khấu kinh tế.
2.1.8.6. Phân tích xã hội:
+ Phân tích những tác động ngòai kinh tế của dự án đến những đối tượng hưởng
lợi và những đối tượng phải chịu chi phí từ dự án.
1
PV = FVn
(1 + i)
n
Trong đó:
PV(Present value): Giá trị hiện tại của khoản thu trong tương lai.
FVn ( Future value): Giá trị khoản thu tại thời điểm cuối năm thứ n trong tương
lai.
i: Lãi suất tính theo năm.
n: Số năm
1/(1 + i)
n
được gọi là hệ số chiết khấu hay hệ số hiện tại hóa, nó biểu thị giá trị hiện
tại của 1 đồng thu được trong tương lai và được ký hiệu là P (i,n). Như vậy, công thức
xác định giá trị hiện tại ở trên có thể viết dưới dạng:
PV = FVn. P (i,n)
Như vậy, giá trị hiện tại của một khoản tiền thu được tại một thời điểm trong
tương lai là giá trị của khoản tiền đó được tính về thời điểm hiện tại bằng cách dựa vào
một lãi suất nhất định.Tùy theo từng trường hợp cụ thể, để lựa chọn một lãi suất thích
hợp làm lãi suất tính đổi. Lãi suất được sử dụng để tính đổi về giá trị hiện tại được gọi
là tỷ suất hiện tại hóa hay lãi suất chiết khấu. Phương pháp tính như vậy được gọi là
phương pháp hiện tại hóa giá trị hay phương pháp chiết khấu giá trị.
Xem xét công thức nêu trên có thể rút ra:
+ Thời điểm nhận được khoản thu càng xa thời điểm hiện tại thì giá trị hiện tại của nó
càng nhỏ.
+ Tỷ suất hiện tại hóa hay lãi suất chiết khấu càng lớn thì giá trị hiện tại của khoản thu
càng nhỏ.
*Giá trị hiện tại của các khoản tiền khác nhau trong tương lai:
10
Công thức trên có thể viết dưới dạng:
PV =
n
∑ FVt . p(i,t)
t =1
Trong đó:
PV: Giá trị hiện tại của các khoản tiền
FV1, FV2, FVn: Giá trị các khoản tiền ở cuối các thời điểm khác nhau trong
tương lai (cuối mỗi năm)
i : Lãi suất tính theo năm
1,2 , n: Số năm
2.1.9.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án:
2.1.9.2.1. Hiện giá thuần: (NPV-Net Present Value)
Giá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash
inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow) tính theo lãi suất chiết khấu
lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần đựơc sử dụng trong hoạch định ngân sách
đầu tư (capital budgeting), phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư.
NPV được tính theo công thức sau:
Trong đó:
• t - thời gian tính dòng tiền
11
• n - tổng thời gian thực hiện dự án
• r - tỉ lệ chiết khấu
• Ct - dòng tiền thuần tại thời gian t
• C0 - chi phí ban đầu để thực hiện dự án
Việc tính toán NPV rất hữu ích khi chuẩn bị ngân sách cho một dự án, bằng
phép tính này nhà đầu tư có thể đánh giá liệu tổng giá trị hiện tại dòng doanh thu dự
kiến trong tương lai có bù đắp nổi chi phí ban đầu hay không. Với một dự án cụ thể,
nếu NPV dương thì nhà đầu tư nên tiến hành dự án và ngược lại khi NPV âm. Tuy
chi phí sử dụng vốn và chi phí đầu tư ban đầu.
+ NPV<0: Thu nhập có được sau khi bù đắp chi phí sử dụng vốn không đủ
bù đắp chi phí đầu tư ban đầu.
+ NPV=0: Thu nhập có được vừa đủ bù đắp chi phí đầu tư ban đầu kể cả chi
phí sử dụng vốn.
12
2.1.9.2.2. Suất sinh lời nội bộ: ( IRR- Internal Rate of Return)
Tỷ suất thu nhập nội bộ (IRR) là một công cụ nữa mà các nhà quản lý có thể sử
dụng để quyết định có nên tập trung toàn lực cho một cơ hội đầu tư cụ thể, hay phân
loại tính hấp dẫn của nhiều cơ hội khác nhau. IRR được định nghĩa là tỷ suất chiết
khấu mà tại đó NPV của một khoản đầu tư bằng 0.
Thông thường, khi IRR cao hơn chi phí cơ hội (mức sinh lời dự kiến trên khoản
đầu tư tương tự) của vốn được yêu cầu, thì khoản đầu tư được tính đến này nên được
thực hiện. Bạn có thể dùng tỷ suất rào của công ty làm mục tiêu IRR. Tỷ suất rào là tỷ
suất hoàn vốn nhỏ nhất mà tất cả các khoản đầu tư cho một doanh nghiệp cụ thể phải
đạt được; tỷ suất này thường được các giám đốc tài chính quy định. IRR của một vụ
đầu tư được tính đến phải vượt tỷ suất rào thì các công ty mới xúc tiến dự án được.
Chỉ tiêu Giá trị hiện tại thực (NPV) theo công thức sau:
∑
=
−
+−=
n
t
t
tt
rCOCINPV
0
)1).((
t
: Giá trị luồng tiền mặt chi tại năm t (gồm chi phí đầu tư và chi phí vận
hành hàng năm của dự án)
CI
t
- CO
t
chính là dòng tiền thuần tại thời gian t (C
t
) = NCF
t
NCF
t
: giá trị luồng tiền mặt thực có sau cân bằng thu chi tại năm t
+Nguyên tắc sử dụng chỉ tiêu này:
Một dự án đầu tư được chấp nhận khi có IRR
≥
r min
Trong đó r min là lãi suất đi vay nếu phải vay vốn để đầu tư, có thể là tỷ suất
lợi nhuận định mức do nhà nước qui định, nếu vốn đầu tư do ngân sách cấp. Có thể là
chi phí cơ hội nếu sử dụng vốn tự có để đầu tư. Trong trường hợp so sánh nhiều dự án
độc lập để lựa chọn thì dự án nào có IRR cao nhất sẽ là dự án tốt nhất.
13
Từ công thức trên nếu thời gian họat động dự án có t>1 thì IRR sẽ có rất nhiều
nghiệm và sẽ dẫn đến tình trạng không biết dùng nghiệm nào. Để tính IRR có nhiều
phương pháp nhưng tính IRR theo phương pháp nội suy thường được sử dụng vì việc
tính toán không phức tạp, độ chính xác hợp lý có thể chấp nhận được.
Ta sẽ dùng phương pháp nội suy (phương pháp gần đúng) để xác định gần
đúng giá trị IRR bằng cách sẽ gán hai giá trị suất chiết khấu ( r ) khác nhau ứng với
các NPV khác nhau và được biểu diễn ở sơ đồ sau:
+ Phân tích chi phí
+ Lợi nhuận kì vọng
+ Quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro
+ Sự tác động của thuế khóa
+ Dự đóan giá trị doanh thu
* Nghiên cứu hành vi tổ chức và quản lý
+ Hiệu quả của tổ chức
+ Cơ cấu tổ chức kinh doanh
15
* Nghiên cứu khai thác cung cấp dịch vụ:
+ Phân tích thị phần
+ Phân tích phân khúc thị trường
+ Phân tích doanh số
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thu thập dữ liệu từ những thực nghiệm:
*Khái niệm:
Thu thập số liệu thí nghiệm là một công việc quan trọng trong NCKH. Mục đích
của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực
hiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết
hay tìm ra vấn đề cần nghiên cứu. Có 3 phương pháp thu thập số liệu:
a) Thu thập số liệu bằng cách tham khảo tài liệu.
b) Thu thập số liệu từ những thực nghiệm (các thí nghiệm trong phòng, thí nghiệm
ngoài đồng, …).
c) Thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng câu hỏi điều tra).
Trong nghiên cứu thực nghiệm, có 2 loại biến thường gặp trong thí nghiệm, đó
là biến độc lập (independent variable) và biến phụ thuộc (dependent variable):
*Biến độc lập (còn gọi là nghiệm thức): là các yếu tố, điều kiện khi bị thay đổi
trên đối tượng nghiên cứu sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Như vậy, đối tượng
nghiên cứu chứa một hoặc nhiều yếu tố, điều kiện thay đổi. Nói cách khác kết quả số
liệu của biến phụ thuộc thu thập được thay đổi theo biến độc lập.
khả năng cơ động chuyển sang tiền mặt trong thời kỳ ngắn hạn và giá trị lý giải
của các tài sản có tính cơ động. Còn các nhà đầu tư cổ phần tiềm năng quan tâm
hơn đến khả năng sinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn. Tuy nhiên, trong cả hai trường
hợp, sự định hướng vào việc ra quyết định của công tác phân tích là đặc trưng
chung.
Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính, đồng
thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh.
- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm
để "hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các
công cụ phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu
tài chính trong báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân
17
tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc
thông tin từ các dữ liệu ban đầu.
- Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào
việc ra quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp
lý cho việc dự đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định,
phân tích tài chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương
lai. Do đó, người ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính
nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công
ty, dựa trên phân tích tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra
ước tính tốt nhất về khả năng của những sự cố kinh tế trong tương lai.Trong
nhiều trường hợp người ta nhận thấy rằng, phần lớn công việc phân tích báo cáo
tài chính bao gồm việc xem xét cẩn thận, tỷ mỉ các báo cáo tài chính, thậm chí cả
việc đọc kỹ lưỡng hơn đối với các chú thích và việc sắp xếp lại hoặc trình bày lại
các số liệu sẵn có để đáp ứng nhu cầu của người phân tích. Khi đó, người ta có
thể hỏi tại sao không thể chấp nhận các báo cáo tài chính đã chuẩn bị theo các
mệnh giá, nói cách khác là tại sao lại “can thiệp vào các con số” ngay từ đầu?
Câu trả lời hiển nhiên là, hầu như luôn luôn phải có can thiệp đôi chút để “hiểu
rõ các con số”. Nhìn chung, đòi hỏi phải có sự phân tích nào đó với tư cách là
nghe không bằng mắt thấy” và việc mô tả các kết quả phân tích dưới dạng đồ thị
thường rất hữu ích và xúc tích. Nếu ta chọn phương pháp này để trình bày các
kết quả thì tốt nhất là nên trình bày cả tiêu chuẩn ngành và xu thế trên cùng một
biểu đồ. Các tỷ lệ tài chính then chốt thường được nhóm lại thành bốn loại chính,
tuỳ theo khía cạnh cụ thể về tình hình tài chính của công ty mà các tỷ lệ này
muốn làm rõ. Bốn loại chính, xét theo thứ tự mà chúng ta sẽ được xem xét ở dưới
đây là:
a. Khả năng sinh lợi: Các tỷ lệ “ở hàng dưới cùng” được thiết kế để đo
lường năng lực có lãi và mức sinh lợi của công ty.
b. Tính thanh khoản: Các tỷ lệ được thiết kế ra để đo lường khả năng của
một công ty trong việc đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ ngần ngắn hạn
khi đến hạn.
c. Hiệu quả hoạt động: Đo lường tính hiệu quả trong việc sử dụng các
nguồn lực của công ty để kiếm được lợi nhuận.
19
d. Cơ cấu vốn (đòn bẩy nợ / vốn): Đo lường phạm vi theo đó việc trang trải
tài chính cho các khoản vay nợ được công ty thực hiện bằng cách vay nợ
hay bán thêm cổ phần. Có hàng loạt tỷ lệ trong mỗi loại nêu trên. Ta sẽ
xem xét tuần tự từng loại và sẽ khảo sát các tỷ lệ chính trong mỗi nhóm.
+ Phương pháp phân tích rủi ro:
* Phân tích độ nhạy : (Sensitivity Analysis)
Định nghĩa:
Phân tích độ nhạy là phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố có tính bất định
(VD: MARR, chi phí, thu nhập, tuổi thọ dự án,…) đến:
· Độ đo hiệu quả kinh tế của các phương án so sánh, và
· Khả năng đảo lộn kết luận về các phương án so sánh, nghĩa là từ đáng giá trở
thành không đáng giá và ngược lại. Nói một cách khác, phân tích độ nhạy là xem xét
mức độ “nhạy cảm” của các kết quả khi có sự thay đổi giá trị của một hay một số tham
số đầu vào. Nếu biến nào thay đổi mà không ảnh hưởng đến kết quả thì các biến này
không được dùng trong phân tích rủi ro. è Phân tích độ nhạy giúp người ra quyết định