Đánh giá kết quả phẫu thuật đặt dụng cụ liên gai sau (intraspine) trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cùng tại bệnh viện việt đức - Pdf 30

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là một bệnh lý thường gặp. Dấu
hiệu lâm sàng chính là đau, hạn chế vận động vùng cột sống thắt lưng kèm
theo triệu chứng chèn ép rễ thần kinh. Theo Hội cột sống Hoa Kỳ (2005) thoát
vị đĩa đệm cột sống thắt lưng chiếm 2-3% dân số, tuổi thường gặp từ 30-50,
nam mắc nhiều hơn nữ [1]. Nghiên cứu của Trần Ngọc Ân, thoát vị đĩa đệm
cột sống thắt lưng chiếm 11,2% số bệnh nhân vào điều trị tại khoa Cơ –
Xương – Khớp Bệnh viện Bạch Mai (1991 – 2000) [2].
Ngày nay với sự hỗ trợ của công nghệ chẩn đoán hình ảnh đặc biệt là
chụp cộng hưởng từ, chẩn đoán xác định và đánh giá các nguyên nhân thoát
vị đĩa đệm đã trở nên dễ dàng và chính xác.
Điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm được đề cập tới khi các phương
pháp điều trị nội khoa không hiệu quả. Phẫu thuật lấy bỏ thoát vị đĩa đệm đơn
thuần, giải ép rễ thần kinh là một kỹ thuật kinh điển được thực hiện từ những
năm đầu thế kỷ trước và tới ngày nay chúng ta vẫn áp dụng một cách rất hiệu
quả trong điều trị. Theo Hanley và Shapiro [3] nghiên cứu trên 120 bệnh nhân
được theo dõi trung bình 38 tháng với tỉ lệ TVĐĐ 7% tái phát, 14% có dấu
hiệu đau thắt lưng sau mổ. Ngoài ra một nghiên cứu cơ sinh học của Alf
Nachemson [4] cơ chế tăng áp lực nội đĩa và diện khớp trong thoát vị đĩa đệm
là nguyên nhân chính gây triệu chứng đau thắt lưng. Các nghiên cứu khác cho
thấy phương pháp phẫu thuật lấy thoát vị đĩa đệm đơn thuần làm giảm chiều
cao gian đĩa, giảm khả năng chịu lực của đĩa đệm do vậy làm tăng áp lực lên
diện khớp do đó gây đau lưng mạn tính kéo dài, thậm chí có thể gây mất vững
cột sống.
2
Để hạn chế những vấn đề trên, dụng cụ liên gai sau được chế tạo lần
đầu tiên bởi Dr Fred Knowles khoảng 1960, đưa vào ứng dụng và có các thử
nghiệm lâm sàng đầy đủ ở Mỹ và Châu Âu từ 1980 [5]. Các công trình nghiên
cứu cho thấy, giải ép lấy thoát vị kết hợp đặt dụng cụ liên gai sau sẽ làm
giảm triệu chứng đau lưng sau mổ do giảm áp lực diện khớp và đĩa đệm,

chứng cột sống thắt lưng và hội chứng rễ thần kinh thắt lưng- cùng [9,10].
Phẫu thuật mổ mở có bề dày lịch sử khoảng 70 năm và cho tới nay vẫn là
phương pháp áp dụng nhiều nhất trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang
phát triển [11,12].
Năm 1976, G.Yasargil, W.Caspar [13,14] nghiên cứu và giới thiệu dụng
cụ và kỹ thuật vi phẫu. Đây là cuộc cách mạng trong ngành phẫu thuật thần
kinh trong đó có vi phẫu thuật lấy nhân đĩa đệm. Năm 1977, G.Yasargil báo
cáo 532 trường hợp phẫu thuật vi phẫu cắt đĩa đệm, các bệnh nhân này chủ
yếu là các vũ công [15]. Ông nhận thấy sau phẫu thuật họ trở lại sàn diễn rất
nhanh. Maroon [16] qua nghiên cứu 2500 ca phẫu thuật vi phẫu cắt đĩa đệm
4
có một vài nhận xét: đây là phẫu thuật nhanh, thời gian trung bình từ 30 phút
đến 1 giờ, khoảng 90% bệnh nhân sau mổ giảm đau từ tốt đến rất tốt. Theo
báo cáo của nhiều tác giả tỷ lệ biến chứng như tổn thương rễ, rách màng cứng
dưới 1.5%, tỷ lệ phải mổ lại theo dõi lâu dài sau 5-10 năm là dưới 5%, tỷ lệ
thành công từ 88% đến 98.5%. Maroon cho rằng đây là phương pháp có kết
quả tốt hơn các phương pháp trước đây ông đã áp dụng như tiêm tinh chất đu
đủ, cắt đĩa đệm qua da tự động, phẫu thuật mổ mở.
Phẫu thuật nội soi được Kambin [17] phát triển và trở thành một phương
pháp được nhiều phẫu thuật viên về chấn thương chỉnh hình ưa chuộng vì hệ
thống nội soi trên nguyên lý của nội soi khớp. Phương pháp này cũng được
một số tác giả như Anthony Yeung, Martin Knight, Sang Ho Lee, Thomas
Hoogland ủng hộ [18,19]. Hiện nay, với hệ thống nội soi mới nhất cho phép
lấy được cả các thoát vị đã vỡ và di rời trong ống sống, điều mà trước kia mọi
người nghĩ là chỉ có mổ mở mới giải quyết được.
Nhìn chung phẫu thuật nội soi đem lại nhiều ưu điểm như: thời gian
nằm viện ngắn (1-2 ngày), phương pháp mổ an toàn (vì bệnh nhân tỉnh nên
khi dụng cụ kích thích thần kinh sẽ thấy đau hoặc tê chân), sau mổ đau rất ít
(vì tổn thương phần mềm ít nhất), bảo vệ được các thành phần phía sau của
cột sống (không làm mất vững cột sống sau mổ).

hiện các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng cần thiết [22].
Theo Trần Ngọc Ân [2,23], đau thần kinh tọa do TVĐĐ/CSTL chiếm
11.2% số bệnh nhân vào điều trị tại khoa cơ - xương - khớp Bệnh viện Bạch
Mai (1991- 2000), đứng thứ hai sau viêm khớp dạng thấp.
Trần Đức Thái và cộng sự (2001) [24], nghiên cứu 45 trường hợp mổ
TVĐĐ/ CSTL thấy kết quả đạt tốt và khá đạt 91.12%, tỷ lệ nhiễm trùng và tái
phát sau mổ thấp (2.2%).
Vũ Hùng Liên, Trần Mạnh Trí [25] báo cáo 158 trường hợp phẫu thuật
mổ mở thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cho kết quả tốt là 64.5%, tỷ lệ
thoát vị tái phát là 7/158 (4.4%) sau theo dõi 2-3 năm.
6
Vũ Hùng Liên và Bùi Quang Tuyển [26,27] báo cáo kết quả điều trị
ngoại khoa thoát vị đĩa đệm thắt lưng – cùng tại khoa phẫu thuật thần kinh
BV 103 cho 2303 lượt bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm với kết quả: 65.28%
tốt, 24.15% khá, 9.2% vừa, 1.35% là kém. Tỷ lệ thoát vị tái phát là 1.95%
(1996-2002).
Nguyễn Vũ và Hà Kim Trung [28] báo cáo kết quả phẫu thuật thoát vị
đĩa đệm cột sống thắt lưng - cùng tại Bệnh viện Việt Đức (8/1998-8/2003) với
115 BN cho kết quả: 16.5% rất tốt, 67.8% tốt, 13.9% trung bình, 1.7% xấu.
Đồng Quang Sơn và Đồng Văn Hệ [29] nghiên cứu 42BN phẫu thuật
thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng – cùng tại BVĐKTW Thái Nguyên (2006-
2010) cho kết quả: 86.3% tốt, 10.3% trung bình, 3.4% xấu.
1.2. Đặc điểm giải phẫu và cơ chế bệnh sinh của bệnh TVĐĐ
1.2.1. Đặc điểm giải phẫu cột sống
Cột sống được cấu tạo từ 32 - 33 đốt sống và được chia thành 5 đoạn
theo chức năng, đó là đoạn cổ (7 đốt), đoạn lưng (12 đốt), đoạn thắt lưng (5
đốt), đoạn cùng (5 đốt) và đoạn cụt (3 – 4 đốt). Mỗi đốt có 3 phần chính: thân,
cung sau và các mỏm. Giữa cung và thân có lỗ đốt sống, tạo nên ống tủy khi
các đốt sống chồng lên nhau, trong đó chứa đựng tủy sống. Các đốt sống nằm
chồng lên nhau và đệm giữa các đốt sống là các đĩa đệm gian đốt sống, riêng

những cấu trúc và tính chất chuyển hóa riêng. Tỷ trọng tế bào của đĩa đệm
thấp hơn so với của sụn khớp và đĩa đệm cho thấy quá trình thoái hóa diễn ra
sớm hơn bất kỳ tế bào nào trong cơ thể.
Đĩa đệm nằm trong khoang gian đốt bao gồm: mâm sụn, bao xơ đĩa đệm và
nhân nhầy. Các đường kính của đĩa đệm bằng các đường kính của thân đốt sống
tương ứng. Chiều cao của đĩa đệm tăng dần từ đoạn cổ đến đoạn cùng [34].

Hình 1.2: Cấu trúc đĩa đệm [31]
Mâm sụn: là cấu trúc thuộc về thân đốt sống nhưng nó có liên quan chức
năng dinh dưỡng trực tiếp với đĩa đệm. Nó đảm bảo dinh dưỡng cho khoang
gian đốt nhờ lỗ sàng ở bề mặt thân đốt và lớp canxi dưới mâm sụn giúp vận
chuyển phần lớn những chất liệu chuyển hóa từ khoang tủy của thân đốt sống
theo kiểu khuyếch tán.
Vòng sợi: gồm nhiều vòng sơ sụn đồng tâm được cấu tạo bằng những
sợi sụn rất chắc và đàn hồi, đan ngoặc với nhau kiểu xoắn ốc.
1. Nhân nhầy
2. Vòng sợi
3. Mảnh sụn trong
9
Bao lấy nhân nhày tạo nên chu vi ngoài của đĩa đệm và được chia ra làm
2 vùng: vùng chứa collagen ở phía ngoài và vùng chuyển tiếp phía trong, gần
với nhân nhày. Bao xơ được tập hợp bởi nhiều lớp xơ sụn đồng tâm chồng lên
nhau, ở mỗi lớp, các sợi đi theo hướng xoắn ốc tạo một góc chếch khoảng 30
độ lên trên hoặc xuống dưới. Hai lớp sát nhau sẽ có góc ngược hướng nhau
(tạo nên hệ thống sợi dạng lưới). Ở nửa ngoài của bao xơ, các lớp này nằm rất
sát nhau, càng gần đến nhân nhày, các lớp có xu hướng thưa hơn. Lớp ngoài
cùng là lớp dày và chắc nhất, cho các sợi cân hòa vào sụn tiếp, màng xương
thân đốt sống, dây chằng dọc trước và sau, đây còn có tên gọi là dây chằng
Sharpey [35]. Ở vùng cột sống cổ và cột sống thắt lưng cùng, bao xơ phần
trước đĩa đệm dày hơn phần sau của đĩa đệm.

được đảm bảo cung cấp máu và nuôi dưỡng bằng hình thức khuyếch tán. Do
sự nuôi dưỡng kém nên quá trình thoái hoá đĩa đệm xuất hiện sớm [34].
Nuôi dưỡng của đĩa đệm:
Từ khi sinh ra cho đến khoảng 8 tuổi, đĩa đệm được nuôi dưỡng bởi
một số mạch cấp máu cho cả đĩa sụn tiếp cũng như bao xơ. Ở độ tuổi cao hơn,
sự nuôi dưỡng hoàn toàn dựa vào quá trình thẩm thấu. Có hai cách, 1/thẩm
thấu từ thân đốt sống qua đĩa sụn tiếp vào đĩa đệm và ngược lại, 2/thẩm thấu
từ bao xơ (nhờ một số mạch máu đến bao xơ) vào đĩa đệm [30].
11
Thần kinh chi phối
Dây chằng dọc trước
Đĩa đệm

Dây chằng dọc sau
Hình 1.4 Tương quan đĩa đệm, các dây chằng và thần kinh cảm giác [31]
Cơ sinh học đĩa đệm
Cột sống được tạo bởi những thân đốt sống cứng xen kẽ với tổ chức liên
kết đàn hồi gọi là đĩa đệm. Do đó cột sống đã trở thành một cơ quan mang hai
đặc tính ưu việt là vừa có khả năng đứng trụ vững chắc cho cơ thể, có thể
xoay chuyển về các hướng và mang tính đàn hồi.
Trên cơ sở của sức đàn hồi lớn, các đĩa đệm có chức năng như một “giảm
sóc” làm giảm nhẹ chấn động theo trục dọc cột sống do các nhân nhầy có khả
năng chuyển tiếp các lực trải đều, cân đối tới mâm sụn tiếp và bao xơ đĩa đệm.
Khi có một lực nén qua thân đốt sống, đĩa sụn tiếp sẽ ép nhân nhày dẹt
xuống, nhân nhày có vai trò phân bố lại lực từ hướng dồn trục dọc sang nhiều
hướng nằm ngang tỏa lực đến bao xơ. Lúc này bao xơ với nhiều lớp xơ sụn sẽ
có vai trò hấp thu lực và duy trì ở trạng thái cân bằng. Chính nhờ khả năng
thấm dịch của đĩa đệm vào thân đốt sống, một dạng van giảm áp cho đĩa đệm
nên trong thực nghiệm, với các loại lực nén, dồn trục dọc, đĩa đệm có khả
năng chịu đựng rất cao, và thường thân đốt sống sẽ bị tổn thương trước.Dựa

về chiều dài nhưng đan cài chặt chẽ với nhau. Những sợi nông nhất, là những
sợi dài nhất và trải dài giữa bốn hoặc năm đốt sống. Những sợi sâu hơn nằm
ngay bên dưới trải dài giữa hai hoặc ba đốt sống và lên đốt sống kế cận. Ở
mặt bên của các thân đốt sống, dây chằng được tạo nên bởi một ít sợi ngắn đi
từ đốt sống này đến đốt sống kế tiếp, được ngăn cách khỏi chỗ lỏm giữa các
thân đốt sống bởi những lỗ cho mạch máu chạy qua.
Dây chằng dọc sau nằm trong ống sống và trải dài dọc mặt sau của các
thân dốt sống, từ màng mái tới xương cùng, rộng hơn ở trên và dày ở vùng
ngực hơn là ở các vùng cổ và thắt lưng. Các sợi mịn và bóng của nó gắn chặt
với các đĩa gian đốt sống, các tấm sụn trong đầu xương và rìa lồi của các thân
đốt sống liền kề, nhưng ở giữa những chỗ bám này và được ngăn cách với
thân đốt sống bởi các tĩnh mạch sống nền và các nhánh tĩnh mạch dẫn máu từ
các tĩnh mạch sống nền. Đây là điểm chú ý khi phẫu thuật cắt bỏ dây chằng
dọc sau hay mài các gai xương trong thoái hóa đốt sống khi phẫu thuật lối
trước, đặc biệt trong lấy TVĐĐ và gai xương.
Khi cúi dây chằng dọc trước trở nên chùn lại khi phần trước của các đĩa
gian đốt sống bị ép. Ở giới hạn của nó, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng,
14
dây chằng gian gai, dây chằng trên gai và các sợi sau của đĩa bị căng, khoang
gian sống rộng ra, các mỏm khớp dưới trượt lên các mỏm khớp trên của đốt
sống nằm ngay bên dưới và các bao khớp trở nên căng. Khi ưỡn thì ngược lại,
và có sự ép lên các sợi sau của đĩa và bị hạn chế bởi sự căng của dây chằng
dọc trước, các sợi trước của đĩa và sự áp lại gần nhau của các đốt sống và các
mặt khớp.
Dây chằng dọc sau đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành
khối thoát vị đĩa đệm. Dây chằng dọc sau chạy dọc từ sọ tới xương cùng, làm
thành một lá chắn ngăn không cho đĩa đệm thoát vị ra sau.
Khi nghiêng luôn kết hợp với xoay quanh trục, các đĩa gian đốt sống bị
ép ở bên và bị căng và dài ra ở bên phía đối diện, và chuyển động được hạn
chế bởi sự căng của các cơ và các dây chằng đối kháng.

Tách ra từ động mạch đốt sống gần thân nền, hợp thành thân chung đi
dọc xuống theo đường giữa, trước khe trước của tủy sống
Động mạch gai sau:
Tách ra từ động mạch đốt sống hoặc động mạch tiểu não dưới ở ngang
mức mặt trên hành não, đi dọc xuống dưới chia thành 2 nhánh: Nhánh đi
trước rễ trước, nhanh đi sau rễ sau của thần kinh gai sống.
Động mạch rễ:
Tách ra từ động mạch đốt sống, đi theo 2 rễ thần kinh gai sống, cho các
nhánh nối với động mạch gai trước và động mạch gai sau.
Tĩnh mạch:
Máu tĩnh mạch của tủy sống được dẫn lưu từ hệ thống tĩnh mạch của
màng cứng theo mạng cột sống trong và mạng dưới nhện trước và mạng dưới
nhện sau để tiếp nối 1 cách dồi dào với tĩnh mạch liên đốt và mạng trước và
mạng sau nông của cột sống
1.2.1.4 Rễ thần kinh
Mỗi tầng đĩa đệm có một đôi rễ thần kinh đi ra từ bao màng cứng qua
lỗ liên hợp. Các rễ phía sau dẫn truyền các sợi cảm giác từ thần kinh sống đến
17
tủy sống, rễ phía trước chủ yếu mang các sợi vận động và dọc theo đó có
những sợi cảm giác, từ tủy sống đến rễ thần kinh. Các rễ phía sau và phía
trước ở hai bên được bao bọc bởi bao rễ trong ống thần kinh. Các thụ thể của
rễ trước nằm ở phần trước của tủy sống trong khi đó các thụ thể của các rễ
phía sau nằm ở vùng hạch rễ phía sau. Vùng hạch phía sau thường nằm ở
phần tận của rễ sau trong phần đỉnh của bao rễ, hướng xuống dưới đến chân
cung và gần đến nách rễ. Hạch của rễ có đường kính tăng dần từ L1 đến L5.
Do đoạn rễ S1 trong ống sống ngắn nên hạch rễ thần kinh thường nằm bên
trong ống sống Hạch của rễ từ L1đến L5 thường nằm trong lỗ liên hợp và các
hạch rễ phía cao hơn thì thường nằm ngoài hơn. Còn các đốt sống thấp thì ở
trong hơn so với lỗ liên hợp Các rễ thần kinh được bao bọc bởi màng cứng và
màng nhện được gọi là bao rễ, bao rễ có thể dài từ 2-3cm.

- Cho phép sự di chuyển đa mặt phẳng giữa các thân sống kế tiếp nhau.
Sự di chuyển này cùng với khả năng di chuyển của các diện khớp trên, dưới
cho phép cột sống cổ có biên độ chuyển động lớn. Nhờ vào khả năng biến
dạng đặc biệt của mình, đĩa đệm rất khó bị nén ép. Bất cứ lực nào tác động
lên nó đều được phân tán đến vòng sợi và mặt khớp của thân sống. Hoạt động
này chủ yếu dựa trên nguyên lý của sự tương quan giữa áp lực thủy tĩnh và áp
lực thể tích giữa môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của đĩa đệm.
1.2.2.2. Cơ chế thoát vị đĩa đệm
19
Trên thí nghiệm lồi đĩa đệm hay thoát vị nhân đệm được tạo ra do lực
nén ngang đĩa đệm. Người ta cho rằng TVĐĐ là ở ngoại biên khi bao xơ là
nơi đầu tiên thay đổi về mặt bệnh lý. Sự thoái hóa của bao xơ làm mất các cấu
trúc bè của bao xơ, do vậy thoái hóa đĩa đệm thường được ghi nhận là kết hợp
với TVĐĐ, nhưng TVĐĐ không xảy ra trong tất cả các trường hợp đĩa đệm
bị thoái hóa. Nguyên nhân của rách bao xơ dẫn đến thoát vị đĩa đệm không
được chứng minh trực tiếp trên sinh vật sống. Nhưng có những quan sát và
cho giả thiết cho rằng rách bao xơ là yếu tố có thể dẫn đến TVĐĐ [37].
TVĐĐ cũng được nghiên cứu trên xác, được thực hiện dưới tác động của bẻ
và nén cột sống, vỡ các bờ của bao xơ và sự tạo thành các lỗ dò của bao xơ
được tìm thấy sau thoát vị đĩa đệm trong ống sống. Có 3 dạng của rách bao xơ
được nghiên cứu trên xác: rách hoàn toàn, rách đồng tâm và rách ngang [36].
Từ cơ chế này, TVĐĐ có thể xảy ra sau rách bao xơ. Áp lực trong nhân đĩa
trở nên thấp hơn khi nhân đĩa đệm đi qua bao xơ bị rách [39] và làm giảm áp
lực trong bao xơ [40].
Khối thoát vị thường chứa nhân đĩa có gelatin, nhưng nó cũng có thể
bao gồm bao xơ sụn hay mảnh vỡ của chồi xương. Nghiên cứu trên 508
trường hợp cắt đĩa sống, 85% các trường hợp chỉ chứa nhân đĩa và phần còn
lại có sự phối hợp giữa nhân đĩa và bao xơ. Mảnh vỡ của chồi xương thường
được thấy ở những người già có tuổi. Lồi đĩa đệm có thể bao gồm nhân đệm
và bao xơ, tùy thuộc đĩa đệm có bị rách hoàn toàn hay không hoàn toàn.

sợi cảm giác sẽ bị đè ép vào dây chằng vàng. Đè ép rễ mạn tính dẫn đến xơ hóa
bao rễ, lâu ngày dẫn đến tổn thương sợi trục, gây rối loạn dẫn truyền, dẫn đến
liệt các mức độ và rối loạn cảm giác. Ngoài ra TVĐĐ còn chèn ép hoặc xuyên
qua dây chằng dọc sau, nơi có các tận cùng cảm giác đau của dây thần kinh quặt
ngược, cũng gây ra triệu chứng đau trong hội chứng rễ.
21
Thoái hóa đĩa đệm mãn tính thường sau giai đoạn 20 tuổi. Rách xung
quanh bao xơ ở vùng sau bên của bao xơ thường được thấy, rách nặng ở vùng
chu vi sẽ tạo nên những lỗ thủng, nhân đĩa đệm sau đó bị vỡ và đi qua lỗ
thủng này. Giảm chiều cao đĩa đệm thường là hậu quả của rách xung quanh
bao xơ. Chất proteolycan và nước sẽ thoát qua những đường vòng bao xơ gây
nên tình trạng thoái hóa nhân và sau đó sẽ làm giảm chiều cao đĩa đệm. Thoái
hóa thân đốt sống và hình thành gai cột sống được nhìn thấy ở giai đoạn cuối.
1.3. Lâm sàng và cận lâm sàng bệnh TVĐĐ CSTL-cùng
1.3.1. Lâm sàng thoát vị đĩa đệm CSTL [42,43,44]
- Hoàn cảnh phát bệnh: thường xuất hiện sau một chấn thương hay gắng
sức của cột sống.
- Tiền sử: thường bị đau thắt lưng tái phát nhiều lần.
- Tiến triển: bệnh thường phát triển theo 2 giai đoạn:
. Giai đoạn đau cấp: Là giai đoạn đau lưng cấp xuất hiện sau một chấn
thương hay gắng sức. Về sau mỗi khi có những gắng sức tương tự thì đau lại tái
phát. ở giai đoạn này có thể có những biến đổi của vòng sợi lồi ra sau, hoặc toàn
bộ đĩa đệm lồi ra sau mà vòng sợi không bị tổn thương.
. Giai đoạn chèn ép rễ: Đã có những biểu hiện của kích thích hay chèn ép
rễ thần kinh, xuất hiện các triệu chứng của hội chứng rễ: đau lan xuống chi dưới,
đau tăng khi đứng, đi, hắt hơi, rặn… nằm nghỉ thì đỡ đau. Ở giai đoạn này vòng
sợi đã bị đứt, một phần hay toàn bộ nhân nhầy bị tụt ra phía sau (thoát vị sau
hoặc sau bên), nhân nhầy chuyển dịch gây ra chèn ép rễ. Bên cạnh đó, những
thay đổi thứ phát của thoát vị đĩa đệm như: phù nề các mô xung quanh, ứ đọng
tĩnh mạch, các quá trình dính… làm cho triệu chứng bệnh tăng lên. Biểu hiện

Phản xạ da đùi
bìu
L
3
, L
4
Mặt trước đùi, trước
trong cẳng chân
Cơ tứ đầu đùi, các cơ
khép
Phản xạ gối
L
5
Mặt ngoài đùi, trước
ngoài cẳng chân mu
chân, ngón cái
Các cơ trước - ngoài
cẳng chân (không thể
đi trên gót chân)
S
1
Mặt sau ngoài đùi, sau
ngoài cẳng chân, bờ
ngoài bàn chân, ngón út
Các cơ khu sau cẳng
chân (không thể đi
bằng ngón chân)
Phản xạ gót
S
2

chân đau. Test này có độ đặc hiệu rất cao trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm.
FST (Femoral Stretch Test): đánh giá trong biểu hiện triệu chứng của
thần kinh đùi (L1,L2,L3).
24
Các điểm đau Valleix: dương tính khi ấn trên một số điểm dọc đường
đi của dây thần kinh hông to thì bệnh nhân đau.
Dấu hiệu Déjerine: dương tính khi ho hay hắt hơi bệnh nhân đau tăng
Dấu hiệu Siccar: dương tính khi gấp bàn chân về phía mu chân, trong
khi chân duỗi thẳng bệnh nhân sẽ thấy đau.
• Dựa vào 6 tiêu chuẩn của Saporta (1980)
+ Có yếu tố chấn thương cột sống thắt lưng
+ Đau thắt lưng lan theo đường đi của rễ dây thần kinh hông to, đau có
tính chất cơ học
+ Lệch vẹo cột sống thắt lưng
+ Có dấu hiệu gập góc cột sống thắt lưng
+ Dấu hiệu “bấm chuông” dương tính
+Nghiệm pháp Lasègue dương tính
Khi có 4 trên 6 tiêu chuẩn thì chẩn đoán thoát vị đĩa đệm CSTL
1.3.2. Chẩn đoán hình ảnh
1.3.2.1. X-Quang
Việc ra đời phim chụp X quang cuối thế kỷ XIX (1895) đã góp phần giải
thích các dấu hiệu lâm sàng bằng hình ảnh thoái hóa trên phim. Với tư thế
thẳng, nghiêng và chếch 3/4 là phương pháp đầu tiên, đơn giản nhưng không
thể thiếu đối với các bệnh nhân muốn khám cột sống vùng thắt lưng. Trên
phim chụp cột sống thẳng nghiêng có thể đánh giá được các bất thường bẩm
sinh của cột sống như dị dạng cột sống, thoái hoá cột sống thắt lưng, dính
thân đốt sống hay gai đôi. Phát hiện các thoái hóa đốt sống như mỏ xương,
gai xương, hay vôi hóa chằng dọc trước do thoái hoá cột sống dễ dàng được
xác định trên các phim chụp này. Hẹp lỗ ghép do thoái hoá được xác định trên
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status