Vấn đề đào tạo và phát triển nhân lực trong các doanh nghiệp nước ta hiện nay - Pdf 30

Mở đầu
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy. Phát
triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con
người), vật lực (nguồn lực vật chất, công cụ lao động, đối tượng lao động, tài
nguyên thiên nhiên, v.v...), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ)v.v..song chỉ có
nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác
muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người.
Chính vì vậy trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng XHCN, Đảng và Nhà Nước ta luôn chú trọng vấn đề đào tạo nguồn nhân
lực, coi đây là một trọng tâm trong "sự nghiệp trồng người", là chìa khóa mở cánh
cửa đến tương lai phồn thịnh và hội nhập quốc tế.
Có thể thấy để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta không thể có sự
lựa chọn nào khác là phải coi trọng xu hướng phát triển kinh tế thị trường, biến tri
thức trở thành trí lực - động lực cho sự phát triển của đất nước. Bởi vậy, hơn bất kỳ
khi nào vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay đang là
một vấn đè cấp bách, phải thực sự đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội. Trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ mới, đào tạo nguồn
nhân lực trong xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường phải trở thành nội dung
then chốt trong chiến lược phát triển con người ở nước ta nói chung và đặc biệt là
ở các doanh nghiệp nói riêng, vì đây là nơi thu hút khá nhiều lao động của đất
nước.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là đề tài rộng lớn đã và đang được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Đẻ biết thêm về tình trạng đào tạo nhân sự ở
nước ta thì chúng ta cần tìm hiểu qua đề tài “Vấn đề đào tạo và phát triển nhân
lực trong các doanh nghiệp nước ta hiện nay”
1
MỤC LỤC
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
1. Tầm quan trọng của nguồn nhân lực
2. Các hình thức đào tạo và phát triển nhân lực

khác, nguồn nhân lực chiếm một vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội. Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưa
Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển, có sức hấp dấn đối với các
nhà đầu tư nước ngoài.
1.1 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực
• Khái niệm :
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích
luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer &
Dornhusch, 1995). Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể
3
các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một
công việc lao động nào đó.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh
nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, nguồn
nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả các cá nhân tham gia vào hoạt động của doanh
nghiệp. Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này có tính chất quyết định đến
sự thành bại của doanh nghiệp.
Ta cũng có thể hiểu nguồn nhân lực theo một nghĩa cụ thể hơn, đó là:
Nguồn nhân lực là một khái niệm rộng, bao gồm hai khía cạnh: Thứ nhất đó
là toàn bộ sức lao động và khả năng hoạt động của lực lượng lao động xã hội, thứ
hai là sức lao động, khả năng trình độ, ý thức của từng cá nhân và mối quan hệ qua
lại giữa các cá nhân đó.Mặt thứ hai của nguồn nhân lực đang ngày càng được quan
tâm và rất có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và chính nó nói lên chất
lượng của nguồn nhân lực.
1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực việt nam
• Đặc điểm về số lượng:
Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, dồi dào, với giá nhân công rẻ. Theo tổng điều
tra dân số và nhà vào thời điểm 1/4/2009, dân số Việt Nam đã đạt gần 85,8 triệu
người, đứng thứ 3 ở ĐNÁ và đứng thứ 13 trong nhóm nước có dân số đông nhất thế
giới.Sau 10 năm (từ 1999 đến 2009), dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người.

90.00
100.00
Năm
Dân Số Việt Nam Qua một số năm
Dân Số ( Triệu Người )
Triệu người
Cơ cấu dân số VN có sự chuyển dich về độ tuổi.Việt Nam đang trong thời kỳ
“cơ cấu dân số vàng”(nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm
dân số trong độ tuổi phụ thuộc)Dân số VN cũng đang trước ngưỡng già hóa.Một
nước được gọi là dân số già khi số người trên 60 tuổi chiếm 10%; và trên 65 tuổi
chiếm 7,5%. Theo dự kiến đến năm 2015 nước ta mới bước vào giai đoạn dân số
già. Nhưng năm 2008 tỷ lệ người trên 60 tuổi ở nước ta là 9,5% - xấp xỉ già hóa.
Nếu dựa theo tỷ lệ người trên 65 tuổi năm 2008 là 7,5% thì dân số nước ta đã thuộc
vào giai đoạn già hóa.Dân số VN đang mất cân bằng giới tính.Mất cân bằng giới khi
sinh tại nước ta đã ở mức rất cao và vẫn tiếp tục tăng nhanh. Từ năm 1979 đến
1999, cứ 10 năm mới tăng 1 điểm % (ví dụ 110 nam trên 100 nữ thành 111 nam trên
100 nữ), nhưng trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2008, mỗi năm đã tăng 1 điểm %,
đạt mức 112 vào năm 2008. Nghịch lý về nguy cơ bùng nổ dân số.Một vấn đề đáng
lo ngại là số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 14-49 tuổi tăng nhanh. Trong 10 năm tới,
nhóm phụ nữ 20-34 tuổi (giai đoạn mắn đẻ nhất trong cuộc đời) sẽ đạt mức cực đại
là 12,3 triệu người. Lý do là vì số phụ nữ sinh ra trong những năm 1975-1995 (thế
5
hệ 8x, 9x) có quy mô đông nhất trong lịch sử nhân khẩu học Việt Nam. Các nhà
nhân khẩu học gọi hiện tượng này là "bùng nổ dân số lần hai".
• Đặc điểm về phẩm chất đạo đức tinh thần:
Phẩm chất đạo đức, tinh thần có vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, nó thúc đẩy tính tích cực và gia tăng hiệu quả
làm việc của người lao động. Những phẩm chất đạo đức, tinh thần không chỉ chịu
ảnh hưởng của tồn tại xã hội đương thời mà phần lớn là chịu ảnh hưởng của lịch sử,
của truyền thống.Người Việt Nam có tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, tự lực tự

đã qua đào tạo, trình độ và chất lượng đào tạo, mức độ lành nghề của công nhân,
trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, năng suất, chất lượng, hiệu quả lao
động…Lao động VN có phẩm chất cần cù, chịu khó, lại có khả năng tiếp cận nhanh
với khoa học và công nghệ tiên tiến. Nhanh nhẹn khéo léo trong công việc.Theo
nhận định của các chuyên gia nước ngoài thì so với công nhân các nước trong khu
vực, công nhân Việt Nam có trình độ tương đương. Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực
như hàn, lắp cơ khí, công nhân VN có trình độ khá hơn hẳn.Lao động VN yếu về
trình độ ngoại ngữ, tác phong công nghiệp chưa cao, thiếu kĩ năng làm việc nhóm.
-Về thể lực: Hiện nay tầm vóc và thể lực của người Việt Nam đã được cải
thiện về chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suy dinh dưỡng và tuổi thọ. Hiện nay chiều cao
trung bình của nam thanh niên Việt Nam là 167cm, tuổi thọ trung bình của người
Việt Nam là 72,4 tuổi. Tuy nhiên thì thể lực của người Việt Nam vẫn còn kém nhiều
nước trong khu vực và so với yêu cầu nguồn nhân lực cần có ở nước ta. Hiện tại
nước ta nằm trong số các nước có mức sống thấp nhất thế giới ( gdp tính theo đầu
người là 835 USD - 2007 )Điều kiện lao động trong các cơ sở sản xuất, các cơ quan
hành chính sự nghiệp còn thấp kém, môi trường lao động bịi ô nhiễm, các yếu tố
nguy hiểm và độc hại vượt quá ngưỡng cho phép nhiều lần. Tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp có xu hướng gia tăng…Thu nhập thấp, đời sống khó khăn đó là
trạng thái chung của nguồn nhân lực nước ta hiện nay về phương diện mức sống và
sức khỏe.
7
1.3 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế
Trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày
càng cạn kiệt, loài người không thể dựa vào thiên nhiên như ngày xưa được nữa, vì
vậy mà loài người đang dần chú trọng khai thác nguồn tài nguyên vô tận đó là
nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực tham gia và chi phối mọi hoạt động kinh tế xã hội,
là chủ thể của mọi nguồn lực khác. Trong phát triển kinh tế, nguồn nhân lực cũng
đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến hiệu quả của hoạt động. Suy cho cùng,
mọi chính sách, quyết định đều từ con người mà ra. Và những quyết định đó cũng
được chính con người trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện. Nguồn nhân lực có chất

chức năng trong doanh nghiệp thực hiện. Người đào tạo, huấn luyện ở đây có thể là
nhà quản trị, các chuyên gia kỹ thuật, người lao động có tay nghề cao trong doanh
nghiệp, và cũng có thể là mời người đào tạo bên ngoài vào thực hiện công tác huấn
luyện trong doanh nghiệp. Hình thức này thường được tiến hành thường xuyên vì có
rất nhiều ưu điểm như : các kiến thức được bổ sung kịp thời và sát với yêu cầu công
việc; hình thức tổ chức linh hoạt, không làm gián đoạn công việc của người được
đào tạo, tiết kiệm được chi phí. Tuy nhiên kiến thức được đào tạo ở đây chủ yếu
phục vụ ngay công việc chuyên môn hiện tại nên ít có tính hệ thống, tầm bao quát bị
hạn chế.
- Đào tạo và phát triển nhân lực bên ngoài doanh nghiệp :đây là các hình
thức đào tạo và phát triển nhân lực được thực hiện ở các tổ chức bên ngoài doanh
nghiệp. Doanh nghiệp gửi người lao động tham dự những khóa học do các trường
học, học viện ngoài doanh nghiệp tổ chức, hoặc liên kết với các trung tâm đào tạo.
Mục đích của công việc đào tạo này rất khác nhau như : nâng cao trình độ, chuyển
hướng kinh doanh… Nội dung đào tạo có thể là kiến thức chuyên môn, kỹ năng
quản trị kinh doanh hay quản lý hành chính… Các hình thức đào tạo và phát triển
nhân lực bên ngoài doanh nghiệp có ưu điểm : kiến thức có tính hệ thống và tầm
bao quát lớn, cách tiếp cận mới mẻ…Tuy nhiên có hạn chế là : buộc người được
9
đào tạo phải tách rời công việc đang đảm nhận, làm ảnh hưởng đến thu nhập của
người lao động, nhà quản trị khó kiểm soát…
• Theo cách thức tổ chức: Theo cách này, doanh nghiệp có thể áp dụng các
hình thức đào tạo như :đào tạo trực tiếp, đào tạo từ xa, đào tạo qua internet
- Đào tạo trực tiếp : đây là hình thức người đào tạo hướng dẫn, huấn luyện
trực tiếp người lao động trong doanh nghiệp theo mục đích, yêu cầu nội dung công
việc. Trong quá trình đào tạo có thể sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật để giảng dậy,
tùy theo các phương pháp và đối tượng đào tạo khác nhau
- Đào tạo từ xa : hình thức đào tạo này thường được thực hiện trên các
phương tiện thông tin như : vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí…Nội
dung đào tạo thường theo chương trình đã được hoạch định trước với khoảng thời

• Đào tạo về chính trị và lý luận :
Đào tạo, phát triển về chính trị và lý luận nhằm nâng cao phẩm chất chính
trị,nắm vững lý luận, hoàn thiện nhân cách cho nhân viên của doanh nghiệp, tạo ra
con người vừa hồng vừa chuyên:
- Đào tạo và phát triển về chính trị : Mỗi người lao động là một tế bào của
doanh nghiệp, và cũng là tế bào của nền kinh tế xã hội. Khi thực hiện công việc họ
đều có các mối quan hệ qua lại lẫn nhau, gắn bó lợi ích với nhau. Vì vậy con người
cần phải có thái độ đúng đắn trong công việc để không chỉ làm lợi cho mình mà còn
lợi cho toàn doanh nghiệp, cho xã hội. Mặt khác,cuộc sống và hoạt đông kinh doanh
luôn thay đổi đòi hỏi con người phải có bản lĩnh nhất dịnh để thích ứng, tồn tại và
phát triển. Điều này có được thông qua đào tạo chính trị cho người lao động. Người
lao động có quan điểm chính trị đúng đắn sẽ vững vàng hơn trong công việc, dám
đương đầu với những thử thách, những biến động môi trường xung quanh.Nội dung
đào tạo và phát triển về chính trị cho người lao động bao gồm :
+ Các nghị quyết, chính sách, chủ trương, đường lối của đảng và nhà nước
11
+ Các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và liên quan đến người lao động trong doanh nghiệp
+ Các quy định, hướng dẫn của các cơ quan chủ quản và các cơ quan ban
nghành khác có liên quan
+ Đạo đức kinh doanh
+ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Như vậy, đào tạo và phát triển về chính trị là để người lao động :
+ Biết kết hợp hài hòa giữa mục tiêu chung của doanh nghiệp với mục tiêu
toàn xã hội, giữa mục tiêu cá nhân và mục tiêu chung của doanh nghiệp
+ Có quan điểm quản trị doanh nghiệp đúng đắn, không trái với định hướng
chung thể hiện trong đường lối chính sách của đảng và nhà nước
+ Trung thành với doanh nghiệp, với đồng nghiệp, có niềm tin vào sự thành
công của doanh nghiệp, niềm tin vào đồng nghiệp
+ Có lập trường tư tưởng vững vàng, bản lĩnh trước thách thức của môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status