Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về chính quyền cơ sở. - Pdf 31

1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của Đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh xây dựng, chăm
lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một công việc trọng yếu của Đảng. Đồng
thời, Người cho rằng cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành
công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém. Vì thế, phải nuôi dạy cán bộ
như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành TW Đảng khoá VIII
về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước cũng khẳng định “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then
chốt trong công tác xây dựng Đảng”.
Một trong những mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 được ban hành kèm theo QĐ số
136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ:
“Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu
cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”. Đồng thời, nội dung cải
cách thứ tư của Chương trình được xác định là “Đổi mới, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức”.
Có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, trong đó
luân chuyển là một trong những giải pháp rất quan trọng. Luân chuyển góp
phần tăng cường công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn
cho các địa bàn cần thiết, khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín trong công
tác cán bộ, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng công chức trong thực tiễn, tạo điều


2
kiện để công chức có thể phát huy toàn diện về năng lực lãnh đạo, quản lý.

về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước. Đà Nẵng phải
phấn đấu để trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp
trước năm 2020”. Do vậy, để thực hiện được phương hướng, mục tiêu, đáp
ứng với yêu cầu phát triển đó, cần có một đội ngũ công chức có chất lượng
cao, được đào tạo bài bản, có phẩm chất, năng lực, được rèn luyện trong thực
tiễn, có kinh nghiệm trong công việc.
Những năm qua, TP.Đà Nẵng luôn quan tâm đến công tác nâng cao
chất lượng đội ngũ công chức trên địa bàn, nhất là đối với chính quyền cơ sở.
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về vấn đề
này, thực tiễn về công tác quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở tại
TP.Đà Nẵng vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ, hoàn
thiện. Đồng thời, hiện nay vẫn chưa có một Đề tài nghiên cứu công tác luân
chuyển công chức từ UBND cấp huyện về chính quyền cơ sở từ thực tiễn tại
TP.Đà Nẵng.
Xuất phát từ tình hình thực tế và những yêu cầu trên, em đã chọn Đề
tài luận văn tốt nghiệp “Luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về
chính quyền cơ sở từ thực tiễn tại TP.Đà Nẵng”. Qua đó, tìm hiểu thực trạng,
nguyên nhân và kiến nghị một số giải pháp, nhằm góp phần từng bước nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác luân chuyển công chức nói chung và luân
chuyển công chức từ UBND cấp huyện về chính quyền cơ sở nói riêng.
Đồng thời, trong Đề tài, không nghiên cứu công tác luân chuyển cán bộ,
công chức của Đảng, Mặt trận và hội đoàn thể.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu


4
Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về chính quyền cơ sở.

Tạp chí Cộng sản, số 7/2002.
Và một số công trình và tác giả khác nữa.
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về luân chuyển, nhưng chưa có
công trình đề cập công tác luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về
chính quyền cơ sở từ thực tiễn tại TP.Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về chính
quyền cơ sở từ thực tiễn tại TP.Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Địa bàn TP.Đà Nẵng.
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu thực tế, thông qua đó mô tả,
đánh giá, phân tích tình hình luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về
chính quyền cơ sở từ thực tiễn tại TP.Đà Nẵng. Trong Đề tài, không nghiên
cứu công tác luân chuyển cán bộ, công chức của các cơ quan Đảng, Mặt trận
và hội đoàn thể.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận


6
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà
nước về cán bộ, công chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói
chung cũng như về luân chuyển công chức nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm Đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu:
5.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật

1.1.1. Vị trí pháp lý của UBND cấp huyện
Theo quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003:
UBND cấp huyện do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của
HĐND cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
1.1.2. Vai trò của UBND cấp huyện
UBND cấp huyện chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp
phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các
chính sách khác trên địa bàn quản lý.
UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa
phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy
hành chính nhà nước từ TW đến cơ sở.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức UBND cấp huyện
UBND cấp huyện do HĐND cùng cấp bầu ra, gồm có CT, các PCT và
Uỷ viên. CT UBND là đại biểu HĐND. Các thành viên khác của UBND
không nhất thiết phải là đại biểu HĐND.
Số lượng thành viên của UBND cấp huyện theo Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003 có từ bảy đến chín thành viên. Số lượng thành viên và
số PCT UBND của UBND cấp huyện do Chính phủ quy định.


9
Đồng thời, NĐ số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ về
Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh quy định: UBND cấp huyện có 10 cơ quan chuyên môn
được tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh. Đây chính là các cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền
hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật,

tỉnh, có thể áp dụng mô hình tổ chức 02 phòng chuyên môn trên như quy
định đối với các thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Việc xác định mô hình tổ chức
này do UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh quyết định.
- Đối với các huyện đảo: Căn cứ vào các điều kiện cụ thể của từng
huyện đảo, UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh quyết định số lượng và tên
gọi các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện đảo. Số lượng cơ quan
chuyên môn của UBND đảo không quá 10 phòng.
1.1.4. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước của UBND cấp
huyện
UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hành chính
nhà nước trên các lĩnh vực được quy định cụ thể tại Điều 97 đến Điều 107
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Đối với UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn:
- Xây dựng quy hoạch phát triển đô thị của thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trình HĐND cùng cấp thông qua để trình cấp trên phê duyệt.


11
- Thực hiện các nghị quyết của HĐND về quy hoạch tổng thể xây
dựng và phát triển đô thị của thị xã, thành phố thuộc tỉnh trên cơ sở quy
hoạch chung, kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, biện pháp
bảo đảm trật tự công cộng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi
trường và cảnh quan đô thị; biện pháp quản lý dân cư đô thị và tổ chức đời
sống dân cư trên địa bàn.
- Thực hiện quản lý và kiểm tra việc sử dụng quỹ nhà thuộc sở hữu nhà
nước trên địa bàn theo sự phân cấp của Chính phủ; tổ chức thực hiện các quyết
định xử lý vi phạm trong xây dựng, lấn chiếm đất đai theo quy định của pháp
luật.
- Quản lý, kiểm tra đối với việc sử dụng các công trình công cộng được

vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật”, bao gồm:
- Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức
chính trị-xã hội.
- Công chức trong cơ quan nhà nước.


13

- Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập.
- Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp.
Cụ thể hoá Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại NĐ số 06/2010/NĐCP ngày 25/01/2010 của Chính phủ Quy định những người là công chức,
trong đó có công chức hành chính ở cấp huyện, gồm:
- Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng và người làm việc trong
Văn phòng HĐND và UBND.
- CT, PCT UBND quận, huyện, Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn
phòng và người làm việc trong Văn phòng UBND quận, huyện nơi thí điểm
không tổ chức HĐND.
- Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ

Là người thiết kế, xây dựng, tổ chức và điều hành hoạt động, nhưng phải
chịu sự điều chỉnh của pháp luật, của nội quy, quy chế làm việc trong bộ
máy.
1.4. Chính quyền cơ sở
1.4.1. Khái niệm
Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Luật Tổ
chức HĐND và UBND năm 2003: hệ thống cơ quan hành chính Việt Nam
được phân thành 4 cấp:
- Chính phủ cấp chính quyền TW.


15

- Chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc TW (gọi chung là cấp tỉnh).
- Chính quyền huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã (gọi chung
là cấp huyện).
- Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Trong đó, chính quyền xã, phường, thị trấn được xem là chính quyền
cơ sở, là cấp chính quyền có đặc điểm:
- Được Nhà nước quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
quản lý nhà nước ở cơ sở
Điều 3 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003:
HĐND và UBND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến
pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và
chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí,
vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và
trong bộ máy chính quyền địa phương.
- Do bầu cử mà lập ra
Điều 1, Điều 2 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003:

trợ xã hội, quản lý trật tự xây dựng… công chức chính quyền cơ sở gắn bó
với nhân dân không chỉ với tư cách đại diện cho quyền lực Nhà nước, mà
còn có những mối quan hệ gia tộc, làng xóm lâu đời, với những ràng buộc về
truyền thống, phong tục, tập quán.
- Thực hiện trực tiếp đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Ngoài ra, còn được chính quyền cấp trên uỷ quyền
thực hiện một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu thực tế đặt ra.


17

- Tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở không có các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND với các chức năng, nhiệm vụ được quy định cụ thể như
các sở thuộc UBND cấp tỉnh, các phòng thuộc UBND cấp huyện.
- Chính quyền cơ sở là cấp chính quyền mà chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền gắn liền với việc thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”, bảo đảm phương châm này được thực hiện một cách hiệu
quả nhất. Chính quyền cơ sở gồm có 3 loại hình là xã, phường, thị trấn. Tuy
địa vị pháp lý của chính quyền xã, phường, thị trấn như nhau, nhưng hoạt
động trong thực tế thì lại có những sự khác nhau do đặc điểm về đô thị hoá,
hoạt động kinh tế, xã hội, sự phát triển của thương mại-dịch vụ, công nghiệp,
sự phân bố dân cư, sinh hoạt cộng đồng…, cụ thể:
+ Chính quyền xã, thị trấn thuộc huyện có vai trò quan trọng trong
việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá trên địa bàn quản lý, chủ yếu là phát
triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một phần dịch vụ phục
vụ sản xuất nông nghiệp, như: thủy lợi, phòng trừ dịch bệnh, phòng, chống,
khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ giới hoá, chuyên canh…
+ Chính quyền phường thuộc quận có một số đặc điểm khác với chính
quyền xã, thị trấn không quản lý toàn diện các vấn đề liên quan đến nông

lợi ích của nhân dân đến cấp chính quyền cao hơn.
- Tham gia xây dựng và phát triển tiến trình dân chủ tại địa phương,
mà dân chủ địa phương là cơ sở của dân chủ xã hội, động lực thúc đẩy đoàn
kết, phát triển và tiến bộ xã hội.
- Là cấp thực hiện, hiện thực hoá chủ trương của Đảng, Nhà nước về
an sinh xã hội, nhân đạo, bình đẳng xã hội. Nơi người dân có thể nhận được


19
sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước như xoá đói giảm nghèo; cứu trợ xã hội,
thiên tai bão lụt;…
1.4.3. Hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở
Hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà
nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, thực hiện các chức năng đối
nội, đối ngoại trên cơ sở pháp luật, các quy luật khách quan, nhằm ổn định
và phát triển đất nước.
Hoạt động quản lý của chính quyền cơ sở là hoạt động quản lý của
HĐND, UBND xã, phường, thị trấn trong việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy đinh. Cụ thể, Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003:
Hoạt động của HĐND xã, phường, thị trấn gồm hoạt động tập thể của
HĐND thông qua các kỳ họp thường kỳ hoặc bất thường, hoạt động của
Thường trực HĐND, UBND, các Ban của HĐND và của các đại biểu HĐND
nhằm thực hiện các chức năng cơ bản:
- Là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu
trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
- Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy
tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã
hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất

- Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân
sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình HĐND quyết định.


21
- Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương
trình HĐND quyết định.
- Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp
bách của địa phương trình HĐND quyết định.
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của HĐND về kinh tế, xã hội;
thông qua báo cáo của UBND trước khi trình HĐND.
- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành
chính ở địa phương.
Hiệu quả hoạt động của UBND được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt
động của tập thể UBND, CT UBND, các thành viên khác của UBND và của
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
Trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
UBND xã, phường, thị trấn có quyền quyết định những vấn đề trên các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, xây dựng chính
quyền địa phương… theo quy định tại Điều 111 đến Điều 117 Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 2003. Ngoài ra, đối với UBND phường ngoài còn
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn:
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND phường về việc bảo
đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và quy hoạch đô
thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ
gìn trật tự vệ sinh, sạch đẹp khu phố, lòng đường, lề đường, trật tự công cộng
và cảnh quan đô thị; quản lý dân cư đô thị trên địa bàn.
- Thanh tra việc sử dụng đất đai của tổ chức, cá nhân trên địa bàn
phường theo quy định của pháp luật.

23
kinh”. Đến đầu năm sau (1468), Thể lệ luân quan giữa các địa phương được
sửa lại và quy định cụ thể như sau: “Những quan viên nhậm chức nơi nước
độc chốn biên cương xa xôi, người nào biết cách nuôi vỗ dân, đốc thúc
không phiền nhiễu dân mà vẫn thu đủ thuế, đủ hạn 6 năm thì cho chuyển về
nơi đất lành. Nếu ai kiếm cớ đau ốm để né tránh, nộp thuế thiếu nhiều thì lại
phải bổ đi miền biên cương xa, đủ 6 năm nữa mới được quyết định lại” (Đại
việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.433, 472, 473). Tuy nhiên, có những vị trí với
con người cụ thể, Lê Thánh Tông không cho thay đổi như quan làm giáo
dục-đào tạo vì càng giữ chức lâu, càng có điều kiện đào tạo nhân tài. Việc
luân quan địa phương một mặt đảm bảo chính sách đãi ngộ thỏa đáng, mặt
khác tránh sự cát cứ lộng hành.
- Dưới thời Lê Trung Hưng, việc luân chuyển quan lại đã trở thành
một cơ chế hoàn chỉnh. Lê triều chiếu lệnh thiên chính cho biết vào năm Quý
Mùi đầu niên hiệu Cảnh Trị (1663) đã quy định “nếu viên chức nào biết hết
lòng với dân, dạy dỗ nhân dân trong hạt công bằng sáng suốt, thanh liêm
ngay thẳng…thì sẽ cho viên ấy được lưu lại nguyên chức hai khoá rồi thăng
trật cho đi nơi khác” (Lê triều chiếu lệnh thiên chính, Sài Gòn, 1961, tr.23).
Người “liêm cần”, “bình thường không có lỗi được lưu lại ứng vụ, người nào
lười biếng, bỉ ổi đưa ra trấn ngoại phiên ít việc, người nào tham nhũng, giảo
quyệt thì đuổi về thụ dịch, người nào ở nha môn lâu năm mà không có lỗi
nên chuyển vào nha môn riêng biết làm việc” (Một số văn bản pháp luật thế
kỷ XV-XVIII, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr.73), và “định lệ các
chức trong ngoài 3 năm 3 lần khảo khoá đều được ở bậc thượng thì được
thăng chức 2 bậc, hai lần khảo khoá bậc thượng, một lần ở bậc trung thì
thăng chức một bậc. Thậm chí, nếu “ba lần khảo khoá đều được bậc trung đủ
niên hạn đổi đi chỗ khác. Năm đầu bậc thượng, năm thứ hai bậc hạ, năm sau
bậc trung thì tương đương với chuẩn cũ. Năm đầu bậc thượng, năm thứ hai



Chính sách “hồi tỵ”-tránh bố trí, sử dụng người đứng đầu một địa
phương hoặc một tổ chức nhà nước là người có mối quan hệ ruột thịt với
những người đang ở nơi đó, cơ quan đó-là một chính sách quản lý quan lại
quan trọng của một số triều đại phong kiến nước ta. Mục tiêu của chính sách
“hồi tỵ” là giảm thiểu những tác động tiêu cực như bệnh cục bộ địa phương,
bệnh gia đình chủ nghĩa, tệ kéo bè, kéo cánh... trong lựa chọn, sử dụng quan
lại.
Trong lịch sử nước ta, Lê Thánh Tông (1442-1498) là vị vua đầu tiên
ban hành, hiện thực hoá chính sách “hồi tỵ” trong một nỗ lực đổi mới thể chế
chính trị và quan chế của nước ta. Ông không chỉ là nhân tài về mặt trí tuệ
mà còn là một vị vua rất có bản lĩnh và quyết đoán nên mới có khả năng thực
hiện “hồi tỵ” với các quan. Quốc sử ghi lại quá trình xây dựng chính sách
này của Lê Thánh Tông như sau:
“Ngày 22 (tháng 5, năm 1486), cấm quan lại nhận chức ở ngoài lấy
đàn bà con gái trong bộ hạt của mình” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB
Khoa học xã hội, H.2004, tr.530).
- “Tháng 9 (1488), xuống chiếu rằng: Từ nay, các quan phủ, huyện,
châu xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, anh em con chú con bác và bác
cháu, cậu cháu với nhau thì cho một người làm xã trưởng, không được cho
cả hai cùng làm để trừ mối tệ bè phái hùa nhau” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập
II, NXB Khoa học xã hội, H.2004, tr.534).
“Tháng 8, ngày mồng 2 (1495), có lệnh cho châu huyện chọn đặt xã
trưởng. Nếu là con cô cậu, đôi con dì với nhau và thông gia cùng gả bán cho
nhau đều không được cùng làm xã trưởng trong một xã” (Đại Việt sử ký toàn
thư, tập II, NXB Khoa học xã hội, H.2004, tr.546).


Trích đoạn Sự cần thiết luân chuyển công chức UBND cấp huyện từ thực tiễn tại TP.Đà Nẵng hiện nay Sự cần thiết phải luân chuyển công chức từ UBND cấp huyện về chính quyền cơ sở từ thực tiễn tại TP.Đà Nẵng hiện nay Hạn chế-nguyên nhân 1 Hạn chế Quan điểm, định hướng của Đảng Xây dựng hệ thống văn bản chuyên biệt của Chính phủ, văn bản hướng dẫn thống nhất của Bộ Nội vụ về vấn đề luân chuyển để
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status