TÓM TẮT
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quyết liệt như ngày nay, cùng với sự phát
triển khoa học-công nghệ vũ bão, mở ra những cơ hội tiếp cận các tri thức, tiếp
cận sự phát triển của khoa học kỹ thuật đồng thời cũng mang lại những thách
thức, cạnh tranh gay go trong nhiều lónh vực cuộc sống và đòi hỏi nền giáo dục
Việt Nam phải có tư duy, quan điểm đào tạo mới cho phù hợp với các xu hướng
mới của thời đại.
Riêng các Tổ chức Giáo dục Đào tạo – Dạy nghề trong cả nước có trách
nhiệm to lớn về việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật chất lượng cao, có tác
phong công nghiệp vững vàng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa
cuả đất nước. Hơn ai hết trách nhiệm đào tạo lực lượng lao động sản xuất, cung
cấp nguồn nhân lực cho xã hội chính là đội ngũ giáo viên kỹ thuật- dạy nghề.
Với tình hình hiện nay chúng ta đều thống nhất quan điểm về quá trình giáo
dục toàn diện cho hệ thống quốc dân, trong đó có mối quan hệ biện chứng liên
thông giữa chất lượng người lao động và chất lượng đội ngũ giáo viên kỹ thuật-
dạy nghề tương ứng, sự khác biệt giữa họ chính là trình độ nghiệp vụ sư phạm
kỹ thuật.
Vì thế đội ngũ giáo viên kỹ thuật- dạy nghề nói chung và giáo viên trung
học chuyên nghiệp – dạy nghề Trường Trung học Kỹ thuật Nghiệp vụ Thủ Đức
nói riêng phải ý thức trách nhiệm của mình qua việc luôn thường xuyên rèn
luyện bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nâng cao trình độ, đổi mới và hiện đại
hoá phương pháp giáo dục, nâng cao kỹ năng sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp để
đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo trong thời đại ngày nay.trung cấp
Trong đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng sư
phạm nghề cho giáo viên Trường Trung học Kỹ thuật Nghiệp vụ Thủõ Đức “ của
luận văn này, cũng nhằm các mục tiêu phát triển đội ngũ giáo viên, đảm bảo
hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, đáp ứng nhu cầu đào tạo của nhà
trường.
Nội dung luận văn gồm có 3 chương chính:
ABSTRACT
Today, in the globalization context and drastic competition of the world and in
common with development of the Science – Technology is rain-storm. Vietnam
Education is being innovated and developed to keep pace with the new
tendency, the one of integrating into Local Region and globalization, so as to
open up new opportunities to approach the development of Science and
Techniques.
Especially, the national organizations of education and vocational training are
greatly responsible for high quality force of technical workers supply with
confident and industrial working style, to meet all the country’s requirements
for Industrialization and Modernization. The duty to train a labor force for social
manpower supply belongs to the Technical Vocation Teachers.
Therefore those teachers, generally, and the ones at Thu Duc Technical and
Professional Secondary School in particular are to teach themselves and foster
their professional knowledge to broaden their ability, innovate and modernize
their schooling methods and improve their professional teaching skills, so as to
satisfy our needs of education and training nowadays.
One of this thesis’ topic, “Research and suggest solutions for improving the
ability and teaching skills of Teachers at Thu Duc Technical and Professional
Secondary School”, is to develop the school teaching force and ensure the
reasonable payment structure and quality in order to supply the school’s needs
of training.
This thesis consists of 3 main chapters:
Chapter 1: Logical basis to set up standards and duty of professional college
and vocation teachers, based on Career analyzing, defining teaching skill
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình vẽ
Chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU :
1. Lý do chọn đề tài trang 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Giới hạn đề tài 2
4. Đối tượng nghiên cứu 3
5. Khách thể nghiên cứu 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Xác đònh thuật ngữ 3
NỘI DUNG :
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền của người GVTHCN 6
1.1.1 : Tiêu chuẩn giáo viên trường THCN 7
1.1.2 : Nhiệm vụ của giáo viên trường THCN 7
1.1.3 : Quyền của giáo viên trường THCN 7
1.2. Đặc điểm lao động sư phạm và năng lực SPKT nghề nghiệp 8
1.2.1 : Đặc điểm lao động sư phạm 8
1.2.2 : Những yêu cầu đối với người giáo viên dạy nghề 9
1.2.3 : Năng lực sư phạm kỹ thuật nghề nghiẽp 10
Hoạt động của người giáo viên dạy nghề 10
1.Phân tích nghề, xây dựng hệ thống bài tập TH 11
2.Xây dựng và tổ chức quá trình công nghệ 12
3.Huấn luyện kỹ năng sử dụng 13
sư phạm nghề của giáo viên trường TH KTNVï Thủ Đức 32
2.4.1. Tiến hành thu thập dữ liệu điều tra 32
2.4.2. Nội dung và kết quả điều tra 33
2.4.3. Nội dung và kết quả phỏng vấn 40
2.4.4. Thực trạng về các biện pháp bồi dưỡng trình độ
và kỹ năng sư phạm nghề cho GV trường TH KTNV TĐ 47
2.5. Thực trạng về đội ngũ giáo viên THCN-DN hiện nay 48
2.6. Đánh giá nội dung và biện pháp bồi dưỡng TĐSP
cho giáo viên dạy nghề hiện nay 49
2.7. Nhận đònh về nội dung chương trình đào tạo và các biện pháp
bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
Trung học Chuyên nghiệp-Dạy nghề hiện nay 49
2.8. Thực trạng về đào tạo bồi dưỡng giáo viên ở một số nước 50
2.9. Thực trạng đào tạo năng lực SP Dạy nghề ở Việt Nam 51
2.10. Nghiên cứu hệ thống mô hình nghề nghiệp giáo viên KT-DN
để làm cơ sở xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo
và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trong thời gian tới 52
2.11. Tham khảo một số giải pháp nâng cao kỹ năng
đào tạo nghề cho đội ngũ giáo viên dạy nghề trong thời gian tới 60
Chương III : ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ VÀ
KỸ NĂNG SƯ PHẠM NGHỀ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG
TRUNG HỌC KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ THỦ ĐỨC
3.1. Những căn cứ để đề xuất các nội dung và các giải pháp
nâng cao trình độâ, kỹ năng sư phạm nghề
cho giáo viên Trường TH KT NV Thủ Đức 62
3.1.1. Kết quả nghiên cứu lý luận: 62
3.1.2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn: 63
3.1.3. Tiêu chí cho cơ cấu đội ngũ giáo viên
giáo viên các trường Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề. “
Phụ lục 2: QUY ĐỊNH VỀ VIỆC MỞ CÁC LỚP BỒI DƯỢNG SƯ PHẠM
Phụ lục 3: CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỢNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
(Theo quy đònh của Bộ GD & ĐT)
Phụ lục 4: QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND THÀNH PHỐ:
V/v: Cho phép thành lập Trung Tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp
và Hướng nghiệp Thủ Đức trực thuộc Sở Giáo dục.
Phụ lục 5: QUYẾT ĐỊNH CỦA CHỦ TỊCH UBND THÀNH PHỐ:
V/v: Cho phép chuyển Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp và
Hướng nghiệp Thủ Đức thành Trường Trung học Kỹ thuật và
Nghiệp vụ Thủ Đức trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố.
Phụ lục 6: QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
V/v: Ban hành Quy đònh tạm thời về đào tạo liên thông Dạy nghề,
Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học.
Phụ lục 7: QUI ĐỊNH TẠM THỜI VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG DẠY NGHỀ,
TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC.
Phụ lục 8: CHỈ THỊ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
về nhiệm vụ của toàn ngành trong năm học 2004 – 2005
Phụ lục 9: PHIẾU XIN Ý KIẾN dành cho Giáo viên Trường Trung học Kỹ
thuật Nghiệp vụ Thủ Đức.
Phụlục10: PHIẾU PHỎNG VẤN dành cho Cán bộ quản lý và các Giáo viên
giảng dạy thâm niên trong Trường Trung học KT_NV Thủ Đức.
Phụlục11: DANH SÁCH GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT
NGHIỆP VỤ THỦ ĐỨC THAM GIA ĐIỀU TRA
Phụ lục12: HÌNH ẢNH HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI NĂM HỌC 2004-
2005
DANH MỤC BẢNG BIỂU
//
Bảng 1.1 : Các hoạt động và năng lực SPKT
Hình 1.1.: Sơ đồ phân tích kỹ năng dạy nghề
của giáo viên KT - DN 18
Hình 2.1: Biểu đồ mức độ sử dụng phương pháp và
kỹ thuật giảng dạy của GV trường THKTNV – TĐ 34
Hình 2.2: Biểu đồ mức độ sử dụng các hình thức kiểm tra
của GV trường THKTNV-TĐ 35
Hình 2.3: Biểu đồ những khó khăn trong kỹ năng giảng dạy nghề
của GV trường THKTNV- TĐ 36
Hình 2.4: Biểu đồ mức độ cần thiết đối với các nội dung cần
bồi dưỡng nâng cao kỹ năng sư phạm nghề 37
Hình 2.5: Biểu đồ mức độ cần thiết đối với các nội dung cần
bồi dưỡng để nâng cao trình độ sư phạm 38
Hình 2.6: Biểu đồ mức độ đáp ứng kiến thức và
kỹ năng sư phạm của GV trường THKTNV – TĐ 41
Hình 2.7: Biểu đồ mức độ khó khăn giáo viên gặp phải
trong quá trình giảng dạy 42
Hình 2.8: Biểu đồ mức độ tác động của các yếu tố quản lý
đến chất lượng đội ngũ giáo viên 44
Hình 2.9: Biểu đồ mức độ tổ chức của các yếu tố quản lý
đến chất lượng đội ngũ giáo viên 45
Hình 2.10: Biểu đồ minh họa số lượng giáo viên
đáp ứng nhu cầu đào tạo 46
Hình 2.11: Biểu đồ minh họa chất lượng giáo viên
đáp ứng nhu cầu đào tạo 46
Hình 2.12: Sơ đồ chung của quá trình nghiên cứu
và xây dựng mô hình nhân cách nghề nghiệp 53
Hình 2.13: Sơ đồ mô hình nghề nghiệp
người giáo viên kỹ thuật- dạy nghề 53
Hình 2.14: Mô hình hoạt động của
người giáo viên kỹ thuật- dạy nghề 54 Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
//
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa nền giáo dục Việt Nam đòi hỏi phải có tư duy,
quan điểm, đònh hướng mới, phù hợp với các xu hướng mới của thời đại. ‚Giáo
dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp
nhân dân về học tập và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện
những phẩm chất, năng lực cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế” {1, trang 19}.
Sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) nước nhà chỉ có
thể thành công khi có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao. Đội ngũ này phần lớn
là những công nhân lành nghề, những kỹ thuật viên giỏi, được xác đònh là yếu tố
then chốt của sự tăng trưởng kinh tế. Các tổ chức Giáo dục Đào tạo Dạy nghề
trong cả nước có trách nhiệm to lớn về việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật
chất lượng cao, có tác phong công nghiệp vững vàng đáp ứng yêu cầu CNH -
HĐH, đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm
trong xã hội.
Đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề lực lượng chủ yếu trực tiếp tham gia
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, do đó Đảng và Nhà nước rất
quan tâm việc phát triển đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay ‚Phát triển
đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất
lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả
giáo dục. Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Đổi mới chương trình
Trung học chuyên nghiệp, công nhân Kỹ thuật cùng các hoạt động dạy nghề
ngắn hạn.
Là giáo viên giảng dạy nhiều năm tại trường, vì thế người nghiên cứu đã
mạnh dạn chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ
năng sư phạm nghề cho giáo viên Trường Trung học Kỹ thuật – Nghiệp vụï Thủ
Đức ” nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng vai trò và nhiệm vụ
mới của nhà trường trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát thực trạng trình độ đào tạo và trình độ sư phạm được bồi
dưỡng của giáo viên trường THKTNV Thủ Đức, từ đó đề xuất:
- Một số nội dung cần bổ sung trong chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên Trung học Chuyên nghiệp – Dạy nghề (THCN - DN).
- Các giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ, nâng cao kỹ năng sư phạm nghề
cho giáo viên trường THKTNV Thủ Đức nhằm hướng tới nâng cao chất
lượng và hiệu quả đào tạo.
3. Giới hạn đề tài
Trước yêu cầu phát triển của các trường THCN - DN trong xu thế mới, thì
đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề là lực lượng cần chuẩn hóa và không ngừng
nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, kỹ năng nghề
nghiệp để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu lực lượng lao động của xã hội. Vì thế,
việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện kế hoạch bồi dưỡng giáo viên
trong tình hình hiện nay là điều cấp thiết, nhưng do thời gian có hạn nên phạm vi
nghiên cứu của đề tài chỉ thực hiện tại Trường THKTNV Thủ Đức là một trong
những trường của hệ thống Trung học Chuyên nghiệp.
Ngoài ra, mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực trạng trình độ và kỹ năng sư
phạm nghề của giáo viên nhà trường nhằm đề xuất một số nội dung và các giải
pháp bồi dưỡng giáo viên để làm cơ sở thực hiện, chứ không đi sâu vào việc xây
dựng chương trình bồi dưỡng và tiến hành thực nghiệm, tuy nhiên người nghiên
cứu cho rằng các giải pháp đề xuất sẽ có ý nghóa nhất đònh có thể đóng góp cho
nhà trường trong việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và các đònh hướng chiến lược
8. Xác đònh thuật ngữ
Một số thuật ngữ liên quan đến đề tài:
1. Nghiên cứu: Theo Tự điển tiếng Việt {12}: ‚Nghiên cứu là xem xét tìm
hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay để rút ra những
hiểu biết mới.
2. Đề xuất: Nêu ra, đưa ra để xem xét, giải quyết {12}.
3. Giải pháp: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó {12}.
4. Trình độ: Mức độ về sự hiểu biết và kỹ năng được xác đònh hoặc đánh
giá theo tiêu chuẩn nhất đònh nào đó‛ {12}.
5. Sư phạm: là khoa học về giảng dạy và giáo dục trong nhà trường‛ {12}.
6. Trình độ sư phạm được hiểu là mức độ về hiểu biết và kỹ năng của giáo
viên đối với khoa học về giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, được
xác đònh theo bậc. Ví dụ: Trình độ ĐHSP, CĐSP… (trình độ đào tạo); Sư
phạm bậc I, Sư phạm bậc II (trình độ bồi dưỡng) {13}.
Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 4
7. Kỹ năng (Skill): Là khả năng thực hiện một công việc hoặc một hoạt
động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu, mục đích
xác đònh trong những điều kiện nhất đònh (thời gian, phương tiện, môi
trường hoạt động, nguồn lực…) và dựa vào các tri thức, các kỹ xảo đã có
{39, tr. 76, 77}.
8. Kỹ năng sư phạm: cũng được xác đònh theo trình độ sư phạm được đào
tạo hay bồi dưỡng cùng với kinh nghiệm giảng dạy, thể hiện qua khả
năng thực hiện hoạt động giảng dạy và giáo dục có chất lượng và hiệu
quả của giáo viên
9. Kỹ năng nghề: Là kỹ năng hoạt động nghề nghiệp theo các cấp trình độ
(thường được xác đònh theo bậc)
10. Kỹ năng sư phạm nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 5
và nghề nghiệp đồng thời có liên quan trực tiếp đến các lónh vực khoa học
tự nhiên và khoa học công nghệ. [18]
18. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm: Trường Trung học chuyên nghiệp,
Trường Dạy nghề, Trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề (gọi là cơ sở dạy
nghề). Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản
xuất, kinh doanh dòch vụ, cơ sở giáo dục khác.[20]
19. Trung học chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm đối với học
sinh có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở và từ một đến hai năm đối với học
sinh có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.[20]
20. Dạy nghề dành cho người có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với
nghề cần học; được thực hiện từ một năm trở xuống đối với chương trình
dạy nghề ngắn hạn, từ một đến ba năm đối với các chương trình dạy nghề
dài hạn.[20]
21. Giáo viên kỹ thuật- dạy nghề {31}: là những giáo viên giảng dạy các
nội dung dạy học thuộc một lónh vực nhất đònh trong các ngành nghề đào
tạo. Có nhiều loại hình giáo viên kỹ thuật - dạy nghề, tuy nhiên có thể
chia ra làm 04 loại hình:
+ Giáo viên kỹ thuật: dạy các môn kỹ thuật ở các trường phổ thông,
trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp – Hướng nghiệp.
+ Giáo viên kỹ thuật dạy các môn lý thuyết kỹ thuật cơ sở, chuyên
môn ở các trường Đại học, cao đẳng, THCN – DN.
+ Giáo viên kỹ thuật dạy nghề dạy thực hành ở các trường Đại học,
cao đẳng, THCN – DN
+ Giáo viên kỹ thuật dạy nghề dạy cả lý thuyết và thực hành ở các
trường Đại học, cao đẳng, THCN – DN.
22. Môđun (Module){50}: Tập hợp một số công việc có liên quan với nhau
nhằm cung cấp một số kiến thức và kỹ năng để người học có thể hành
nghề ngay trong một lónh vực chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vò trí
Trường Trung học chuyên nghiệp là một thành phần trong hệ thống cơ sở
giáo dục nghề nghiệp thuộc bậc trung học có quan hệ đào tạo liên thông với các
trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Dạy nghề, Cao đẳng, Đại học
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Đội ngũ giáo viên dạy nghề nói chung và giáo viên THCN –DN nói riêng
trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo
đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, bán lành nghề và lao động phổ thông -
lực lượng đông đảo nhất trong nguồn nhân lực của đất nước. Vì thế, để đáp ứng
yêu cầu đào tạo của xã hội thì người giáo viên THCN – DN phải được trang bò
và không ngừng bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn và năng lực
sư phạm để đạt những tiêu chuẩn theo yêu cầu giáo dục và thực hiện tốt vai trò
nhiệm vụ của mình.
1.1. Các tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền của người GVTHCN:
Theo Điều lệ Trường Trung học chuyên nghiệp do Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành thì giáo viên trường trung học chuyên nghiệp là người làm
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường {9, điều 38} và các tiêu chuẩn,
nhiệm vụ của người giáo viên trung học chuyên nghiệp (GVTHCN) được xác
đònh như sau:
Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 7
1.1.1: Tiêu chuẩn giáo viên trường trung học chuyên nghiệp {9, đ.39]
Giáo viên trường trung học chuyên nghiệp phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
1. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
2. Có bằng tốt nghiệp đại học;
3. Có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm (trừ giáo viên tốt nghiệp ở trường,
khoa sư phạm);
4. Có sức khỏe để giảng dạy.
1.1.2: Nhiệm vụ của giáo viên trường trung học chuyên nghiệp {9,đ.40}
Giáo viên trường trung học chuyên nghiệp có những nhiệm vụ sau đây:
Sự thành công trong hoạt động sư phạm của người giáo viên kỹ thuật dạy
nghề phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp của họ và
để có được những năng lực này cần phải có quá trình đào tạo và rèn luyện
Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 8
không ngừng. Vì thế ta cần tìm hiểu thế nào là lao động sư phạm và năng lực sư
phạm kỹ thuật nghề nghiệp để xây dựng và xác đònh nội dung cần đào tạo và
bồi dưỡng cho giáo viên kỹ thuật dạy nghề.
1.2. Đặc điểm lao động sư phạm và năng lực sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp
[39, tr.99 - 118]
Để hiểu được đặc điểm của một nghề nghiệp nào đó, chúng ta có thể dựa
vào các mặt như: đối tượng hoạt động nghề nghiệp, công cụ, tính chất hoạt
động…Từ đó, chúng ta có thể nêu ra một số đặc điểm cơ bản của lao động sư
phạm như sau:
1.2.1: Đặc điểm lao động sư phạm (LĐSP)
Đối tượng của lao động sư phạm là thế hệ trẻ
…Xã hội tương lai mạnh hay yếu, phát triển hay trì trệ là tùy thuộc vào thế
hệ trẻ, phụ thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kỳ chuẩn bò này. Thực
chất nội dung của thời kỳ chuẩn bò này là hình thành những phẩm chất và
năng lực của con người lao động mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
Hoạt động chính của thầy giáo là tổ chức và điều khiển quá trình lónh hội của
học sinh, giúp họ lónh hội những kinh nghiệm, tinh hoa mà loài người đã tích
lũy được và biến chúng thành những nét nhân cách của bản thân – không ai
trong xã hội, kể cả cha mẹ, có thể thay thế được chức năng này của người
thầy giáo.
Công cụ chủ yếu của LĐSP chính là nhân cách của giáo viên
…Trong hoạt động giáo dục, người thầy dùng nhân cách của chính mình để
tác động vào học sinh: đó là phẩm chất chính trò, là sự giác ngộ về lý tưởng
đào tạo thế hệ trẻ, là lòng yêu nghề mến trẻ, là trình độ học vấn, là sự thành
thầy biểu hiện phải luôn tìm ra cái mới, luôn sáng tạo, cải tiến trong công
việc của mình để tìm được sự say mê và hứng thú hoạt động.
Nghề sư phạm là nghề lao động trí óc chuyên nghiệp
Nói tới lao động trí óc, phải đề cập tới đặc điểm nổi bật.
- Có thời kỳ khởi động: nghiã là thời kỳ để cho lao động đi vào nề nếp
tạo ra hiệu quảû. Ở thời kỳ này, hiệu quả lao động thấp hoặc thậm chí
không có. Khác với lao động của người công nhân có thể cho ra sản
phẩm lao động sau mỗi phút, thậm chí mỗi giây còn lao động của
người thầy là lao động trí óc, trăn trở ngày, đêm,có khi cả tháng…
nhất là khi phải giải quyết tình huống sư phạm phức tạp.
- Có quán tính trí tuệ: Điều đó thể hiện rõ khi người thầy kết thúc giờ
giảng bước chân ra khỏi lớp xong đầu óc vẫn còn phải suy nghó đến
những vấn đề xung quanh đó như sự chậm hiểu của một học sinh, sự
phán đoán về một biểu hiện nào đó ở các em …
Do những đặc điểm trên, công việc của người thầy giáo không hẳn đóng
khung trong không gian lớp học xác đònh mà ở khối lượng, chất lượng và tính
sáng tạo công việc, công việc xây dựng một luận chứng, cách giải quyết một
vấn đề, xác đònh một biện pháp sư phạm…là cả một sự sáng tạo, tìm tòi nghề
nghiệp đã đặt ra nhiều đòi hỏi trong phẩm chất và năng lực người thầy giáo.
1.2.2: Những yêu cầu đối với người giáo viên dạy nghề
Phải có giác ngộ xã hội chủ nghóa
Có nghiã là phải có lý tưởng phục vụ rõ ràng biểu hiện cụ thể như : phải
có lý tưởng nghề ngiệp, có lòng yêu nghề, yêu trẻ, thường xuyên nâng cao
trình độ về tư tưởng, văn hoá, nghiệp vụ và chính trò, phải có sự quan tâm tới
đồng nghiệp của mình.
Lý tưởng nghề nghiệp chính là ý tưởng đào tạo thế hệ trẻ. Đây không
phải là cái gì có sẵn, cũng không phải là cái gì có thể truyền từ người này
sang người khác bằng cách áp đặt, mà sự hình thành và phát triển nó là một
quá trình hoạt động tích cực trong lónh vực giáo dục. Vì trong quá trình đó,
Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
viên kỹ thuật – dạy nghề. Họ trở thành gạch nối giữa thế giới trường học và thế
giới công nghiệp. Những người giáo viên này có vò trí hết sức đặc biệt trong xã
hội hiện đại, vì vậy họ cần có kiến thức vững vàng về chuyên môn và kinh
nghiệm thực tế trong lónh vực nghề nghiệp. Họ cần am hiểu học sinh, giúp học
sinh hoàn thiện nhân cách và rèn luyện nghề nghiệp, tác phong công
nghiệp…Đồng thời họ cũng phải tự hiểu mình, ra sức trau dồi về chuyên môn,
nghiệp vụ, am hiểu xã hội học, am hiểu về sư phạm và có tác phong mô
phạm…Cho nên việc nghiên cứu khả năng sư phạm kỹ thuật của người thầy giáo
dạy nghề là một việc hết sức cần thiết
Hoạt động của người giáo viên dạy nghề:
Chúng ta đều biết, người giáo viên dạy nghề là người trực tiếp đào tạo ra
những người công nhân kỹ thuật chứ không chỉ ‚góp phần đào tạo‛ thôi. Vì
về nguyên tắc, đối với học sinh thì sau trường nghề là nhà máy, xí nghiệp, là
Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 11
thực tiễn sản xuất. Người học sinh không phải qua bất cứ một cơ sở đào tạo
trung gian nào khác.
Tất cả những phẩm chất, năng lực nghề (gồm có tay nghề và tư duy), tác
phong công nghiệp, đạo đức nghề nghiệp… cần trang bò cho học sinh thì trước
hết, nó phải có ở người thầy.
Những đặc trưng nhất trong hoạt động của giáo viên dạy nghề là: nghiên
cứu và xây dựng các quy trình công nghệ, tổ chức thực hiện quy trình công
nghệ để qua đó hình thành cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp một
cách hợp lý nhất, giúp cho học sinh làm quen được với thực tiễn sản xuất, cập
nhật kỹ thuật mới để có thể tái huấn luyện cho những công nhân đã qua sản
xuất.
Sau đây, chúng ta có thể nói qua về hoạt động đặc trưng của giáo viên
dạy nghề, gồm:
- Phân tích nghề, xây dựng hệ thống bài tập thực hành
Nghóa là: trên cơ sở hệ thống kỹ năng được xây dựng, trên cơ sở
trang thiết bò của nhà trường và dựa vào yêu cầu của sản xuất xã hội,
người giáo viên dạy nghề sẽ lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập
thực hành của một nghề nào đó. Để làm được công việc này, đòi hỏi
người giáo viên phải có tay nghề cao, am hiểu về tâm lý học lao động
và phải qua thực tiễn dạy nghề.
2. Xây dựng và tổ chức quá trình công nghệ
Sau khi đã có hệ thống bài tập thực hành theo thực tế thiết bò có tại
xưởng, theo lòch trình giảng dạy đã bố trí, giáo viên dạy nghề sẽ xây
dựng quy trình công nghệ cho mỗi bài tập thực hành cụ thể.
Người học sinh sau khi được giáo viên hướng dẫn các thao tác mới,
sẽ theo quy trình công nghệ sau này để tiến hành bài tập. Chính vì thế,
quy trình công nghệ được xây dựng ở đây không nhất thiết phải tối ưu
ngay từ đầu (về mặt công nghệ) nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu
sau:
- Hợp lý về mặt công nghệ và phù hợp với quy luật hình thành kỹ
năng, kỹ xảo.
- Có hướng dẫn tỉ mỉ các bước của công việc, thao táùc kiểm tra
trong quá trình thực hiện quy trình, cách sử dụng dụng cụ, nhất
là các loại dụng cụ chuyên dùng.
- Do đặc điểm của việc tổ chức dạy học nhiều khi một công việc
kỹ thuật lại phải tách ra thành nhiều bài hướng dẫn. Khi đó, một
quy trình công nghệ thực tế, phải phân chia thành nhiều quy
trình trong việc dạy học (nhưng mỗi quy trình đó phải là một
quy trình hoàn chỉnh).
- Như vậy, tổ chức cho học sinh có thể thực hiện được quy trình
công nghệ trong điều kiện cụ thể của nhà trường là một trong
những công việc quan trọng của giáo viên dạy thực hành. Một
đặc điểm quan trọng trong dạy thực hành là thời gian cho một
đơn vò thực hành là 8 giờ (cả ngày) và một bài thực hành thường
trung gian của bài thực hành).
3. Huấn luyện kỹ năng sử dụng
Tay nghề là tổ hợp của hai khả năng; khả năng sử dụng công cụ và
khả năng tư duy kỹ thuật. Mức độ thành thạo tay nghề được phân ra
làm hai mức; kỹ năng và kỹ xảo. Nếu như việc phát triển tư duy kỹ
thuật ở học sinh là kết quả hoạt động của toàn bộ đội ngũ giáo viên
trong trường nghề thì khả năng sử dụng thành thạo công cụ lao động
lại phụ thuộc chủ yếu vào giáo viên dạy nghề.
Khi tốt nghiệp ở các trường nghề ra, người thợ không thể không sử
dụng thành thạo công cụ lao động của ngành mình. Cứ nhìn vào cách
thức sử dụng công cụ lao động người ta có thể đánh giá được tay nghề
của người thợ, đánh giá được người thầy của họ (nếu là thợ mới ra
trường).
Để huấn luyện cho học sinh có khả năng sử dụng thành thạo (và
sáng tạo) công cụ lao động, đòi hỏi người giáo viên phải có kế hoạch
tỉ mỉ kiên trì, luôn đi sát học sinh trong luyện tập.
4. Huấn luyện đạo đức, tác phong công nghiệp
Đạo đức nghề nghiệp luôn là nội dung đầu tiên phải học của người
thợ từ trước tới nay. Song ở giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế chuyển
sang nhiều thành phần theo cơ chế thò trường, thì vấn đề đạo đức nghề
nghiệp được đặt ra lại càng bức bối hơn, gay gắt hơn. Vì cùng với sự
phát triển nhiều mặt về kỹ thuật, mức sống … nền kinh tế thò trường
cũng đem lại nguy cơ của lối sống vò kỷ của tư tưởng chạy theo lợi
nhuận bằng bất cứ giá nào. Cuộc sống với những giá trò đo được theo
giá trò tài sản cá nhân có rất nhiều cám dỗ. Bởi vậy, nếu không có một
căn bản đạo đức luân lý tốt thì không dễ gì vượt qua được. Mà không
Luận văn Thạc só NC đề xuất giải pháp nâng cao trình độ và kỹ năng SP nghề
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Tiến Dũng Trang 14
ai có điều kiện thuận lợi hơn người giáo viên dạy nghề để truyền cho
thuật) trong thao tác nghề nghiệp. Tay nghề của người thầy giáo phải
đạt đến mức có thể phân tích thao tác của nghề thành các đơn vò huấn
luyện, để từ đó có thể làm tốt nhiệm vụ đào tạo, có thể lựa chọn, xây
dựng kế hoạch, phương pháp huấn luyện tốt nhất.
Thực tế cho thấy, chỉ những người giỏi tay nghề, am hiểu và có
kinh nghiệm sư phạm mới có thể xây dựng được một hệ thống bài tập
thực hành hợp lý và có chất lượng cao.
Nếu ta so sánh với những người thợ cùng bậc trong thực tế sản
xuất, thì người giáo viên dạy nghề có kém hơn về mặt năng suất sản
xuất lao động (và thường là như vậy), nhưng không thể kém hơn về