Thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em trong điều kiện hiện nay ở việt nam - Pdf 30

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ LIÊN
THANH TRA VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆ
T NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014

3

Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
.

Tác giả luận văn Trần Thị Liên



Quyền trẻ em 9
1.1.3.

Bảo vệ quyền trẻ em 12
1.1.4.

Hệ thống bảo vệ trẻ em 13
1.2. Pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em 13
1.2.1.

Luật pháp quốc tế 13
1.2.2.

Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em 18
1.3. Thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em 23
1.3.1.

Khái niệm thanh tra 23
1.3.2.

Thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em 26
1.4. Mô hình thanh tra bảo vệ quyền trẻ em của một số quốc gia
trên thế giới
36
1.4.1.

Mô hình thanh tra viên vì trẻ em (Ombudsman for Children) 36
1.4.2.


47
2.2.2.

Tiếp công dân, xử lý thư đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo
liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em
47
2.2.3.

Kết quả hoạt động thanh tra về quyền trẻ em 48
2.2.4.

Đánh giá chung kết quả thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em 54
2.3. Những hạn chế, bất cập trong thanh tra quyền trẻ em hiện nay 56
2.3.1.

Hạn chế từ các quy định pháp luật 56
2.3.2.

Hạn chế về nhận thức

74
2.3.3.

Hạn chế về mô hình tổ chức của Thanh tra Lao động - Thương
binh và Xã hội
77
2.3.4.

Hạn chế về nguồn nhân lực của thanh tra ngành Lao động -
Thương binh và Xã hội


Xuất phát từ những tồn tại, thiếu sót của hoạt động thanh tra
về bảo vệ quyền trẻ em
92
3.1.4.

Phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính 92
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra về bảo vệ
quyền trẻ em
93
3.2.1.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật 93
3.2.2.

Hoàn thiện, đổi mới tổ chức Thanh tra Lao động - Thương
binh và Xã hội và hoạt động thanh tra bảo vệ quyền trẻ em
100
3.2.3.

Tăng cường số lượng, nâng cao năng lực và đảm bảo điều
kiện làm việc đội ngũ công chức thanh tra ngành Lao động -
Thương binh và Xã hội
105
3.2.4.

Phân định rõ thẩm quyền thanh tra, bảo vệ, chăm sóc trẻ em
giữa các cấp, các ngành
109
3.2.5.

50
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ Trang
2.1 Tổ chức bộ máy Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hiện nay
45

8
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước. Vị trí của trẻ em đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Ngày nay các cháu là nhi đồng. Ngày sau
các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới" [28]. Ngày nay, tư tưởng đó
của Bác Hồ vẫn tiếp tục được kế thừa, phát triển và hoàn toàn phù hợp với tư
tưởng của thời đại "Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai". Vì vậy, bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và hệ trọng. Sự nghiệp
ấy đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, kết hợp chặt chẽ
giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Điều này được thể hiện trong từng bước
xây dựng và hoàn thiện nhiều chính sách, pháp luật nhằm tạo một hành lang
pháp lý cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Do đó, công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta trong những năm qua có nhiều
chuyển biến đáng khích lệ, các quyền của trẻ em đã và đang được cải thiện về
nhiều mặt [17].

tác bảo vệ trẻ em, trong đó có công tác thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em.
Trước tình hình đó, thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em được xem là yêu
cầu cấp thiết trong hoạt động quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ trẻ em.
Là một trong các nhiệm vụ của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và
Xã hội, thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em thời gian qua đã đạt được một số kết
quả đáng ghi nhận góp phần phát huy được những yếu tố tích cực, phát hiện
được nhiều hiện tượng tiêu cực, từ đó có hướng xử lý kịp thời, nghiêm minh,
đảm bảo pháp luật. Qua thanh tra cũng kiến nghị điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung
nhiều chính sách trong công tác bảo vệ quyền trẻ em cho phù hợp. Tuy vậy,
đây là một lĩnh vực quản lý rộng, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức và
mang tính "xã hội", nên thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em còn tồn tại nhiều
10
hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện. Bên cạnh hệ thống luật pháp, chính
sách còn nhiều "lỗ hổng" thì thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em hoạt động chưa
hiệu quả, cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ quyền trẻ em còn
quá ít về số lượng, chưa đáp ứng về chất lượng so với yêu cầu quản lý nhà
nước, các điều kiện để thực hiện công tác thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em
còn nhiều thiếu thốn, chưa có cơ chế phối hợp nhằm tập hợp sức mạnh giữa
các cơ quan, tổ chức trong hoạt động này… Do đó, việc nghiên cứu công tác
thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em để góp phần điều chỉnh, sửa đổi cơ chế,
chính sách nhằm đáp ứng với tình hình thực tiễn đất nước và nhu cầu ngày
càng cao của sự nghiệp bảo vệ trẻ em càng trở nên cần thiết.
Mặt khác, hiện nay ở nước ta, chưa có một công trình khoa học hay
một đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về thanh tra bảo vệ quyền trẻ em. Vì
thế, trước yêu cầu cấp thiết của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm
sóc trẻ em, tôi chọn: "Thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em trong điều kiện hiện
nay ở Việt Nam" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn
làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao công
tác thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em nói riêng, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ
trẻ em nói chung hiện nay ở nước ta.

vệ quyền trẻ em ở Việt Nam và gợi mở một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng của hoạt động này.
* Mục đích
Với mục đích nghiên cứu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể là:
- Tổng hợp và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền trẻ
em, bảo vệ quyền trẻ em, thanh tra, tổ chức thanh tra và hoạt động của thanh
tra về bảo vệ quyền trẻ em nằm trong tổng thể Thanh tra Lao động - Thương
binh và Xã hội; có tham khảo mô hình tổ chức thanh tra vì trẻ em của một số
nước trên thế giới.
12
- Phân tích thực trạng công tác thanh tra bảo vệ quyền trẻ em hiện nay
ở Việt Nam, đánh giá những thành tựu đã đạt được và đặc biệt là những hạn
chế, vướng mắc của công tác này, có lý giải các nguyên nhân cụ thể dẫn đến
các hạn chế, vướng mắc đó.
- Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức
và hoạt động cùng các điều kiện để thực hiện mô hình đó nhằm mục đích cuối
cùng là đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác thanh tra về bảo vệ
quyền trẻ em nói riêng và quản lý nhà nước trong lĩnh vực Lao động - Thương
binh và Xã hội nói chung.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: "Thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em trong điều kiện
hiện nay ở Việt Nam" - được nghiên cứu với tư cách là một trong những hoạt
động thuộc phạm vi thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trên
phạm vi toàn quốc.
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu vấn đề thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em một
cách khách quan dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của

Chương 1: Khái quát chung pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em và thanh
tra bảo vệ quyền trẻ em.
Chương 2: Thực trạng thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em hiện nay ở
Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thanh
tra về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam.
14
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
VÀ THANH TRA VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

1.1. KHÁI NIỆM TRẺ EM, QUYỀN TRẺ EM VÀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.1.1. Khái niệm về trẻ em
Tùy vào góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, khái niệm trẻ em
được hiểu ở nhiều cách khác nhau.
Triết học xem trẻ em là một "khâu" tất yếu trong mối quan hệ biện
chứng với tiến trình phát triển của xã hội. Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ
em là con đẻ của thời đại, của xã hội. Sự phát triển của xã hội, tương lai của
một quốc gia, dân tộc tùy thuộc vào việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Dưới góc độ tâm lý học, trẻ em là khái niệm được dùng để chỉ giai đoạn
đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách của con người. Sự phát triển tâm lý, nhân
cách của trẻ em giai đoạn từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì là một trong những nội
dung quan trọng trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học. Theo đó, tâm lý học
phân chia lứa tuổi trẻ em thành các giai đoạn khác nhau, ứng với sự phát triển
và tiếp thu nhận thức khác nhau: Tuổi sơ sinh, tuổi hài nhi, tuổi mẫu giáo nhỏ,
tuổi mẫu giáo lớn, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thành niên mới lớn [21].
Xã hội học lại xác định trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác
với người đã trưởng thành. Trẻ em là người chưa đạt đến sự phát triển đầy đủ
về mặt thể chất và tinh thần để được coi là người lớn. Do đó, trẻ em được xã
hội quan tâm, tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát

dân sự của người chưa thành niên từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám
tuổi [39, Điều 20] và người chưa đủ mười sáu tuổi là người không có năng lực
hành vi dân sự [39, Điều 21]. Bộ luật Hình sự trên cơ sở cách hiểu đồng nhất
với quan điểm của Bộ luật Dân sự, tuy không đưa ra khái niệm thế nào là
16
người chưa thành niên, nhưng có quy định về trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên từ đủ mười bốn tuổi đến dưới mười sáu tuổi phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng; từ đủ mười sáu tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm [37, Điều 12]. Như vậy trong pháp luật Việt Nam, để phân
biệt hai khái niệm trên, có thể thấy rằng: Việc căn cứ để xác định một người
là trẻ em hay là người chưa thành niên đều dựa vào độ tuổi được xác định của
người đó. Cũng dựa vào độ tuổi được xác định đó, khái niệm trẻ em nằm
trong khái niệm người chưa thành niên. Hay nói cụ thể hơn, trẻ em trong pháp
luật Việt Nam nằm trong nhóm người chưa thành niên dưới mười sáu tuổi.
Theo pháp luật quốc tế, cách hiểu người chưa thành niên được hiểu là đồng
nhất với khái niệm trẻ em trên cơ sở xác định độ tuổi dưới 18.
1.1.2. Quyền trẻ em
Quyền là một khái niệm được dùng để miêu tả một nguyên tắc có liên
quan đến những lợi ích cơ bản mà con người được hưởng, không phân biệt
đặc điểm hay hoàn cảnh của cá nhân đó [59].
Việc công nhận quyền của một cá nhân hay một nhóm cá nhân đồng
nghĩa với trách nhiệm của những người khác trong việc hành động để thực
hiện quyền của một cá nhân hay một nhóm cá nhân [12], [59].
Trước đây, quan niệm cho rằng, trẻ em do còn non nớt về thể chất và
tinh thần, nên quyền trẻ em bao gồm những biện pháp nhằm che chở, bảo vệ
khỏi mọi sự xâm hại; trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc một cách đặc
biệt. Tuy nhiên, cách tiếp cận này vô hình chung đã coi trẻ em là đối tượng
phụ thuộc, phải chịu sự chi phối hoàn toàn này không xuất phát từ góc độ
"quyền của trẻ em" mà việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em như một sự bao dung,

Việt Nam là một trong số các quốc gia rất chú trọng đến bảo vệ quyền
con người nói chung, trong đó có quyền trẻ em. Việt Nam cũng là nước thứ
18
hai trên thế giới, quốc gia đầu tiên tại Châu Á phê chuẩn Công ước quyền trẻ
em. Các quyền trẻ em tại Việt Nam được ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện và cụ
thể hóa thông qua nhiều quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau và được cụ thể hóa bằng nhiều chương trình hành động, bao gồm
các nhóm quyền: Quyền có quốc tịch và được khai sinh, quyền được chăm
sóc, nuôi dưỡng, quyền sống chung với cha mẹ, quyền được tôn trọng, bảo vệ
tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự, quyền được chăm sóc sức khỏe,
quyền được học tập, quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật,
thể dục, thể thao, du lịch, quyền được phát triển năng khiếu, quyền có tài sản,
quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.
Mỗi nhóm quyền lại được cụ thể hóa tại nhiều chế định pháp luật riêng nhằm
cụ thể hóa các quyền đó thông qua việc quy định quyền của trẻ hoặc các hành
vi cấm thực hiện để đảm bảo quyền của trẻ. Ví dụ, đối với nhóm quyền được
tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự của trẻ em được
cụ thể hóa bằng các quyền như: Trẻ em được pháp luật tôn trọng, bảo vệ tính
mạng; cấm các hành vi xâm phạm đến thân thể, danh dự của trẻ như ngược
đãi, đánh đập, bạo hành thể chất và tinh thần trẻ; cấm hành vi mua bán trẻ em
dưới mọi hình thức; cấm sử dụng lao động trẻ em làm những công việc nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm…So sánh giữa cách hiểu về quyền trẻ em ở Việt
Nam so với quốc tế, có thể thấy rằng, các quyền trẻ em tại Việt Nam là tương
đối phù hợp và hài hòa với quyền trẻ em được quy định tại các công ước quốc
tế. Đánh giá vấn đề này, Tổ chức Unicef tại Việt Nam nhận định: "Việt Nam
đã có những nỗ lực đáng kể trong việc tạo khuôn khổ pháp lý thực hiện các
quyền trẻ em, luật pháp và chính sách liên quan của Việt Nam ngày càng
tương thích với các chuẩn mực quốc tế…" [48].
Như vậy, quyền trẻ em chính là những nhu cầu cơ bản của trẻ em
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trẻ em được hưởng mọi quyền và mọi tự

1.1.4. Hệ thống bảo vệ trẻ em
Hệ thống bảo vệ trẻ em bao gồm tất cả những thành phần của một xã
hội được coi là có trách nhiệm đảm bảo an toàn, chăm sóc và bảo vệ cho trẻ
em. Những thành phần chính trong một hệ thống bảo vệ, chăm sóc trẻ em là
trường học, bệnh viện, trường mẫu giáo, các tổ chức của cơ quan chính phủ,
phi chính phủ có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ liên quan đến trẻ em, môi
trường sống (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội). Tất cả các thành phần
trong hệ thống bảo vệ trẻ em cần phối hợp làm việc để đảm bảo rằng mọi trẻ
em đều được chăm sóc, an toàn và bảo vệ.
Hệ thống bảo vệ trẻ em còn bao gồm tất cả những đường lối, chính
sách, pháp luật và kế hoạch hành động để định hướng cho việc đáp ứng các
nhu cầu về chăm sóc, an toàn và bảo vệ của trẻ em trong một xã hội [12].
Trên cơ sở hệ thống chính sách, pháp luật đó, trong quá trình thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của mình, thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em cũng là một
thành phần nằm trong hệ thống đó, góp phần bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
1.2. PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.2.1. Luật pháp quốc tế
1.2.1.1. Tuyên ngôn Giơnevơ, 1924
Quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu (thế kỷ XVII - XIX) với sự khủng
hoảng về lao động trong các công xưởng, hầm mỏ đã kéo theo tình trạng bóc
lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến. Thêm vào đó, cuộc chiến tranh thế
giới lần thứ I (1914 - 1918) đã đẩy hàng triệu trẻ em vào hoàn cảnh cùng khổ.
Từ năm 1919, một số tổ chức cứu trợ trẻ em đã được thành lập ở Anh và Thụy
Điển, Italia. Những năm tiếp theo, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ban
hành một số Công ước nhằm bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc
làm và bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những văn kiện thời kỳ đó chưa đặt vấn đề
dưới góc độ các quyền trẻ em.
Đến năm 1924, khái niệm quyền trẻ em chính thức được đề cập trong
luật pháp quốc tế, khi Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ về quyền trẻ em được Hội Quốc
21

chăm sóc đặc biệt theo những yêu cầu đặc thù của trẻ. 5. Trẻ cần phải được lớn
lên trong sự chăm sóc và với trách nhiệm của cha mẹ. 6. Trẻ em có quyền được
hưởng giáo dục miễn phí và bắt buộc, ít nhất là ở bậc tiểu học. 7. Trẻ em phải
nhận sự bảo vệ và cứu giúp. 8. Trẻ em phải được bảo vệ chống lại mọi hình
thức bỏ rơi, ngược đãi và bóc lột. 9. Trẻ em sẽ được bảo vệ khỏi những tập tục
có thể tạo ra mọi hình thức phân biệt chủng tộc và tôn giáo [1], [23], [57].
1.2.1.3. Công ước quốc tế về quyền trẻ em, 1989
Có thể nói rằng, đây là nội dung xuyên suốt, là cơ sở pháp lý cho các
quốc gia thành viên công ước tuân thủ và thực hiện quyền trẻ em tại mỗi quốc
gia. Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã được thông qua và ký kết ngày
20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 2/9/1990. Cho tới nay đã có 197 quốc gia
thành viên tham gia. Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký kết, phê
chuẩn và gia nhập. Ngoài lời nói đầu, nội dung của Công ước gồm 3 phần với
54 điều khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh liên quan đến quyền trẻ
em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền của trẻ
em, mối quan hệ giữa trẻ em và quyền con người nói chung. Việt Nam là
nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới (sau Ga-na, 05/2/1990)
phê chuẩn Công ước.
Với bốn nguyên tắc xuyên suốt là: 1. Không phân biệt đối xử (Điều 2);
2. Bảo đảm quyền lợi tốt nhất của trẻ em (Điều 3); 3. Quyền được sống và
phát triển của trẻ em (Điều 6); 4. Lắng nghe và tôn trọng ý kiến của trẻ em
(Điều 12), Công ước nêu rõ các quyền đối với trẻ em như sau: Quyền được
sống và phát triển; quyền được có họ tên và quốc tịch; quyền được giữ gìn
bản sắc; quyền được sống với cha mẹ; quyền được đoàn tụ với gia đình;
quyền được phòng ngừa việc đưa đi bất hợp pháp và không mang trở về;
quyền được bày tỏ ý kiến; quyền được tự do ngôn luận; quyền được tự do tư
tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền được tự do kết giao và hội họp hòa bình;
23
quyền được bảo vệ sự riêng tư; quyền được tiếp xúc với thông tin thích hợp;
quyền được cha mẹ chăm sóc nuôi dưỡng; quyền được bảo vệ chống lại sự

sóc đặc biệt; Tuyên bố cũng kêu gọi các quốc gia cần tuân thủ và thực hiện
một cách nghiêm túc quy định về việc cấm sử dụng vũ khí hóa học và vi
khuẩn để mất mát nặng nề cho phụ nữ và trẻ em; việc bỏ tù, tra tấn, bắn giết,
bắt bớ hàng loạt, trừng phạt tập thể, phá hủy nhà ở và bức đoạt nhà ở của phụ
nữ và trẻ em phải được coi là tội phạm [24].
- Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em,
1990: Văn kiện được thông qua ngày 30-9-1990 tại Hội nghị cấp cao thế giới
về trẻ em họp tại trụ sở Liên hợp quốc. Trong đó, Tuyên bố đã nêu lên sự
thách thức về tình hình trẻ em trên thế giới và nêu lên các nhiệm vụ cho các
quốc gia, cụ thể: Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em; quan
tâm chăm sóc trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; đảm
bảo quyền bình đẳng giữa trẻ em nam và trẻ em nữ; đảm bảo cho trẻ em được
học hết bậc giáo dục cơ sở và không có trẻ em nào bị mù chữ; tạo điều kiện
trẻ em lớn khôn và phát triển trên nền móng gia đình [26].
- Công ước số 138 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối
thiểu được đi làm việc, 1973;
- Những quy tắc tối thiểu chuẩn mực của Liên hợp quốc về xử phạt
hành chính tư pháp vị thành niên (Quy tắc Bắc Kinh), được thông qua bởi
nghị quyết của Đại hội đồng ngày 29/11/1985;
- Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên
quan đến bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc thu xếp nuôi con nuôi ở
trong và ngoài nước, 1986;
- Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm vị thành niên
được thông quá bởi nghị quyết của Đại hội đồng vào ngày 14/12/1990
(Hướng dẫn Riát);
25
- Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước
quyền tự do, 1990;
- Tuyên bố của Hội nghị thế giới chống bóc lột tình dục trẻ em vì mục
đích thương mại, 1996;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status