Vị trí và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A- mở đầu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình tổ chức, sản xuất kinh doanh phổ
biến trên thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ có tầm quan trọng và đợc đánh giá cao
trong nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới và nó đặc biệt quan trọng đối với
các nớc có nền kinh tế đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng.
Xét theo quan điểm thúc đẩy kinh tế thị trờng, thì tất cả các nớc đều tích
cực khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngay từ giai đoạn đầu,
nó cũng đúng với quy luật phát triển kinh tế vì hầu hết các nớc tiến lên công
nghiệp hoá, hiện đại hoá để trở thành những nớc phát triển đều bắt đầu t nền kinh
tế thủ công từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn và quĩ nhỏ, từ đó nó đợc tích
luỹ về vốn, kinh nghiệm và khoa học kỹ thuật phát triển các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đã phát triển lớn mạnh và qui mô đợc mở rộng cả về chiều sâu và chiều rộng.
Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế của nhiều nớc trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng vì dụ: ở Đức doanh
nghiệp vừa và nhỏ tạo ra gần 50% GDP chiếm hơn một phần hai doanh thu thuế
của các doanh nghiệp, cung cấp các loại hàng hoá dịch vụ đáp ứng đa dạng nhu
cầu của ngời tiêu dùng trong và ngoài nớc. Để đạt đợc những thành tựu đó chính
phủ Đức đã áp dụng hàng loạt các chính sách, chơng trình thúc đẩy doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong việc huy động nguồn vốn còn Việt Nam doanh nghiệp vừa và
nhỏ đóng góp 21% GDP trong nền kinh tế.
Việt Nam là nớc đang phát triển, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ phù
hợp với tình hình kinh tế-xã hội của đất nớc vì:
Nền kinh tế đất nớc ta nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp cha đợc phát
triển hiện đại, công nghiệp thủ công còn nhiều. Nên nền kinh tế chủ yếu là sản
xuất kinh doanh nhỏ, nên tỷ trọng doanh nghiệp vừa và nhỏ là lớn, đó là tất yếu
khi có cơ chế kinh tế thị trờng phát triển ở nớc ta.
Vì vốn nhỏ lẻ tiềm ẩn trong dân c, nguồn nhân lực trong dân c là rất lớn, khi
có nền kinh tế thị trờng thì các nguồn vốn, nguồn nhân lực dồi dào trong dân c đợc
khai thác rất hiệu quả để phục vụ cho sự thành lập và phát triển có hiệu quả của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

huy động vào sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố định, số lao động đợc sử dụng
thờng xuyên, giá trị bằng tiền của sản phẩm bán hoặc dịch vụ, lợi nhuận vốn bình
quân cho 1 lao động. Trong thực tế mỗi nớc có một quan điểm khác nhau về
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là những cơ sở tổ chức sản xuất kinh
doanh có t cách pháp nhân, không phân biệt các thành phần kinh tế, có qui mô về
vốn vừa và nhỏ, thực hiện các hoạt động sản xuất trao đổi hàng hoá trên thị trờng
với nguyên tắc tối đa hoá lợi ích của đối tợng tiêu dùng cũng nh của chủ doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chủ yếu còn là sản xuất nhỏ. Song nó
chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam, đem lại lợi ích cho xã
hội là lớn.
2. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Hiện nay trong nền kinh tế của Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm
80% trong tổng doanh nghiệp toàn quốc, trong nền kinh tế chủ yếu là sản xuất
nhỏ, nên doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh nghiệp .
Cùng với nông nghiệp và kinh tế nông thôn doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công
nghiệp là một trong những nhân tố đảm bảo sự ổn định và bền vững của nền kinh
tế, tăng trởng kinh tế tạo việc làm cho ngời lao động, khai thác và tận dụng hiệu
quả tiềm năng về vốn, tay nghề và nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân c, phát triển
các ngành nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển và đào tạo cán bộ
quản lý kinh tế và cán bộ khoa học, đảm bảo cân bằng trong nền kinh tế nên nó có
vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nớc, cụ thể nó đợc thể hiện trong
các lĩnh vực sau:
a) Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp lớn vào kết quả hoạt động kinh tế,
theo số liệu ớc tính doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp khoảng 21% GDP. Nó
ngày càng gia tăng ở nớc ta, số lợng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 80%
trong tổng doanh nghiệp ở Việt Nam, tốc độ gia tăng của doanh nghiệp vừa và nhỏ
nhanh hơn doanh nghiệp lớn. Theo thống kê năm 1998 số lợng các doanh nghiệp
t nhân tăng từ con số không đáng kể lên tới 18.750 doanh nghiệp, 7100 công ty và

Đó là cơ hội để hàng dệt may Việt Nam tiếp tục khẳng định mình, đẩy nhanh tốc
độ tăng trởng, nhất là 20 năm tới.
b) Doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm
và thu nhập cho ngời lao động.
Việt Nam là một trong nhiều nớc đông dân, gần 80% dân số và khoảng
70% số lao động sống ở nông thôn, chủ yếu sống bằng nghề nông. Nhng giải
quyết việc làm bằng nghề nông thì có hạn vì diện tích đất canh tác trên một đầu
ngời thấp ngày càng thấp. Đáng chú ý là tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam ngày càng
tăng tơng đối cao và không ổn định nhất là ở vùng đồng bằng và đô thị lớn:
Năm 1996 1997
Tỉ lệ thất nghiệp 5,62 5,81
Năm 1998 số ngời không có việc làm thờng xuyên trong cả nớc là 8,5 triệu
ngời, trong đó khu vực thành thị là 1,2 triệu ngời, khu vực nông thôn 7,3 triệu ng-
ời, 84% số ngời không có việc làm ở độ tuổi từ 14-44. Thực tế trong những năm
qua khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thu hút khoảng 25-26% lực lợng lao
động phi nông nghiệp của cả nớc không triển vọng thu hút lao động là rất lớn vì
suất đầu t cho một chỗ làm ở đây thấp hơn rất nhiều so với doanh nghiệp lớn, chủ
yếu là do chi phí thấp và thu hút đợc các nguồn vốn giải rác trong dân, chi phí
trung bình để cho ra 1 chỗ làm việc trong doanh nghiệp vừa và nhỏ 740.000 chỉ
bằng 5% so với các doanh nghiệp lớn. Nếu tính cả số lao động đợc giải quyết việc
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
làm ngoài doanh nghiệp do các doanh nghiệp này thu hút thì có thể lên tơí 4,5
triệu ngời. Điều đó cho thấy vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng quan
trọng trong việc tạo việc làm, thu hút lao động với chi phí thấp chủ yếu bằng vốn
và tài sản của dân
Năm 1994 1995 1996
Số ngời lao động 5453404 6368509 6903242
Doanh nghiệp nhà nớc 1654605 1800870 14848000
Tập thể 135284 102557 98400

những nguồn vốn nhỏ, lẻ.
Nhờ đờng lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và nhà nớc
hàng năm các loại doanh nghiệp này đã thu hút một lợng vốn đáng kể của dân c,
đa nguồn vốn đó vào chu chuyển, khắc phục một nghịch lý đã tồn tại trong nhiều
năm là các doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi dân c có lợng vốn rất lớn,
khả năng tiềm ẩn cha đợc khai thác. Nhờ doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợng lớn nên
đã thu hút đợc khá nhiều vốn trong dân c. Do tính chất nhỏ lẻ dễ phân tán đi sâu
vào các ngõ ngách, bản làng và yêu cầu số lợng vốn ban đầu không nhiều cho nên
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút các
nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong các tầng lơps dân c đầu t vào sản xuất kinh
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu t vào sản xuất kinh doanh và hình thành
khu vực "mới" cho việc thực hiện có hiệu quả vấn đề huy động vốn của dân c theo
luật khuyến khích đầu t trong nớc.
Tổng số vốn đầu t vào sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp vừa và nhỏ thu
hút đợc ngày càng tăng (Tổng cục thống kê 1997).
Năm
Tiêu chí
1994 1995 1996
Tổng vốn kinh doanh (tỷ) 227033 272834 311945
Doanh nghiệp nhà nớc 120552 13564 141000
Tập thể 2112 2174 220
Doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài
65499 90068 121130
Doanh nghiệp và công ty
t nhân
18750 19964 26500
Cá thể 20200 24090 26500

6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đồng thời với việc thực hiện phơng châm "ly nông bất ly hơng" bằng việc
xây dựng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn là diễn ra xu hớng hình thành
khu vực tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ nhỏ ngay ở nông thôn, tiến
dần hình thành lên các thị trấn, thị tứ, hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa các
làng quê, thực hiện quá trình đô thị hoá phi tập trung.
h) Sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nó. Lịch sử ra đời và phát
triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với sự hình thành và phát triển của các doanh
nghiệp. Nền kinh tế của một quốc gia là do tổng thể các doanh nghiệp lớn bé tạo
thành, phát triển từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và thông qua liên kết với doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đờng tất yếu và sự phát triển
bền vững mang tính phổ biến của đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị tr-
ờng và trong quá trình công nghiệp hoá. Sự kết hợp các loại qui mô doanh nghiệp
trong từng ngành cũng nh trong toàn nền kinh tế không thể thiếu doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là điều kiện khách quan, vai trò
quan trọng và phù hợp với xu hớng chung, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hhội
nớc ta hiện nay góp phần phát triển kinh tế xã hội, đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
II/ Tiềm năng và xu hớng phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ:
1. Tiềm năng:
Tiềm năng phục vụ cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam ta
là rất lớn, tiềm năng về nguồn nhân lực dồi dào, nguồn vốn tiềm ẩn trong dân c là
lớn, do cơ chế thị trờng tự do sản xuất kinh doanh, các làng nghề, ngành nghề
truyền thống có rất nhiều trong các miền của cả nớc.
Dân số nớc ta là đông và nằm trong tốp những nớc đông dân, có dân số trẻ
trên thế giới, nớc ta lại là nớc đang phát triển, lực lợng lao động có tay nghề ở
những ngành, lĩnh vực hiện đại thì rất hiếm, cho nên lực lợng lao động để phục vụ

so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Cho đến nay, nớc ta vẫn là một nớc kém phát triển, năng suất lao động và
tích luỹ còn thấp, dân cha có khả năng đầu t lớn nên có giải pháp thực tế là đầu t
nhỏ với diện rộng để có tích luỹ từ nội bộ dân c, từ số lợng chuyển hoá thành chất
lợng. Bên cạnh các doanh nghiệp lớn sở hữu nhà nớc, chúng ta có hệ thống doanh
nghiệp vừa và nhỏ rộng khắp với lợi thế doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn sẽ giải
quyết đợc nhiều vấn đề mà các doanh nghiệp lớn khó có thể làm tốt đợc, lao động
việc làm, môi trờng, chi phí đầu t thấp, phù hợp với khả năng quản lý của chủ
doanh nghiệp.
Trong tơng lai, doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển rộng khắp nh một yếu tố
phụ trợ cho khu công nghiệp tập trung, doanh nghiệp vừa và nhỏ là cầu nối giữa
công nghiệp với nông thôn, nông nghiệp sẽ sản xuất, tiêu dùng theo xu hớng xã
hội hoá. Nền kinh tế cùng một lúc sẽ phát triển tho hai hớng: Vi hoá và tập đoàn
hoá, hai xu hớng đó không biệt lập mà xâu chuỗi, hợp tác thành một hệ thống mà
doanh nghiệp vừa và nhỏ là hạ tầng cơ sở trong cấu trúc nền sản xuất xã hội. Sự co
giãn và chuyển động xen kẽ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn
là liệu pháp cả cho sự trì trệ lẫn sự phát triển "quá nóng" của nền kinh tế.
Đảng ta chủ trơng thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc mà trọng
tâm là công nghiệp hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn với mạng lới rộng khắp
và truyền thống gắn bó với nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn. Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hình
thành những tụ điểm, cụm công nghiệp để tác động chuyển hoá sản xuất nông
nghiệp theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hệ thống công nghiệp chế biến
và sản xuất đồ gia dụng sẽ phát triển, các làng nghề sẽ đợc hiện đại hoá. Không
còn nghi ngờ gì nữa tiềm năng và lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ là hết sức
lớn. Tuy vậy cần đợc sự hỗ trợ bằng một số chủ trơng, chính sách phù hợp của nhà
nớc từ quan điểm chiến lợc chính sách đến bộ máy vận hành. Thế giới và khu vực
đã có những bài học quý mà chúng ta có thể lựa chọn. Đó là nhà nớc phải có chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính phủ không làm thay nhng tạo điều
kiện và môi trờng để phát huy sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp. Sự kết hợp nỗ

góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tée, cơ cấu lao động nông thôn theo hớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, duy trì các ngành nghề truyền thống, tạo thêm việc làm
tăng thu nhập cho ngời lao động.
Tuy nhiên cần thấy rắng, trong thực tế phần lớn các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở nớc ta không đạt đợc mức hiệu quả kinh tế xét theo tiêu chuẩn của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hoạt động dới dạng thủ công và gia đình, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ này thờng chỉ sử dụng những kỹ thuật lạc hậu và sản xuất ra
những sản phẩm chất lợng cha cao, khó cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu
vực và quốc tế nh hiện nay. Sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn mới
chỉ đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng hiện tại, chất lợng và mẫu mã cha thiết ứng với
thị hiếu của ngời tiêu dùng nên chủ yếu phục vụ cho tiêu thụ tại chỗ (66% tiêu thụ
tại huyện, 27% tại xã, 12% tại làng, 1% xuất khẩu).
Theo đánh giá của phòng thơng mại và công nghiệp Việt Nam thì tinh fhình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong một vài năm trở lại
đây đều cho thấy sự giảm sút. Một số doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả,
do lợi thế quimô nhỏ và vừa nên rất linh động trong sản xuất kinh doanh, đáp ứng
kịp thời nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Song cũng rất nhiều doanh nghiệp vừa
và nhỏ đang trong tình trạng khó khăn. Bên cạnh yếu tốt trợt giá và tăng tỉ giá
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngoại tệ, việc chậm phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn
thiếu chủ động trong sản xuất kinh doanh tìm hiểu thị trờng tiêu thụ cũng nh
nguồn đầu vào.
Điều này cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có thể đạt hiệu
quả cao trong sản xuất kinh doanh nếu chúng ta giải quyết đợc các vâns đề cản trở
ở cả 2 mặt vi mô và vĩ mô.
2. Về vốn và tín dụng:
Vốn luôn là vấn đề nhức nhối của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta có
đến 55% số doanh nghiệp thiếu vốn. Để đáp ứng nhu cầu tín dụng của nhiều các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn chủ yếu từ các tổ chức phi tài chính, thông thờng

sử dụng đất hợp pháp, nên còn tồn tại một thị trờng đất đai đáng kể hoạt động một
cách không chính thức và bất hợp pháp. Nh vậy đất đai cũng là một vấn đề phải
quan tâm để giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện sản xuất kinh doanh.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Về công nghiệp: theo đánh giá thì phần lớn công nghệ do các doanh nghiệp
vừa và nhỏ sử dụng là lạc hậu, không đồng bộ đã hạn chế rất lớn khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta. Nhìn chung trong những năm gần
đây, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta đã đổi mới công nghệ ở mức nhất định.
Công nghệ là yếu tố quyết định tới năng suất, chất lợng sản phẩm giúp các doanh
nghiệp có thể cạnh tranh đợc trên thị trờng. Tuy nhiên nguồn vốn tài chính bị giới
hạn không cho phép các doanh nghiệp có thể tự mình đổi mới cũng nh áp dụng
mạnh mẽ công nghệ kĩ thuật tiên tiến. Vì vậy tỉ lệ đổi mới trang thiết bị cũng rất
thấp, chỉ khoảng 10%/năm tính theo vốn đầu t. Điều này cho thấy trình độ về thiết
bị công nghệ kĩ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn thấp và còn lạc hậu
khá xa so với mức trung bình của thế giới.
Khoảng gần 5% doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn chỉ sử dụng công cụ thô sơ,
15,5% sử dụng công cụ nửa cơ giới, hơn 35,5% có sử dụng máy chạy điện. Phần
lớn thiết bị của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn là các công cụ tự
chế hoặc thanh lý từ các doanh nghiệp nhà nớc nên hàng hoá sản xuất ra có chất l-
ợng không cao, không đảm bảo cạnh tranh trên thị trờng.
Bên cạnh đó còn phải kể đến thực trạng mặt bằng sản xuất thiếu, cở sở hạ
tầng yếu kém và không ổn định cũng tác động bếtlợi đến hoạt động của doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
4. Về thị trờng:
Sức cạnh tranh và tiếp cận với thị trờng thế giới còn ở mức độ rất thấp.
Những sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải cạnh tranh với một số lợng
lớn các hoàng hoá nhập lậu với giá rẻ hơn. Điều này xuất phát từ việc các doanh
nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tiếp cận đợc với thị trờng thế giới do những hạn chế
về hoạt động thơng mại, tham gia cào các hoạt động thỉtờng không mang tính định

ng hiệu quả còn hạn chế. Chế độ tài trợ dành cho xuất khẩu đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ còn cha rõ ràng cộng với thông tin về tình hình thế giới, quốc tế
không đợc cập nhật đã hạn chế hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ rất nhiều.
5. Về nguồn nhân lực của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Nguồn nhân lực hoạt động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là một
vấn đề đáng quan tâm. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng thu hút một số lợng
lớn lao động góp phần đáng kể trong việc tạo thêm việc làm. Song nguồn nhân lực
của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng còn nhiều hạn chế. Nhiều chủ doanh nghiệp
cha đợc đào tạo chuyên môn bài bản, đội ngũ công nhân lành nghề, kĩ s bậc cao bị
thiếu hụt đã cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trớc hết trình độ và tay nghề của ngời lao động và đội ngũ quản lý trong
doanh nghiệp vừa và nhỏ là một vấn đề bức xúc hiện nay. Lực lợng công nhân kỹ
thuật và lao động lành nghề đợc đào tạo quá ít, trình độ thấp. Theo ớc tính thì đa
số các chủ doanh nghiệp và lực lực lao động và các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện
nay có trình độ cấp I (40-45%), số lao động có trình độ tay nghề giản đơn, cha đợc
đào tạo chiếm khoảng 60-70%. Trong khi đó chỉ có một số lợng nhỏ các chủ
doanh nghiệp có trình độ đại học.
Trình độ chuyên môn của các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều hạn
chế nh vậy quan trọng hơn là trình độ quản lý của họ cũng cha đáp ứng đợc những
đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng có nhiều biến động nh hiện nay. Thực tế cho thấy
phần lớn các chủ doanh nghiệp cha đủ khả năng quản lý doanh nghiệp khi đăng
ký nhiều ngành nghề. Kinh nghiệm quản lý kinh doanh theo phơng thức hiện đại
còn yếu kém cùng với phần đông lao động giản đơn thủ công, trình độ thấp đã gây
khó khăn lớn cho việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra do nhiều
hạn chế nên một bộ phận chủ doanh nghiệp cha nhận thức đợc lợi ích của các công
cụ chuyên môn hoá nh kiểm toán, nghiên cứu triển khai trong nội bộ doanh
nghiệp, thiết kế, điều tra thị trờng, quảng cáo, xử lý số liệu... mà tự làm lấy nên
làm tăng chi phí cố định và bỏ qua lợi ích của chuyên môn hoá. Chính vì thế việc
áp dụng các phơng thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến vào các doanh
nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn, làm cho năng suất lao động thấp, thu nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status