Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
86
nhân, sinh bệnh học và biến chứng. Đặng Vạn Phước,
Bệnh học nội khoa (Tr. 43 - 61). TP HCM: Nhà xuất bản
Y học.
2. Drazner MH, Rame JE & Marino EK. Increased
left ventricular mass is a risk factor for the development
of a depressed left ventricular ejection fraction within five
years: the Cardiovascular Health Study. J Am Coll
Cardiol 2004, 43, 2207.
3. Đặng Vạn Phước. (1999). Phì đại thất trái và các
nguy cơ tim mạch. Y học Việt Nam, 242(25), tr. 16 – 17.
4. Koren MJ, Devereux R & Casale P.N. Relation of
left ventricular mass and geometry to morbidity and
mortality. Ann Inter Med 1991, 114, 345-352.
5. Lê Thị Thiên Hương. (2003). Đánh giá khối cơ và
chức năng tâm trương thất trái trên bệnh nhân THA
bằng siêu âm. Luận án tiến sĩ đại học y dược TP HCM.
6. Lê Tuấn An. (2002). Khảo sát phì đại cơ tim trên
bệnh nhân THA có tuổi. Luận văn thạc sĩ y học, Đại Học
Y Dược TP HCM.
7. Lorell BH & Carabello BA. Left ventricular
hypertrophy: pathogenesis, detection, and prognosis. In
Circulation 2000 (pp. 470 – 479).
là một trong các giải pháp phù hợp để giải quyết vấn
đề đáp ứng với các yếu tố văn hóa địa phương trong
chương trình LMAT trên điạ bàn tỉnh.
Từ khóa: Hà Giang, Cô đỡ thôn bản.
SUMMARY
EFFECTIVENESS OF “ETHNIC MINORITY VILLAGE
MIDWIVES” MODEL IN DONG VAN DISTRICT, HA
GIANG PROVINCE IN 3 YEARS (2010-2012)
Ha Giang is a province in north-eastern border,
with difficult economic characteristics, therefore it
cannot implement simultaneously all contents of
reproductive healthcare activities at the same time.
Thus, Ha Giang health sector priorities for key
contents such as: safe motherhood work, family
planning, prevention of reproductive infections in
integrated service packages of implementation plan
of population - family planning program in the
province. To strengthen human resources for ethnic
minority regions, increase equality between regions
and reduce restrictions in approaching to basic health
services, training ethnic minority village midwives is
considered to be one of the suitable solutions to solve
the problem, to meet the local cultural factors in safe
motherhood program in the province.
Keywords: Ha Giang, ethnic minority village
midwives.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh là những
mục tiêu quan trọng nhất của Chiến lược quốc gia về
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Hàng năm trên thế giới
87
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
- Phụ nữ có con < 1 tuổi.
- Lãnh đạo TTCSSKSS.
- Phó chủ tịch huyện, xã.
- Lãnh đạo TTYT huyện, Trưởng khoa CSSKSS,
Trưởng trạm y tế.
- Trưởng bản.
- Hội trưởng hội phụ nữ thôn.
- Cộng tác viên dân số.
- CĐTB.
2. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả được áp dụng để đánh
giá kết quả hoạt động của CĐTB trong hoạt động
chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tại các thời điểm từ
năm 2010 đến năm 2012.
3. Địa điểm và thời gian đánh giá
- Thời gian: Từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2013.
- Địa điểm: Tại huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Chăm sóc phụ nữ mang thai ở bản có và
không có CĐTB
sắt
80,1 <0,001
Đầy đủ 85 73,28 16 14,29 Không đầy
đủ
31 26,72 96 85,71
Nhận xét: Tỷ lệ bà mẹ được khám thai đầy đủ,
tiêm phòng uốn ván và uống viên sắt đầy đủ ở bản có
CĐTB cao hơn so với bản không có CĐTB. Sự khác
nhau này có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
Hộp 9. Chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai
Trong cuộc thảo luận nhóm phụ nữ mang thai, có
nhiều ý kiến cho rằng: Phụ nữ có thai cần phải được
tiêm phòng uốn ván và uống viên sắt để đề phòng
thiếu máu và khi sinh đẻ cần đẻ ở cơ sở y tế để an
toàn cho cả mẹ và con
Ý kiến của chị Thào Thị Mua thôn Tắc Tằng xã
Ma Lé “Mình đã tiêm được 2 mũi tiêm phòng uốn ván
rồi, khi đi khám thai tại trạm y tế xã mình cũng đã
được cán bộ cấp cho viên thuốc mầu đỏ nhỏ bằng
hạt đỗ đấy, bác sỹ trạm y tế nói đây là viên thuốc
uống đề phòng chảy máu khi sinh con, mình về ngày
nào cũng uống 1 viên thuốc đấy. Mình hỏi mấy chị có
thai ở bản mình thấy chỗ nào cũng được cán bộ y tế
hoặc CĐTB nó cho viên thuốc giống của mình để
uống.”
Bảng 2. Chăm sóc phụ nữ khi đẻ ở bản có và
66,388
<0,001
Nhân
viên y tế
58 50,0 67
59.82
Cô đỡ
thôn bản
43 37,1 6 5.36
Bà m
ụ
5
4,
3
24
21.43
Chồng 9 7,8 13
Thời gian cho bú sữa mẹ 88,2 <0,001
Đúng
92
79,31
19
16,96
Sai 24 20,69 93 83,04Thời gian cho ăn sam 85,8 <0,001
Đúng 91 78,45 19 16,96
Sai 25 21,55 93 83,04Xử trí trẻ sốt
2,67 >0,05
Đúng 16 13,80 8 7,10
L
ệ
ch
t
-
test
pY HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
88
bình chuẩn
Kiến thức
Bản có CĐTB 116 19,99 6,87
20,347
<
0,001
Bản không có
CĐTB
112 4,38 4,40
Thái độ
Bản có CĐTB 116 59,66 7,27
Trong tổng số 228 đối tượng nghiên cứu cho thấy
phần lớn các đối tượng là những bà mẹ có con < 1 tuổi.
Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở
nhóm tuổi từ 18 – 24 (49,1%, 50,9%), Kết quả này
phản ánh lên người dân tộc thiểu số lấy chồng và
sinh con ở độ tuổi còn rất trẻ trong khi đó nếu ở phụ
nữ người Kinh lứa tuổi này có thể còn đang tiếp tục
đi học.
Hầu hết đối tượng nghiên cứu là người H’Mông
(97,4%, 94,6%), nghề nghiệp phần lớn là nông dân
(99,1%, 100%).
Khoảng cách từ nhà đến trạm y tế đối với bản có
CĐTB thường là 5 - 10 km, với bản không có CĐTB
thường là >10 km. Qua nghiên cứu cho thấy việc lựa
chọn đối tượng tham gia đào tạo CĐTB của địa
phương còn chưa sát với yêu cầu đề ra. Tỷ lệ hộ
nghèo gặp nhiều hơn ở bản có CĐTB (79,3%), bản
không có CĐTB tỷ lệ này thấp hơn (64,3%). Có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về khoảng cách từ nhà
đến Trạm Y tế và tình trạng hộ nghèo giữa 2 nhóm
nghiên cứu với (p<0,001).(Bảng 1).
2. Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe
của CĐTB
2.1. Tư vấn về chăm sóc trước trong và sau
khi sinh
Để phụ nữ trong thôn bản nắm rõ được những
vấn đề cần biết khi mang thai CĐTB của các xã đã
phải đi đến từng hộ gia đình để làm công tác truyền
thông tư vấn. Số phụ nữ có thai được tư vấn đi khám
thai đã tăng rất cao qua các năm từ 82,9% năm 2010
Nhiều phụ nữ mang thai trong thôn đã đi khám thai
3-4 lần trong quá trình mang thai cho nên, tỷ lệ thai phụ
được khám thai ít nhất 3 lần trong 3 thời kỳ thai nghén ở
các thôn có CĐTB hoạt động là (81,82%) cao hơn so
với kết quả nghiên cứu của Lương Thị Thu Hà (2006) ở
xã Tân Long (81,56%). Tỷ lệ bà mẹ sau đẻ được CĐTB
đến chăm sóc rất cao có năm lên đến 96,15%. Qua
những số liệu ở trên cho chúng ta thấy công tác
CSSKSS ở các thôn có CĐTB hoạt động thực hiện
tương đối tốt. Số lượng bà mẹ được cán bộ y tế đỡ đẻ
tại trạm là 79,12%. tỷ lệ đẻ tại nhà cũng giảm đi rõ rệt,
Bà mẹ được thuyết phục uống viên sắt, vitamin và tiêm
uốn ván cho bà mẹ khi mang thai tăng cao. Các cô đã
phải sẵn sàng thực hiện các công việc được phân công,
không kể nắng mưa, đường xá xa xôi. Đó là một số
biến đổi rõ nét trong thay đổi hành vi của người dân về
sử dụng dịch vụ CSSKSS tại các cơ sở y tế.
Sự đóng góp của CĐTB trong việc phát hiện được
các trường hợp nguy cơ (tai biến sản khoa) và chuyển
tuyến kịp thời đã góp phần giảm tử vong mẹ và sơ
sinh tại các địa bàn mình quản lý. Điều này được các
cán bộ y tế đã khẳng định rõ qua đánh giá tại sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt
động của CĐTB
Khó khăn:
Để đạt được những hiệu quả đã nêu ở trên, trong
quá trình triển khai mô hình đã gặp phải không ít
những khó khăn từ việc lựa chọn CĐTB tham gia đào
tạo,việc triển khai đòa tạo theo phương thức cầm tay
CĐTB đã được người dân chấp nhận vì họ thực
sự là cầu nối với đồng bào. Trạm y tế xã luôn luôn
không đủ người và nguồn lực tiếp cận với cộng đồng
do rất nhiều các nguyên nhân như: không thông hiểu
ngôn ngữ dân tộc phong tục tập quán và đường đi lại
xa, khó khăn ngoài ra họ còn phải đảm nhận rất
nhiều các chương trình mục tiêu y tế khác nưa.
4. Một số Giải pháp để duy trì tính bền vững
của mô hình
Để duy trì tính bền vững của mô hình nhóm
nghiên cứu chúng tôi đưa ra một số các giải pháp cụ
thể như sau:
Các cấp các ngành cần quan tâm hỗ trợ phương
tiện đi lại và trợ cấp hàng tháng cho CĐTB.
Tập huấn thường xuyên nâng cao trình độ cho
CĐTB hàng năm để họ cập nhật kiến thức Y học giúp
các CĐTB tự tin và thuận lợi hơn trong công việc,
giúp cộng đồng tin tưởng và tăng sử dụng dịch vụ do
CĐTB cung cấp.
Ngày 08 tháng 3 năm 2013, Bộ Y tế đã ban
hành Thông tư số 07/2013/TT-BYT quy định tiêu
chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn,
bản. Do vậy giải pháp về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã
hội cho CĐTB nếu giải quyết được có thể giúp cho
các CĐTB giảm khó khăn trong công việc và giúp họ
yên tâm với công việc hơn.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả triển khai mô hình
“Cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu số” tại huyện
Đồng Văn tỉnh Hà Giang trong 3 năm (2010-2012)”
sản khoa đã giảm đi đáng kể ở các địa bàn có CĐTB.
Mô hình CĐTB ngày càng được cộng đồng chấp nhận
vì sự phù hợp với phong tục tập quán và văn hóa của
địa phương. Từ đó nhu cầu CĐTB đã được khẳng
định rõ ràng ở các khu vực khó khăn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế, (1996). Chỉ thị 37/CP ngày 20/06/1996
của chính phủ phê duyệt mục tiêu chăm sóc sức khỏe
nhân dân đến năm 2010. Hà Nội.
2. Bộ Y tế. Báo cáo rà soát về cô đỡ thôn bản tại Việt
Nam. 2009.
3. Bộ Y Tế. Thực trạng Làm Mẹ An Toàn ở Việt
Nam, 2003.
4. Đại học Y tế công cộng. Đánh giá khả năng cung
cấp dịch vụ làm mẹ an toàn và nhu cầu khách hàng ở
tuyến cơ sở tại một số huyện thuộc 3 tỉnh: Hà Tây,
Quảng trị và Kiên Giang: Vụ Sức khỏe sinh sản, Bộ y tế,
2004.
5. Hà Anh Thạch (2006), Nghiên cứu thực trạng công
tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại các trạm y tế xã tỉnh
Bình Định năm 2005.
6. Lê Thị Nguyệt, Đàm Khải Hoàn, (2001). Thực
trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người
Nùng, Dao ở 2 xã vùng cao huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên. Nội san Khoa học - Công nghệ Y Dược -
Trường đại học YDTN - Hội nghị khoa học tuổi trẻ
3/2001: Tr. 199 - 2007.
7. Lương Thị Thu Hà (2006), Thực trạng chương
trình làm mẹ an toàn ở xã Tân Long Huyện Đồng Hỷ
Tỉnh Thái Nguyên, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa