ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NHƢ HOA
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG DOANH NGHIỆP
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
(Dựa trên tư liệu khảo sát hai doanh nghiệp: Công ty CP Tài chính Vietsun
và Công ty Du lịch Tầm nhìn) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
bàn Hà Nội”(Dựa trên tư liệu khảo sát hai doanh nghiệp: Công ty CP Tài
chính Vietsun và Công ty Du lịch Tầm nhìn) do chính tác giả viết dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Văn Dững. Mọi số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố ở bất
kỳ tài liệu nào trước đây.
Tôi xin cam đoan: Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
snguồn gốc. Tôi xin chịu trách nhiệm với luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 10/10/2014
Học viên
Nguyễn Thị Như Hoa
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi đến thày - PGS.TS Nguyễn Văn Dững, lòng
biết ơn chân thành nhất! Cảm ơn thầy, người đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Báo chí,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tạo điều kiện về tài
liệu cũng như kiến thức nền tảng để em thực hiện luận văn này, đặc biệt là cô
– TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Phó chủ nhiệm khoa đã nhiệt tình chỉ dẫn và
có những góp ý giúp em hoàn thiện luận văn của mình hơn.
Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thày cô PGS.TS Đinh
Thị Thúy Hằng, Trưởng Khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo và PGS.TS
Mai Quỳnh Nam những người đã hết lòng giúp đỡ em, chia sẻ kinh nghiệm
cũng như cung cấp tư liệu liên quan đến khóa luận.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị nhân viên,
lãnh đạo của 2 Công ty Tài chính Vietsun và Công ty Du lịch Tầm nhìn đã
giúp đỡ em trong việc khảo sát đánh giá tổ chức và hoạt động của bộ phận
truyền thông trong doanh nghiệp.
Trân trọng biết ơn!
Hà Nội, ngày 10/10/2014
Học viên
2.1. Giới thiệu các đơn vị khảo sát 45
2
2.1.1. Công ty Cổ phần Tài chính Mặt trời Việt – Vietsun 45
2.1.2. Công ty CP Du lịch Tầm nhìn 48
2.2. Mô hình tổ chức và hoạt động của bộ phận truyền thông trong các
doanh nghiệp khảo sát. 50
2.2.1. Mô hình tổ chức và hoạt động của bộ phận truyền thông Cty CP
Tài chính Mặt trời Việt – Vietsun. 50
2.2.2. Mô hình tổ chức và hoạt động của bộ phận truyền thông Cty CP
Du lịch Tầm nhìn 60
Tiểu kết chương 2 66
Chƣơng 3: VẤN ĐỀ VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG TRONG
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 68
3.1. Vấn đề đặt ra về tổ chức hoạt động bộ phận truyền thông của các doanh
nghiệp khảo sát 68
3.1.1. Về cơ cấu tổ chức 68
3.1.2. Về hoạt động 70
3.2. Khuyến nghị nâng cao chất lượng truyền thông cho hoạt động truyền
thông của doanh nghiệp vừa và nhỏ 73
3.2.1. Sự cần thiết phải có một bộ phận truyền thông quan hệ công chúng
trong doanh nghiệp 73
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận truyền thông
trong doanh nghiệp vừa và nhỏ 74
3.2.3. Đề xuất một số nguyên tắc và kỹ năng cơ bản để thực hiện truyền
thông doanh nghiệp hiệu quả 77
Tiểu kết chƣơng 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
diện. Trong tiến trình này, để có thể trụ vững trước sự cạnh tranh gay gắt trên
thương trường, các doanh nghiệp phải đủ mạnh về trang thiết bị công nghệ
tiên tiến, nguồn vốn, nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá
thành… Trong đó, hoạt động truyền thông giữ vai trò quan trọng đối với sự
phát triển, xây dựng văn hóa tổ chức và quảng bá thương hiệu của doanh
nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm 2014, với 95% DN trên
địa bàn Hà Nội là các DN vừa và nhỏ, khối DN này đã đóng góp trên 38,9%
GDP cho thành phố (Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký
Hiệp hội các DN vừa và nhỏ TP Hà Nội). Như vậy có thể thấy, doanh nghiệp
vừa và nhỏ là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Mà trong sự phát triển
của doanh nghiệp thì bộ phận truyền thông lại đóng một vai trò quan trọng.
Vị trí của bộ phận truyền thông – nhân viên truyền thông trong các
doanh nghiệp đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Ở Việt Nam, vị trí này
xuất hiện muộn và còn khá mới mẻ bởi đặc thù của nó. Tuy nhiên có một
chuyên gia truyền thông giỏi, có năng lực thì doanh nghiệp sẽ thu được rất
nhiều lợi ích.
Bộ phận truyền thông là bộ phận đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan
trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đây là bộ phận
lập kế hoạch xây dựng, khuếch trương hình ảnh công ty, tổ chức, doanh
nghiệp, triển khai các hoạt động tuyên truyền quảng bá, xem xét các nguy cơ
có thể xảy ra từ một hoạt động nào đó, giải quyết những rắc rối liên quan tới
hình ảnh công ty và là cầu nối giữa doanh nghiệp với báo chí, các cơ quan
chính quyền
Tuy nhiên bộ phận này trong các doanh nghiệp của Việt Nam hoạt
động chưa hiệu quả.
6
Không phải doanh nghiệp nào của Việt Nam cũng nhận thức được tầm
quan trọng của bộ phận truyền thông, hoặc có nhận thức được nhưng lại chưa
có cách thức tổ chức bộ phận này sao cho hoạt động hiệu quả.
thông nói chung và của truyền thông doanh nghiệp nói riêng, giúp những
người quan tâm có thể dễ dàng hơn khi nghiên cứu về vấn đề này, cũng như
khả năng ứng dụng một phần nào đó vào thực tiễn hoạt động của các doanh
nghiệp Việt Nam.
Luận văn cũng hi vọng, những nghiên cứu trong luận văn sẽ là gợi ý
cho việc triển khai tiếp những nghiên cứu giải đáp rõ hơn những vấn đề mà
luận văn này chưa có điều kiện giải đáp rõ ràng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến thời điểm này, những công trình nghiên cứu, những tài liệu về
vấn đề truyền thông cả trong nước và thế giới không phải là ít. Đặc biệt trong
những năm gần đây, khi người ta ngày càng nhận ra vai trò và lợi ích to lớn
mà truyền thông mang lại. Nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia đã trải qua
nhiều năm kinh nghiệm thực tế cũng như những nghiên cứu về mặt lý luận đã
cho ra đời nhiều cuốn sách nghiên cứu và lý luận giá trị và hữu ích.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về truyền thông trong doanh nghiệp lại
chưa có nhiều công trình đào sâu nghiên cứu. Những tài liệu về lĩnh vực này
còn rất hạn chế.
Trong vài năm gần đây, nghiên cứu PR với và trong truyền thông đã
bắt đầu được đề cập tới trong một vài luận văn, khóa luận tốt nghiệp bậc cử
nhân và cao học chuyên ngành báo chí ở nước ta. Cho đến nay, có một số
luận văn thạc sĩ Khoa học xã hội và Nhân văn, bảo vệ tại Trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, bao gồm:
Quan hệ công chúng và báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn – Tác
giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền (2001); Quan hệ công chúng ngành Bưu
chính viễn thông – Tác giả: Trịnh Thúy Hòa (2004) và một luận văn thạc sĩ
8
chuyên ngành báo chí bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đề tài
Quan hệ công chúng tại các tòa soạn báo in – Khảo sát các báo Tiền Phong,
Tuổi trẻ và Hà Nội mới từ năm 2002 – 2004. Tác giả Trịnh Thúy Hòa hầu
nghiên cứu cụ thể được một ngân hàng là Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ
thương Việt Nam, các ngân hàng khác dừng lại ở mức khảo sát qua. Hơn thế
nữa, công trình nghiên cứu này cũng chưa đề cập nhiều đến quy mô và cách
thức tổ chức bộ phận truyền thông của doanh nghiệp.
Một luận văn thạc sĩ quý báu nữa về truyền thông doanh nghiệp là luận
văn thạc sĩ năm 2012 của tác giả Phan Hoàng Anh, Học viện Báo chí và tuyên
truyền: “Truyền thông trong hoạt động quan hệ công chúng đối nội của doanh
nghiệp”. Tác giả nghiên cứu cách thức tổ chức và hoạt động của bộ phận
truyền thông nội bộ trong 2 doanh nghiệp là Tập đoàn FPT và Công ty Cổ
phần Truyền thông VMG. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ mới đề cập đến một
khía cạnh của truyền thông trong doanh nghiệp là truyền thông nội bộ, không
nghiên cứu về các hoạt động truyền thông bên ngoài doanh nghiệp.
Ngoài luận văn thạc sĩ còn có một số khóa luận tốt nghiệp cũng nghiên
cứu các vấn đề liên quan đến truyền thông trong doanh nghiệp. Khóa luận tốt
nghiệp năm 2014 của tác giả Bùi Tiến Cường “Mô hình tổ chức và hoạt động
quan hệ công chúng của ngân hàng Baoviet Bank và VietinBanhk” đã đi vào
nghiên cứu cách thức tổ chức và hoạt động của bộ phận truyền thông hai
doanh nghiệp khảo sát, đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm trong tổ
chức bộ phận truyền thông của hai ngân hàng. Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ
được nhiều vấn đề lý luận về truyền thông doanh nghiệp. Khái niệm quan hệ
công chúng trong ngân hàng được tác giả nêu ra một cách hết sức sơ lược.
Năm 2009, khoá luận của Trần Thu Trang “Hoạt động PR trong doanh
nghiệp: Những vấn đề về đạo đức trong quá trình xử lý khủng hoảng, nghiên
10
cứu trường hợp khủng hoảng của công ty Bột ngọt Vedan” lại lựa chọn đối
tượng là đạo đức của người làm PR trong xử lý khủng hoảng doanh nghiệp.
Tiếp đó, có thể kể đến khóa luận của tác giả Lê Nữ Hạnh Nguyên
(2011) “Mô hình tổ chức và hoạt động của bộ phận Quan hệ công chúng nội
bộ (Nghiên cứu trường hợp Ban công tác và quan hệ doanh nghiệp thuộc Tập
vào sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp. Từ đó, chỉ rõ những ưu và
nhược trong mỗi bộ phận truyền thông của các đơn vị được khảo sát.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng chính hướng đến nghiên cứu của luận văn này là tổ chức và
hoạt động của bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
thông qua việc khảo sát bộ phận truyền thông của một vài doanh nghiệp trên
địa bàn Hà Nội.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội rất nhiều.
Hiện nay, Hà Nội là thành phố có số lượng doanh nghiệp đăng ký đứng thứ hai
trong cả nước với 13 vạn doanh nghiệp (Số liệu của Sở Kế hoạch & Đầu tư
thành phố Hà Nội, năm 2014), trong đó 123500 doanh nghiệp là vừa và nhỏ,
chiếm tới 95% tổng doanh nghiệp của thành phố. Do điều kiện cụ thể nên tác
giả của luận văn chỉ lựa chọn phạm vi nghiên cứu là hai doanh nghiệp trong
số đó để khảo sát. Đó là Cty CP Tài chính Vietsun và Cty CP Du lịch Tầm
nhìn. Bởi đây là hai doanh nghiệp có mô hình tổ chức bộ phận truyền thông
đặc biệt, thực tế này đã tồn tại từ lâu nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu chuyên sâu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để có những kết luận chính xác và khách quan, người viết khóa luận đã
sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cùng lúc.
12
Thứ nhất là thu thập tài liệu, tư liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu của
luận văn. Bao gồm các các tài liệu là những công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tà trong nước cũng như quốc tế. Từ đó, tác giả luận văn sẽ hệ
thống hóa những quan niệm liên quan để hoàn thiện mặt lý thuyết của luận văn.
Thứ hai, người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp.
Người viết sẽ lựa chọn hai doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội để
Một trong những yếu tố bên trong góp phần vào sự phát triển ổn định
và lâu dài của doanh nghiệp chính là những hoạt động năng động và hiệu quả
của bộ phận truyền thông. Vì vậy những đánh giá, nhận xét và những giải
pháp đề xuất trong luận văn sẽ là những đóng góp bổ ích cho các doanh
nghiệp, các phòng truyền thông của doanh nghiệp.
Đây cũng có thể trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích đối với những
người không hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, nhưng muốn tìm hiểu về
cách thức tổ chức bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp để phục vụ cho
các vấn đề liên quan.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn tổ chức hoạt động truyền thông của
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động truyền thông của doanh
nghiệp vừa và nhỏ hiện nay
Chương 3: Vấn đề và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. 14
Chƣơng1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm truyền thông
Mối quan hệ giữa người với người sẽ không thể duy trì nếu không có
hoạt động giao tiếp trong đó chủ yếu là sự trao đổi thông tin giữa từng cá thể
thông. Mỗi định nghĩa, quan niệm lại có những khía cạnh hợp lý riêng. Dù
được diễn tả bằng những cách khác nhau, nhưng nhìn chung các định nghĩa
vẫn có những điểm chung, với những nét tương đồng cơ bản.
Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến
nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả
như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một
người, một nhóm người sang một người, một nhóm người khác bằng lời nói,
hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu.
Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với
nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu
biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ chuyển đổi thành hành
vi cá nhâ, nhóm, xã hội.
Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng đưa ra định
nghĩa: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các
nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [13,tr.8].
Tác giả cuốn Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản – PGS.TS
Nguyễn Văn Dững và Ths Đỗ Thị Thu Hằng đã đưa ra nhiều quan niệm và từ
đó đưa ra một định nghĩa chung nhất về truyền thông như sau:
“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình
cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng
16
cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và
thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội”.
Định nghĩa này phát triển hơn các định nghĩa đã dẫn khi đã nhấn mạnh
truyền thông là “quá trình liên tục” và truyền thông nhằm hướng đến mục
tiêu cao nhất là “thay đổi nhận thức” và “điều chỉnh hành vi và thái độ”. Có
nghĩa là, con người hiện đại không bằng lòng với những thông tin hạn hẹp, đủ
để biết, hay thụ động tiếp nhận thông tin mà họ còn có nhu cầu hiểu để phát
triển nhân cách “tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp” của mỗi cá
300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình.
Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị đinh số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ
về trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 30/06/2009 thì doanh nghiệp vừa
và nhỏ được xem xét như sau [52]:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh
theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân
năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 18
Quy mô Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng vốn
200người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến
100 người
Hình 1.1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhở ở Việt Nam.
1.1.2.2. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung doanh
nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp trên thế giới vẫn có một số vai trò tương
đồng đối với nền kinh tế quốc gia.
Trước tiên, có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai
không có lợi thế về quy mô (tiềm lực tài chính, địa bàn hoạt động, thị phần…)
mà thường tập trung vào các vấn đề như lựa chọn mục tiêu kinh doanh phù
hợp với khả năng, ổn định, củng cố thị phần đã có hay phát triển thị trường
từng bước và có chọn lọc khâu, điểm đột phá thuận lợi nhất. Các DNVVN
vẫn phải tự vận động và liên kết để hợp tác kinh doanh mà thiếu vắng vai trò
rõ nét của chính sách nhà nước.
20
1.1.3. Khái niệm truyền thông trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, hai khái niệm truyền thông và quan hệ công
chúng – PR có một quan hệ khăng khít, khó tách rời.
Truyền thông doanh nghiệp là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư
tưởng, tình cảm… giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp với nhau,
giữa doanh nghiệp với đối tác, nhà đầu tư, khách hàng và cả với các tổ chức
chính quyền… nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới
điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
Các mảng trong truyền thông doanh nghiệp rất đa dạng và bao quát. Nó
bao gồm từ PR đến quan hệ truyền thông, kể cả quản lý thương hiệu đến quản
lý khủng hoảng. Nhiệm vụ chính của truyền thông doanh nghiệp là xây dựng,
duy trì và củng cố mạng lưới truyền thông trong và ngoài doanh nghiệp. Cụ
thể là xây dựng mối quan hệ tương tác giữa doanh nghiệp với nhân viên,
khách hàng, đối tác, báo chí. Chính vì vậy, dù còn rất mới lạ nhưng các kiến
thức yêu cầu trong ngành lại vô cùng gần gũi.
Bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp được gọi bằng nhiều tên khác
nhau trong mỗi doanh nghiệp, nhưng nói chung, phòng/bộ phận truyền thông
là cái tên được sử dụng nhiều nhất. Chẳng hạn, 1/4 công ty thuộc top 500
doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ trong bảng xếp hạng của tạp chí Fortune
dùng từ deparment for corporate communications hoặc đơn giản chỉ là
communications deparment (Phòng/ban truyền thông doanh nghiệp) để chỉ
phòng phụ trách công việc quan hệ công chúng, truyền thông [45, tr.152].
khăng khít khó tách rời của hai khái niệm này. Hay nói một cách khác, trong
các tổ chức, tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp thì nhắc đến bộ phận truyền
thông cũng có thể hiểu đó chính là bộ phận PR.
Các tác giả David M.Dozier, Larissa A.Grunig, James E.Grunig, trong
cuốn sách “Hướng dẫn nhà quản lý: Chất lượng trong quản lý truyền thông
và quan hệ công chúng” đã khẳng định hai nhóm kiến thức và kỹ năng cơ bản