Y HỌC THỰC HÀNH (893) - SỐ 11/2013
109
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA METHOTREXAT TRONG ĐIỀU TRỊ
CHỬA NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
TUYÊN QUANG
VƯƠNG TIẾN HÒA, NGUYỄN THỊ HẰNG
TÓM TẮT
Sử dụng MTX để điều trị CNTC chưa được thực
hiện tại tuyến tỉnh, vì vậy nghiên cứu này được thực
hiện tại Bệnh viện đa khoa Tuyên Quang với mục
tiêu: Đánh giá hiệu quả và tác dụng không mong
muốn của MTX trong điều trị CNTC. Phương pháp
hồi cứu với cỡ mẫu là 149 bệnh nhân bị CNTC chưa
vỡ, được tiêm MTX với liểu 50mg/bệnh nhân từ 1 đến
3 lần. Kết quả chung: tỷ lệ điều trị thành công chung
là 88,6%, thất bại 11,4%. Tỷ lệ thành công ở mũi tiêm
thứ nhất là 71,8%. Tỷ lệ thành công ở mũi tiêm thứ 2
là 69,0%. Tỷ lệ thành công ở mũi tiêm thứ 3 là 71,4%.
Tác dụng không mong muốn.
Buồn nôn chiếm tỷ lệ 3,4%, đau đầu nhẹ (2,0%)
và mệt mỏi, chóng mặt (2.0%). Các triệu chứng này
giảm dần và tự hết sau 2 dến 3 ngày dùng thuốc.
cho những người phụ nữ còn có nhu cầu có con.
Năm 2002, Vương Tiến Hòa nghiên cứu những yếu
tố chẩn đoán sớm CNTC [2], góp phần tạo điều kiện
cho lựa chọn bệnh nhân để điều trị MTX
Tại Việt Nam, năm 2000 Tạ Thị Thanh
Thủy đã điều trị 95 bệnh nhân bị
CNTC tại bệnh viện Phụ sản Hùng
Vương, thành phố Hồ Chí Minh, tỷ
lệ thành công là 90.9% [5,6]. Bệnh
viện Phụ sản Hải Phòng, năm 2004
Nguyễn Văn Học đã tiến hành
nghiên cứu trong 3 năm trên 103
bệnh nhân và tỷ lệ thành công
83.5% [3]. Bệnh viện Phụ sản
Trung ương năm 2006 Vũ Thanh
Vân nghiên cứu trên 105 bệnh nhân
tỷ lệ thành công 91.4% [8]. Năm
2007 tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội,
Phùng Thị Lan Anh nghiên cứu
trên 45 bệnh nhân tỷ lệ thành công
là 91,1% [1]. Năm 2010, nghiên cứu
của Hà Minh Tuấn tại bệnh viện
Phụ sản Trung ương trên 425 bệnh
nhân tỷ lệ thành công 87.1% [7].
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu áp
dụng MTX để điều trị CNTC ở
tuyến tỉnh. Khoa Sản bệnh viện Đa
khoa Tuyên Quang đã áp dụng
phương pháp điều trị nội khoa
chửa ngoài tử cung chưa vỡ bằng
110
- Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang, được thực
hiện tại Tại khoa Sản bệnh viện Đa khoa Tuyên
Quang. Cỡ mẫu lấy theo thời gian: toàn bộ những hồ
sơ thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu
trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 8/2012,
theo phác đồ: tiêm bắp MTX 1mg/kg cân nặng/lần, tối
đa 3 lần.
Các yếu tố nghiên cứu: Tình trạng khối thai khi
vào viện, nồng độ βhCG khi vào viện, nồng độ βhCG
sau mỗi lần tiêm βhCG, tình trạng bệnh nhân khi ra
viện, Các tác dụng không mong muốn như buồn nôn,
nôn, tiêu chảy, hoa mắt chóng mặt…
Hiệu quả điều trị: Đánh giá thông qua sự thay đổi
nồng độ βhCG sau mũi tiêm thứ nhất, sau mũi tiêm
thứ 2 và sau mũi tiêm thứ 3.
Tác dụng không mong muốn được ghi nhận trong
quá trình điều trị: Buồn nôn và nôn, đau đầu, mệt
mỏi, hoa mắt, hay chóng mặt, giảm 3 dòng (hồng
cầu, bạch cầu, tiểu cầu), ngộ độc.
Thu thập số liệu: Lập phiếu thu thập số liệu dựa
trên các biến nghiên cứu, phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu. Thu thập số liệu có sẵn từ bệnh án được
lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Đa
khoa Tuyên Quang trong thời gian nghiên cứu.
Thực hiện nghiên cứu:
Trước khi điều trị bệnh nhân được định lượng
βhCG.
Ngày thứ 4 sau tiêm bệnh nhân được định lượng
< 15 IU/L.
- Thất bại: βhCG tăng hoặc không giảm sau 3 lần
tiêm. Bệnh nhân có dấu hiệu vỡ phải chu phẫu thuật.
Đánh giá mức độ tăng giảm nồng độ βhCG sau
tiêm:
- Nồng độ βhCG được coi là giảm nhanh khi nồng
độ βhCG giảm > 30% so với lần xét nghiệm trước đó.
- Nồng độ βhCG được coi là giảm chậm khi nồng
độ βhCG giảm từ 0 -30% so với lần xét nghiệm
trước.
- Nồng độ βhCG được coi là tăng nhanh khi nồng
độ βhCG tăng >30% so với lần xét nghiệm trước.
- Nồng độ βhCG được coi là tăng chậm khi nồng
độ βhCG tăng từ 0-30% so với lần xét nghiệm trước.
3. Xử lý số liệu
Sử dụng test χ2 để kiểm định khi so sánh giữa
các yếu tố nghiên cứu với giá trị p. Với độ tin cậy
95%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu p < 0,05
và không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Kích thước khối chửa
Bảng 1. Kích thước khối chửa trên siêu âm trước
điều trị
STT Kích thước khối chửa (cm)
n
(bệnh nhân)
Tỷ lệ
(%)
1 ≤ 1,5 52 34,9
2 1,6 - ≤ 3 97 65,1
Sự thay đổi
nồng độ
βhCG (IU/l)
Giảm
>30%
Giảm
0-30%
Tăng
0-30%
Tăng
> 30%
Tổng
số
Sau 4
ngày
n
74
33
31
11
149
% 49,7 22,1 20,8 7,4 100
111
βhCG giảm nhanh >30% (74/149) chiếm 49,7%. Số
còn lại giảm chậm và tăng số này cần theo dõi và
định lượng tiếp vào ngày thứ 7.
Ngày thứ 7: 149 bệnh nhân được định lượng lại
βhCG có:
93 bệnh nhân giảm nhanh >30% chiếm tỷ lệ
62,4% trong đó có 21 bệnh nhân có βhCG < 45 IU/l
số này được xuất viện. Còn 72 bệnh nhân được theo
dõi tiếp.
Có 29 bệnh nhân có βhCG không thay đổi và tăng
< 30% được chỉ định tiêm mũi 2.
13 bệnh nhân có βhCG tăng >30% só bệnh nhân
này có dấu hiệu đau bụng nhiều, rong huyết, siêu âm
đầu dò có dịch cùng đồ, kích thước khối chửa tăng.
Những bệnh nhân này được chỉ định mổ cấp cứu.
14 bệnh nhân giảm chậm <30% số này được theo
dõi tiếp.
Ngày thứ 14:
Có 86 bệnh nhân được định lượng lại βhCG trong
đó có 79 bệnh nhân có nồng độ βhCG giảm >30% và
có βhCG < 45 IU/l, huyết động ổn định được xuất
viện.
Còn 7 bệnh nhân giảm chậm được theo dõi tiếp.
Ngày thứ 21: 7 bệnh nhân được định lượng lại
βhCG điều giảm nhanh và có βhCG < 15 IU/l và
được xuất viện.
Thay đổi nồng độ βhCG của bệnh nhân sau mũi
13
7
2
0
22
% 59,1 31,8 9,1 0 100
Sau 14
ngày
n 2 0 0 0 2
% 100 0 0 0 100
Sau 21
ngày
n 0 0 0 0 0
%
0
0
0
0
0
0-30%
Tăng
0-30%
Tăng
> 30%
Tổng
số
Sau 4
ngày
n 5 2 0 0 7
% 71,4 28,6 0 0 100
Sau 7
ngày
n 2 2 0 0 4
% 50,0 50,0 0 0 100
Sau 14
ngày
n 0 0 2 0 2
% 0 0 100 0 100
Sau 21
ngày
n 0 0 0 0 0
%
0
0
Bảng 7. Kết quả điều trị sau lần tiêm thứ 2
Mũi tiêm thứ 2 n %
Thành công
20
69,0
Thất bại (chuyển mổ) 2 6,9
Chỉ định tiêm mũi 3 7 24,1
Tổng 29 100
Bảng 8. Kết quả điều trị sau lần tiêm thứ 3
Mũi tiêm thứ 3 n %
Thành công 5 71,4
Thất bại (chuyển mổ) 2 28,6
Tổng 7 100
Qua kết quả được trình bày ở các bảng 15, 16, 17
cho thấy tỷ lệ thành công ở mũi tiêm thứ nhất là
71,8%, mũi tiêm thứ 2 tỷ lệ thành công chiếm 69,0%
và mũi tiêm thứ 3 là 71,4%. Sự khác biệt về kết quả
điều trị theo số mũi tiêm không có ý nghĩa thống kê
với P>0,05.
5. Tỷ lệ thành công theo số lần đưa thuốc
Bảng 9. Tỷ lệ thành công theo số lần đưa thuốc
Y HỌC THỰC HÀNH (893) - SỐ 11/2013
ệnh nhân)
Tỷ lệ
(%)
Thành công 132 88,6
Thất bại 17 11,4
Tổng số 149 100
Nhận xét: Điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX
thành công với tỷ lệ 88,6% và thất bại 11,4%.
6. Tác dụng không mong muốn trong quá trình
điều trị bằng MTX
Bảng 11. Tác dụng không mong muốn của MTX
Triệu chứng Có Không Tổng
Buồn nôn và nôn
n 5 144 149
% 3,4 96,6 100
Đau đầu
n 3 146 149
% 2,0 98,0 100
Mệt mỏi, hoa mắt,
hay chóng mặt.
n 3 146 149
%
2,0
98,8
100
ngày 7, [9], [3], [8]. Trong những nghiên cứu gần đây
của Thurman và Hà Minh Tuấn, bệnh nhân sẽ được
định lượng lại βhCG vào ngày thứ 7 sau tiêm MTX
[7]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho bệnh nhân
xét nghiệm lại βhCG vào ngày 4, ngày 7, ngày 14 và
ngày 21 để theo dõi, kiểm soát chặt chẽ sự thay đổi
của nồng độ βhCG sau tiêm và có thể tiên lượng, dự
báo sự cần thiết đối với mũi tiêm MTX thứ 2. Chúng
tôi không định lượng lại nồng độ βhCG vào ngày 2 vì
theo một số tác giả trong và ngoài nước cho rằng giá
trị này ít có ý nghĩa. Theo nghiên cứu của Phùng Thị
Lan Anh nồng độ βhCG của ngày thứ 4 sau tiêm để
tiên lượng và có hướng điều trị tiếp theo [1].
Theo dõi sau mũi tiêm thứ nhất 4 ngày, số bệnh
nhân có βhCG giảm nhanh >30% (74/149) chiếm tỷ
lệ 49,7%. Số còn lại giảm chậm và tăng số này cần
theo dõi và định lượng tiếp vào ngày thứ 7.
Ở ngày thứ 7: 149 bệnh nhân được định lượng lại
βhCG có: 93 bệnh nhân giảm nhanh >30% chiếm tỷ
lệ 62,4% trong đó có 21 bệnh nhân có βhCG < 45
IU/l, không ra huyết, triệu chứng đau bụng giảm nên
số này được xuất viện. Còn 72 bệnh nhân được theo
dõi tiếp. Có 29 bệnh nhân có βhCG không thay đổi và
tăng < 30% được chỉ định tiêm mũi 2. Có 13 bệnh
nhân có βhCG tăng > 30% số bệnh nhân này có dấu
hiệu đau bụng nhiều, rong huyết, siêu âm đầu dò có
dịch cùng đồ kích thước khối chửa tăng. Những bệnh
nhân này được chỉ định mổ cấp cứu. Có 14 bệnh
nhân giảm chậm <30% số này được theo dõi tiếp.
Ngày thứ 14 có 86 bệnh nhân được định lượng lại
tiêm mũi 3.
Ngày thứ 14: có 2 bệnh nhân được định lượng lại
βhCG đều có βhCG < 15 IU/l được xuất viện.
Như vậy sau mũi tiêm MTX thứ hai, tỷ lệ điều trị
thành công chiếm tỷ lệ 69,0 %, thất bại chiếm tỷ lệ
Y HỌC THỰC HÀNH (893) - SỐ 11/2013
113
6,9 % và có 24,1 % (7/29) bệnh nhân được chỉ định
tiêm mũi thứ 3.
3. Thay đổi nồng độ βhCG của bệnh nhân sau
lần đưa thuốc thứ 3
Ngày thứ 4: 7 bệnh nhân sau tiêm mũi 3 có 5
bệnh nhân có nồng độ βhCG giảm nhanh > 30%
trong đó có 3 bệnh nhân có nồng độ βhCG < 25 IU/l
số này được xuất viện. 2 bệnh nhân giảm chậm > 5%
và có nồng độ βhCG > 400 IU/l số này được theo dõi
tiếp.
Ngày thứ 7: Có 4 bệnh nhân được định lượng lại
βhCG có 2 bệnh nhân giảm nhanh có βhCG < 15 IU/l,
những bệnh nhân này được xuất viện. 2 bệnh nhân
còn lại có βhCG không thay đổi so với kết quả định
lượng ngày thứ 4, số này được theo dõi tiếp vào
ngày thứ 14.
- Nhóm tiêm 3 lần MTX thành công 71,4%.
Sự khác biệt về tỷ lệ điều trị thành công giữa các
nhóm không có ý nghĩa thống kê với P < 0,05. Như
vậy không phải cứ tiêm nhiều liều MTX thì tỷ lệ điều
trị thành công càng cao. Theo nghiên cứu của
Barnhart, điều trị một liều MTX duy nhất tỷ lệ thành
công là 87,0%.
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với xu hướng
hiện nay đang được khuyến cáo là điều trị CNTC
chưa vỡ bằng một liều đơn duy nhất. Theo nghiên
cứu của Lipscom GH; Gungorduk K và cộng sự so
sánh điều trị CNTC bằng 1 liều duy nhất hoặc nhiều
liều MTX thì kết quả không có sự khác biệt đáng kể.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thuốc
theo phác đồ điều trị của bệnh viên Phụ Sản Trung
Ương: dùng thuốc theo đường tiêm bắp với liều
1mg/kg cân nặng/1 lần. Các bệnh nhân trog nghiên
cứu đa số có cân nặng từ 42 đến 55 kg, do vậy
chúng tôi sử dụng liều chung cho mỗi bệnh nhân là
50mg (1 lọ).
4.2. Kết quả điều trị chung
Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ điều trị:
Tỷ lệ điều trị thành công là 88,6%, trong đó điều trị
một lần chiếm tỷ lệ 81,1%, điều trị 2 lần chiếm tỷ lệ
15,1%, điều trị 3 lần chiếm tỷ lệ 3,8% trong tổng số
bệnh nhân điều trị thành công.
Thất bại 11,4%, những bệnh nhân này đều được
chuyển phẫu thuật nội soi.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như
kết quả nghiên cứu của Hà Minh Tuấn [7], nhưng lại
trường hợp đau đầu nhẹ (2,0%) và 3 bệnh nhân mệt
mỏi, chóng mặt (2.0%). Các triệu chứng này thường
xuất hiện rải rác, không thường xuyên sau đó giảm
dần và tự hết sau 2 dến 3 ngày dùng thuốc điều trị
triệu chứng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của
Nguyễn Văn Học, Tạ Thị Thanh Thủy, Ling, Stovall, tất
cả đều ghi nhận chỉ có tác dụng phụ thoáng qua và
không có trường hợp nào bị ngộ độc [3], [5], [9], [10].
KẾT LUẬN
1. Kết quả điều trị
Tỷ lệ điều trị thành công chung là 88,6%.
Thất bại 11,4%, chuyển phẫu thuật nội soi.
Thành công mũi 1 là 81,1%, trong số này tỷ lệ
bệnh nhân phải tiêm 2 mũi là 15,1%, và tiêm 3 mũi là
3,8%.
Kết quả điều trị thành công sau lần tiêm thuốc thứ
Y HỌC THỰC HÀNH (893) - SỐ 11/2013
114
nhất.
Tỷ lệ thành công ở mũi tiêm thứ nhất là 71,8%. 21
bệnh nhân xuất viện sau 7 ngày, 79 bệnh nhân được
xuất viện sau 14 ngày, 7 bệnh nhân xuất viện sau 21
ngày. Có 13 trường hợp thất bại phải phẫu thuật
Nên áp dụng rộng rãi phương pháp điều trị này
với các bệnh viện tuyến tỉnh có siêu âm đầu dò âm
đạo và xét nghiệm định lượng nồng độ βhCG.
Chỉ định điều trị CNTC chưa vỡ ở những bệnh
nhân có kích thước khối chửa trên siêu âm ≤ 3cm và
nồng độ βhCG ≤ 5000 IU/l là phù hợp.
Cơ sở điều trị phải có máy định lượng được
βhCG và máy siêu âm đầu dò âm đạo, cán bộ có kinh
nghiệm siêu âm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phùng Thị Lan Anh (2007), “Đánh giá hiệu quả và
độ an toàn của Methotrexat trong điều trị nội khoa chửa
ngoài tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội”, Luận văn
thạc sỹ Dược học, Đại học Dược, Hà Nội.
2. Vương Tiến Hòa (2003), “Nghiên cứu một số yếu
tố góp phần chẩn đoán sớm chửa ngoài tử cung”, Luận
án tiến sỹ y học, Đại học Y Hà Nội, tr. 69 - 112.
3. Nguyễn Văn Học (2004), “Nghiên cứu sử dụng
Methotrexat trong điều trị chửa ngoài tử cung chưa vỡ
tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng”, Luận án tiến sỹ y
học, Học viện quân y, Hà Nội.
4. Đỗ Thị Ngọc Lan (2007), “Nghiên cứu điều trị chửa
ngoài tử cung bằng Methotrexat tại Bệnh viện Phụ Sản
Trung ương”, Đề tài cấp cơ sở Bệnh viện Phụ sản Trung
ương.
Tạ Thị Thanh Thủy, Đỗ Danh Toàn (2001), “Đánh giá
bước đầu điều trị chửa ngoài tử cung chưa vỡ bằng
Methotrexat tại Bệnh viện Phụ sản Hùng Vương, thành
phố Hồ Chí Minh”, Tạp trí sản phụ khoa 2001, tr. 58 - 64.
5. Tạ Thị Thanh Thủy, Đỗ Danh Toàn (2004), “ Điều
Y HC THC HNH (893) - S 11/2013
2
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM TổN THƯƠNG GIảI PHẫU BệNH
TRONG PHẫU THUậT UNG THƯ Dạ DàY Có VéT HạCH D2
Nguyễn Quang Bộ - NCS Trng i hc Y- Dc Hu
Lê Mạnh Hà - Khoa Ngoi Tiờu húa - BVTW Hu
TểM TT
Mc tiờu: Nhn xột mi liờn quan cỏc c im
tn thng gii phu bnh ung th d dy c phu
thut v ỏnh giỏ kt qu bc u ca phu thut
ung th d dy cú vột hch mc D2. i tng v
phng phỏp nghiờn cu: Nghiờn cu c thc
hin 56 trng hp c chn oỏn ung th d
dy v c iu tr phu thut ct on hoc ct
ton b d dy kốm vột hch D2. tin hnh xỏc nh
v trớ, kớch thc, hỡnh th v ỏnh giỏ gii phu bnh
khi u. Thi gian thc hin t thỏng 1/2012 n thỏng
7/2013. Phng phỏp mụ t tin cu. Kt qu: U
hang mụn v 62,5%, b cong nh 30,3%, b cong v
LYMPHADENECTOMY
Objective: The goal of this study is to consider
the morphological features and correlativeness of
gastric cancer patients who operated at digestive
Surgical Depatment in Hue Central Hospital from
January 2012 to July 2013. In the other hand, for
gastric cancer surgery with D2 lymph node
dissection, We had been valuted the early result of
this technique. Patients and methods: The study on
46 cases underwent partial or total gastrectomy with
D2 limphadenectomy. We were examined identify the
location, size, macroscopic appearance and
anapathology. Result: Morbid anatomy after
operation: The tumor were found most at antrum and
pylorus (62,5%), lesser curvature (30,3%); the tumor
size >5 cm 51,8%; the ulcerative type 53,6%, the
swelling type 28,6%, the diffusely infiltrating type
7,8%; most found adenocacrcinoma 96,4% with
highest rate of little tubular adenocarcinoma 63%,
higher diferentation: 35,2%, median diferentation:
27,8%. Classification by disease phase : The most
disease phase is phase III (53,57%). incidence of
metastasis lymh node in D2 lymphadenectomy wase
80,4%. Result of treatment by early surgery: The
postoperative mortality and morbidity rate were 0%
and 8,9%. Life duartion with treament periods of 6-9
months; over 9 to 12 months; over 12-15 months;
over 15 to 18 months are (91.1%; 80.4%; 72%; 64%),
respectively. Conclusion: the histopathological
typing and macroscopic findings play an very