BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
S D ÊO leg—
-
LÊ THỊ TUYẾT LAN
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CÔNG TY DƯỢC PHẨM NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
THỜI GIAN 2000-2002.
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 1998-2003)
Người hướng dẫn : PGS.TS Lê Viết Hùng
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý kinh tế dược.
Thời gian thực hiện : 3 - 5/2003
HÀ NỘI - tháng 6, năm 2003.
\ịziĩ '9
Nhân dịp hoàn thành khoá luận, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tói:
Thầy giáo: PGS.TS Lê Viết Hùng - Phó hiệu trưởng trường Đại học Dược
Hà Nội.
Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Thái Hằng cùng toàn thể các thầy cô giáo trong bộ
môn Quản lý kinh tế dược.
- Các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội.
- Các cán bộ Cục quản lý dược - Bộ y tế.
- Các anh, chị trình dược viên của các công ty dược phẩm nước ngoài.
- Cha mẹ, bạn bè, và người thân.
Những người đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất và động viên em trong
suốt thời gian làm khoá luận.
Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2003.
Sinh viên
2.2.1 Doanh số bán của CTDPNN tại một số nước trong khu vực Asean 32
2.2.2 Doanh số bán của CTDPNN tại Việt Nam giai đoạn 2000-2002 34
3. Phân tích việc vận dụng chiến lược Marketing của một số
CTDPNN tại Việt nam.
3.1 Chính sách sản phẩm 36
3.2 Chính sách giá cả 39
3.3 Chính sách phân phối 42
3.4 Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh ' 45
Bàn luận 49
Kết luận - Kiến nghị 51
QUI ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
CTDPNN
DSB
GMP(Good manufacturing Practice)
GSP (Good storage Practice)
OTC(Over the counter)
KST
SDK
TT-QC
TNHH
TTY
VPĐD
VH-YT-GD
XNK
Bộ Y Tế
Công ty dược phẩm nước ngoài
Doanh số bán
Thực hành sản xuất thuốc tốt
Thực hành tồn trữ thuốc tốt.
Nam thời gian 2000-2002 với 3 mục tiêu chính:
• Khảo sát đánh giá hoạt động của các CTDPNN tại Việt Nam giai đoạn
2000- 2002.
• Phân tích việc vận dụng chiến lược Marketing của một số công ty dược phẩm
nước ngoài tại Việt Nam.
• Nhận xét, đánh giá và đề xuất một số ý kiến góp phẩn vào công tác quản lý thị
trường thuốc, quản lý hoạt động của các công ty dược nước ngoài và]ìỉâng cao
năng lực cạnh tranh của công ty dược Việt Namị
1
PHẦN I : TỔNG QUAN
1. Vài nét về thị trường dược phẩm thê giới:
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt liên quan trực tiếp tới sức khoẻ con người do
đó đòi hỏi phải có chất lượng cao, chi phí dành cho nghiên cứu lớn đặc biệt trong tình
hình hiện nay có sự xuất hiện nhiều loại bệnh mới và tình trạng kháng thuốc ngày càng
tăng. [21]Theo kết luận của một nghiên cứu thuốc của Boston, Mỹ, chi phí trung bình để
triển khai một thuốc mói đã tàng lên gấp đôi trong thập kỷ qua, tới 802 triệu USD, mà
việc tăng chi phí chủ yếu là để thử lâm sàng. Hàng năm các công ty đã phải bỏ ra một số
tiền lớn dành cho nghiên cứu thuốc mới, nhưng thuốc cũng là loại hàng hoá siêu lợi
nhuận, doanh số bán sẽ nhanh chóng bù đắp được chi phí mà các công ty đã bỏ ra.
1.1 Doanh sô bán thuốc trên thế giới: tăng nhanh qua các năm, từ 100 tỷ USD (năm
1986) lên 350,0 tỷ USD (năm 2000) & 400,6 tỷ USD (năm 2002); tốc độ tăng doanh số
trung bình 8-10% năm.
Bảng 1- Doanh sô bán thuốc toàn thế giới. [29,30]
Năm
Doanh số toàn thế giới
(tỷ USD)
Tỷ lệ tăng trưởng %
(nhịp cơ sở)
1986
100,0
thụ thuốc của thế giới sẽ còn tiếp tục tăng lên trên 500 tỷ USD trong vài năm tới.[29]
Tuy nhiên doanh số bán (DSB) vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào một số nhóm thuốc:
thuốc tim mạch, thuốc tác dụng trên đường tiêu hoá, thuốc tác đụng lên thần kinh trung
ương và tâm thần, thuốc chống viêm giảm đau non-steroid, thuốc chống đái tháo
đường
Bảng 2-10 nhóm thuốc đứng đầu về doanh sô bán năm 2002
TT
Nhóm thuốc
Doanh số 2002
(tỷ USD)
% doanh số
toàn cầu
% tăng trưởng
so 2001
1 Chống loét
21,9
6 +9
2
Hạ cholesterol & triglycerid
21,7
5
+12
3 Chống trầm cảm 17,1
4 +5
4 Thuốc chống viêm non-steroid
11,3
3
+1
5
Kháng Calci
thay thế bởi nhóm Erythropoietins (thuốc tạo máu). Và chỉ riêng top 10 nhóm sản phẩm
này đã chiếm 31% tổng DSB toàn thế giới năm 2002, trong đó nhóm thuốc chống loét
vẫn giữ vị trí số 1 trong vòng 5 năm qua nhưng vị trí này có thể thay đổi vào năm 2003
do sự cạnh tranh của thuốc Generic với sản phẩm Prilosec/Losec(Omeprazol) của
AstraZeneca, và thay thế nó sẽ là nhóm thuốc hạ Cholesterol & Triglycerit với một loạt
các sản phẩm đạt doanh số bán cao như: Lipitor(atorvastatin) của Pfizer,
Zocor(simvastatin) của Merk & Co [28]
Nhưng nếu xét về tốc độ tăng DSB thì nhóm thuốc chống loạn tâm thần là nhóm
tăng trưởng mạnh nhất (19%) và dẫn đầu là sản phẩm Zyprexa (olanzepin) của Eli Lilly.
Bảng 3-10 sản phẩm dẫn đầu về doanh số bán năm 2002
Vị trí
Biệt dược
DSB năm 2002
(tỷ USD)
% tăng trưởng
so 2001
% DSB
toàn cầu
1(1)
Lipitor
8,6 +20
2,15
2(3) Zocor
6,2 +13
1,55
3(2)
Losec/Prilosec
5,2 -19
1,30
4(6) Zyprexa
1.2 Tiều dùng thuốc trên thế giới
Sự phân bố tiêu dùng thuốc trên thế giới không đồng đều giữa các nước, các khu
vực:
Bảng 4- Doanh số bán của 13 thị trường dẫn đầu (11/2001-11/2002).
Khu vực DSB
% tăng Khu vực
DSB
% tăng
(tỷ USD)
trưởng
(tỷ USD) trưởng
Bác Mỹ
152,9
+12
Nhật
46,7 +1
Mỹ
145,9
+11
Canada
7,0
+15
Châu Au(top 5)
59,1
+6
Mỹ la tinh(top 3)
11,3
-13
Đức
17,2
Bản tuy là nước chỉ xếp thứ 2 về doanh số bán và tốc độ tăng trưởng chậm chỉ có 1%
nhưng lại là nước dẫn đầu về tiền thuốc bình quân đầu người/năm: 348 USD (năm
2000). Riẽng khu vực Mỹ la tinh DSB giảm mạnh do sự suy yếu kinh tế ở một số nước.
Trong khi đó các nước nghèo, kém phát triển ở châu Á, Phi, Mỹ la tinh có tỉ lệ
dân cư cao nhưng DSB chiếm chưa tói 10%, tiêu dùng thuốc bình quân/người/năm ở
mức rất thấp từ một tới vài chục đô la. Sở dĩ có sự khác biệt như trên là do có sự khác
nhau về: mức độ phát triển kinh tế, mô hình bệnh tật, thu nhập bình quân. Cụ thể: [15]
Chỉ tiêu
Nước phát triển
Nước đang phát triển
Ngân sách dành cho y tế
Cao
Thấp
GDP/người/năm
Cao
Thấp
Mô hình bệnh tật chủ yếu
Bệnh thần kinh, tiêu hoá, tim
mạch, tiết niệu
Bệnh nhiễm khuẩn & kí
sinh trùng
1.3 Tỉnh hình hoạt động, kinh doanh của những hãng dược phẩm lớn trên thê
*w»:[31][32][33]
1.3.1 Liên minh - sát nhập giữa các hãng dược phẩm
Trong những năm gần đây do cạnh tranh gay gắt & đầu tư cho nghiên cứu thuốc
mới ngày càng lớn nên có nhiều hãng đã sát nhập hoặc liên doanh với nhau nhằm tăng
khả năng cạnh tranh.
*Hai công ty tiêu biểu cho sự thành công của sự sát nhập là:
+ GlaxoSmithKline(GSK) = GlaxoWellcome + Smith Kline Beecham
+ Pfizer mua Warner Lambert
Co, Losec của AstraZeneca, Cipro của Bayer Theo Merrill Lynch, doanh số bán của
thuốc Generic trên toàn thế giới đã đạt 11,2 tỷ USD trong năm 2000 và dự đoán sẽ tăng
trưởng ít nhất 15% trong 2-3 năm tới.
Với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sinh học như hiện nay ngành
công nghiệp dược sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa, nhiều thuốc mới sẽ được đưa ra thị
trường, tăng trưởng doanh số bán sẽ còn đạt ở mức cao trong vài năm tới và cạnh tranh
giữa các hãng dược phẩm cũng ngày càng gay gắt hơn.
6
2. Khái quát về thị trường thuốc trong nước với sự có mặt của CTDPNN
Sự xuất hiện của thuốc ngoại trên thị trường Việt nam đã tạo ra không khí cạnh
tranh sôi động, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp dược trong nước đổi mới về mọi
mặt: tổ chức quản lý, con người, dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao chất lượng
thuốc, đa dạng hoá sản phẩm > tăng sức cạnh tranh.
Việc mở rộng quan hệ hợp tác với các CTDPNN cũng giúp doanh nghiệp dược
Việt nam tiếp cận nhanh với kỹ thuật mới, đổi mới trang thiết bị; khai thác nguồn vốn,
kỹ thuật, khả năng tổ chức của công ty nước ngoài áp dụng vào sản xuất trong nước.
Nhờ những đổi mới đó trong những năm qua, ngành Dược Việt Nam tăng trưởng
không ngừng và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ như:
- Thuốc trong nước ngày càng tăng về chủng loại, chất lượng ngày càng tốt hơn.
Năm 1995 công nghiệp dược nội địa mới chỉ sản xuất dược phẩm dựa trên cơ sở 80 hoạt
chất, đến năm 2002 đã sử dụng 384 hoạt chất, nhiều dạng bào chế mới đã sản xuất thành
công: viên nang mềm, thuốc tiêm đông khô, các loại dịch truyền chất lượng cao, thuốc
phun mù, dạng gel bôi ngoài da Tính đến cuối năm 2002 cả nước có 31 cơ sở sản xuất
dược phẩm đạt GMP (Good Manufacturing Practice), trong đó miền Bắc có 8 cơ sở,
miền Trung có 2 cơ sở, miền Nam có 21 cơ sở. Các dự án liên doanh sản xuất thuốc giữa
các hãng dược phẩm nước ngoài với doanh nghiệp sản xuất dược trong nước đã góp phần
nâng cao chất lượng thuốc, hạ giá thành sản phẩm.[12]
- Tiêu dùng thuốc bình quân/người/năm tăng nhanh qua mỗi năm:
Bảng 5- Tiêu dùng thuốc bình quân đầu người qua một sô năm
Chỉ tiêu
114,06
1998
1485,17 120,50
105,65
1999
1727,50
140,16
116,32
2000
2314,81 187,81
133,99
2001
2657,415 191,27
114,80
2002
3144,158 255,10
118,32
Nguồn : Niên giám thống kê y tế- Cục quản lý dược
Mặc dù sản xuất thuốc trong nước đã có nhiểu tiến bộ như vậy nhưng thuốc ngoại
vẫn chiếm hơn 60% giá trị sử dụng hàng năm, mỗi năm nhà nước phải chi hàng trăm
triệu đô la để nhập khẩu thuốc ngoại chủ yếu là thuốc thành phẩm phục vụ cho nhu cầu
chữa bệnh trong nước.
Bảng 7- Giá trị xuất-nhập khẩu thuốc qua một sô năm 1997-2002.
Đơn vị: Ỉ000USD
Năm
Nhập khẩu
Xuất khẩu
Tỷ lệ NK/XK
(lần)
Giá trị
102,2
38,5
Nguồn: Cục quản lý dược - Bộ y tế.
Có thể thấy giá trị nhập khẩu có xu hướng tăng lên và lớn hơn rất nhiều so với giá
trị xuất khẩu, tỷ lệ NK/XK rất cao trên dưới 30 lần. Giá trị xuất khẩu năm 2001 & 2002
giảm so với năm liền kề trước đó, tuy nhiên cơ cấu hàng xuất khẩu đã chuyển đổi tích
cực theo hướng tăng trị giá thuốc thành phẩm tân dược và đông dược; đặc biệt năm
8
2002 là năm đầu tiên xuất khẩu được 20 tấn ampicilline nguyên liệu sang thị trường
châu Âu. [12]
Nguồn thuốc đáp ứng cho nhu cầu điều trị bệnh chủ yếu vẫn là thuốc nhập ngoại,
chính vì vậy hoạt động của các CTDPNN có ảnh hưởng rất lớn đối với thị trường thuốc
Việt Nam. Đặc biệt nhờ áp dụng chính sách Marketing thích hợp các CTDPNN đã thực
sự xây dựng được màng lưới phân phối rộng, đạt doanh số bán ngày càng cao, giữ được
uy tín trên thị trường, có ảnh hưởng lớn tới tâm lý người tiêu dùng Việt Nam.
Hoạt động quảng cáo tiếp thị của các CTDPNN, một mặt giúp các bác sỹ, dược
sỹ tiếp cận được nhanh chóng vói thuốc mới, thuốc chất lượng tốt và tham gia hướng dẫn
sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; nhưng mặt khác, do chạy theo lợi nhuận trước mắt một số
bác sỹ đã kê đơn thuốc bất hợp lý, hoặc không cần thiết, hoặc chỉ cần sử dụng thuốc nội
cũng có được tác dụng tốt nhưng giá lại rẻ hơn nhiều lần. Chính vì vậy cần có biện pháp
thích hợp ngăn chặn tình trạng này, đồng thời tuyên truyền, nâng cao kiến thức về sức
khoẻ, bệnh tật, trách nhiệm nghề nghiệp của bác sỹ, dược sỹ.
3. Các văn bản pháp lý có liên quan tới hoạt động của CTDPNN tại Việt Nam.[17]
3.1 Quy định chung liên quan đến doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh
vực Dược ở Việt Nam:
Thuốc là loại hàng hoá kinh doanh có điều kiện do Bộ Y Tế Việt Nam quản lý
chuyên ngành nhằm đảm bảo nguồn thuốc nhập khẩu có chất lượng, an toàn & hiệu quả
cho người sử dụng. Do đó tất cả các doanh nghiệp nước ngoài muốn thiết lập quan hệ
buôn bán với Việt nam trong lĩnh vực dược trước hết phải có đăng kí doanh nghiệp
nước ngoài theo ‘Thông tư của BYT số 17'120011BYT-7T ngày 1 tháng 8 năm 2001
lên nhãn gốc nhưng không được che lấp phần thông tin chính của nhãn gốc.
- Tất cả thuốc thành phẩm đều phải có tờ hướng dẫn sử dụng ghi bằng tiếng Việt,
kèm theo bao bì thương phẩm nếu nội dung nhãn trên bao bì thương phẩm không thể
hiện được đầy đủ nội dung yêu cầu của hướng dẫn sử dụng.
3.2.3 Quy chế quản lý chất lượng thuốc:
ị Ban hành kèm theo quyết định 241211998ÌQĐ-BYT ngày 15 tháng 9 năm 1998
của Bộ trưởng Bộ y tế).
- Tất cả các thuốc, thuộc bất cứ nguồn gốc nào, phải được kiểm tra chất lượng
mới được sản xuất, lưu hành & sử dụng cho người bệnh nhằm đảm bảo an toàn cho
người sử dụng.
10
- Tổ chức, cá nhân nào vi phạm các qui định của Qui chế này hoặc lợi dụng chức
vụ, quyền hạn hoặc cản trở việc thực hiện quy chế thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử
lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp
luật.
3.2.4 Quy chế thông tin quảng cáo
Hiện nay các nhà sản xuất kinh doanh ngày càng đầu tư nhiều cho hoạt động
quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của mình để nâng cao doanh số bán. Để quản lý các hoạt
động thông tin quảng cáo thuốc Bộ Y Tế ban hành “Qui chế thông tin quảng cáo thuốc
dùng cho người và mỹ phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người ” theo quyết
định số2557120021QĐ-BYT.
Thông tin quảng cáo thuốc, mỹ phẩm phải trung thực, khách quan, chính xác
nhằm hướng dẫn sử dụng thuốc, mỹ phẩm được hợp lý, an toàn phù hợp vói chính sách
quốc gia về thuốc của Việt Nam. Nội dung thông tin phải đúng như hổ sơ đã được Cục
quản lý dược phê duyệt.
3.2.5 Danh mục các hoạt chất, dạng bào chế không nhận hồ sơ đăng ký mới và đăng
ký lại đôi với thuốc nước ngoài:
( Ban hành kèm theo quyết định số 3460/2002IQĐ-BYT của Bộ trưởng BYT ngày
171912002).
Danh mục này gồm 17 khoản: (Phụ lục 1)
12
PHẦN III
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
1- Khái quát chung về hoạt động của các công ty dược phẩm nước ngoài tại
Việt Nam thông qua số liệu thống kê hàng năm
1.1 Công ty nước ngoài đăng kí hoạt động trong lĩnh vực dược tại Việt Nam
1.1.1 Sô'lượng công ty dược phẩm nước ngoài:
Sự mở rộng quan hệ hợp tác thương mại quốc tế cùng với việc ban hành nhiều
chính sách tạo môi trường thuận lợi cho các công ty nước ngoài, sự tăng trưởng kinh tế
ổn định trong những năm qua là điều kiện để Việt Nam thu hút ngày càng nhiều công ty
dược nước ngoài vào đầu tư, kinh doanh thuốc.
Bảng 8- Số lượng các CTDPNN hoạt động ở Việt Nam qua các năm
Năm
Chỉ
1991
1997 1998 3/1999
3/2001 3/2002 12/2002
3/2003
Số lượng CTDPNN 51 213 221
237 212 223
246 241
Tỷ lệ gia tăng(%)
100,0 417,6 433,3
464,7 415,7 437,3
482,3
472,5
1991 1997 1998 Mar-99 Mar-01 Mar-02 Dec-02 Mar-03
Năm
Hình 1: Biểu đồ số lượng CTDPNN qua một sô năm
13
30
12,45
3
Hàn Quốc 18
8,50 15 6,72
28
11,62
4 Đức
19
8,96 18
8,07 17
7,05
5
Trung Quốc 12
5,66
20 8,96
15
6,22
6
Singapore 10
4,71
10 4,48
10
4,15
7
Hoa Kỳ 10
4,71 9
4,03
10
4,15
công ty trong 3 năm. Nhưng Ấn Độ, Hàn Quốc là hai nước có số công ty tăng mạnh nhất
A/
,y
trong năm 2002: An Độ tăng thêm 10 công ty, Hàn Quốc tăng 13 công ty và nhay từ vị
trí thứ 5 trong bảng xếp hạng số công ty năm 2001 lên vị trí thứ 3 năm 2002, do đó góp
phần làm cho tổng số công ty năm 2002 tăng cao hơn so năm 2001.
Đức, Singapore, Hoa Kỳ là những nước có số công ty rất ổn định, ít biến động
trong 3 năm qua; còn Trung Quốc lại là nước mà số công ty thay đổi thất thường hơn cả
từ 12 công ty năm 2000 lên 20 năm 2001 rồi lại giảm mạnh vào năm 2002 chỉ còn 15
công ty.
Tuy nhiên, số lượng công ty hàng đầu của Bắc Mỹ, Nhật, Tây Âu vào hoạt động
kinh doanh ở Việt Nam còn hạn chế mà chủ yếu là các công ty thuộc các nước châu Á,
bởi thuốc của những nước này thường có giá rẻ hơn phù hợp vói thu nhập và mức sống
của người dân Việt Nam.
1.2. Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dược ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tĩnh vực dược giai đoạn 2000-2002
Trong thời gian qua Việt Nam là điểm đến của các nhà đầu tư không chỉ nhờ vào
vị trí địa lý thuận lợi của mình, mà còn vì sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam: với môi
trường chính trị rất ổn định, xã hội trật tự & an toàn; dân số khoảng 80 triệu đứng thứ
hai trong khu vực các nước Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới, tỷ lệ biết chữ cao, chi
phí cho lao động rẻ; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao trong những năm qua, năm
2002 đạt 7,04% cao hơn so với tốc độ tăng trưởng trung bình trong khu vực (5%).
Chính vì vậy đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên tục tăng trong những năm qua.
Tuy nhiên, đầu tư trong lĩnh vực dược phẩm lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Bảng 10- Các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dược từ 2000-2002.
Đơn vị tính vốn đăng kí: triệu USD
"'x. Năm
Chỉ tiêĩì^x^
2000
2001 2002
523,7
1,34
41603,8
100,00
205
0,49
576,9
1,39
41960,8
100,00
Nguồn: Tài liệu [12][18][24]
Dược
0%
Dự án đầu tư năm 2001
Vốn đăng kí năm 2001
—■'"Ngành.
khác
99%
Hình 3: Biểu đồ so sánh đầu tư nước ngoài của ngành dược so với ngành khác
16
Rất dễ nhận thấy rằng: tổng số dự án cũng như tổng vốn đăng kí của đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào ngành dược chỉ là một con số rất nhỏ so với của cả nước, và cũng
chưa bằng một nửa so với đầu tư vào văn hoá-y tế-giáo dục (VH-YT-GD), tỷ lệ vốn đầu
tư so với cả nước năm 2001 không tăng so năm 2000; thêm vào đó số dự án cũng tăng
lên rất ít. Điều đó phản ánh một thực tế hiện nay là đầu tư vào sản xuất dược phẩm còn
rất ít được các CTDPNN quan tâm: năm 2001 không có thêm dự án nào, năm 2002 mặc
dù đã tăng thêm 4 dự án so với năm 2001 nhưng việc triển khai các dự án còn chậm.
1.2.2 Tình hình triển khai các dự án đầu tư nước ngoài
Trong số 246 công ty đăng kí hoạt động tại Việt Nam năm 2002 thì chỉ có 28
công ty có đầu tư (chiếm 11,62%) tương ứng với 28 dự án, còn lại đều là công ty buôn
Bảng 11- Tổng số đăng kí thuốc được cấp mới trong năm từ 1998-2002.
Năm
Thuốc nước ngoài Thuốc trong nước
1998 466
849
1999 688
1489
2000
769 1510
2001
1258 1370
2002 1182
1227
Tổng SDK còn hiêu
lực 31/12/2002'
4473
6184
10.927
Nguồn: Cục quản lý dược-Bộ Y tế.
Số lượng
1998 1999 2000 2001 2002 Năm
B Thuốc nước ngoài □ Thuốc trong nước
Hình 4: Biểu đồ sô lượng SDK cấp mới từ 1998-2002
18
Qua biểu đồ trên cho thấy, số lượng SDK được cấp mới hàng năm của thuốc nước
ngoài nhìn chung đều tăng nhanh qua mỗi năm và cao nhất vào năm 2001 với 1258
SDK, nhưng vẫn thấp hơn so với thuốc trong nước. Nếu như thời gian từ 1998-2000 số
lượng thuốc được cấp SDK trong mỗi năm của nước ngoài chỉ bằng gần một nửa so với
thuốc trong nước thì trong năm 2001 & 2002 con số này đã tăng mạnh và đạt gần bằng
với thuốc trong nước. Sở dĩ có sự thay đổi đó là do các công ty nước ngoài đã quyết định
869
103,95
2000
346
111,61
890
106,46
2001 365
117,74
924
110,53
2002
384
123,90
864
103,35
Nguồn: Cục quản lý dược-Bộ Y tế.
19
Số lượng
1000
1998
2002
Năm
1999 2000 2001
■ Thuốc trong nưóc □ Thuốc nước ngoài
Hình 5: Biểu đồ sô lượng hoạt chất của thuốc có SDK lưu hành tại Việt Nam
Nhận xét: So với năm 1998, số lượng hoạt chất thuốc sản xuất trong nước tăng
khá đều qua từng năm và tỷ lệ gia tăng còn cao hơn so với thuốc nước ngoài do các
doanh nghiệp trong nước mở rộng sản xuất, nhưng xét về tỷ lệ hoạt chất thuốc nước
ngoài vẫn cao > 2 lần so với thuốc trong nước, cao nhất vào năm 2001 với 924 hoạt chất