1
ĐẶT VẤN ĐÊ
Đau thắt lưng là hiện tượng đau cấp tính hay mạn tính ở vùng từ ngang
đốt sống L1 đến ngang đĩa đệm L5 – S1 (bao gồm cột sống thắt lưng và các tô
chức xung quanh) do nhiều nguyên nhân trong đó thoát vị đĩa đệm chiếm tỷ lệ
ngày càng cao.
Theo tô chức Y tế thế giới 80% dân số có ít nhất một lần đau thắt
lưng[1]. Tại Việt Nam, theo thống kê điều tra của Trần Ngọc Ân và cộng sự,
đau thắt lưng là một hội chứng thường gặp ở nước ta, bệnh chiếm 2% dân số
và chiếm 17% số người trên 60 tuôi, bệnh chiếm tỷ lệ 41,45% trong nhóm
bệnh thần kinh cột sống và là một trong 15 bệnh cơ xương khớp hay gặp
nhất[2]. Theo Lambert khoảng 63% đau thắt lưng là do thoát vị đĩa đệm. Ơ
Việt Nam các tác giả nhận thấy có khoảng 80% bệnh nhân có hội chứng thắt
lưng hông còn trong độ tuôi lao động là do thoát vị đĩa đệm [3].
Theo hội cột sống Mỹ tháng 6/2005 bệnh TVĐĐ chiếm 2 – 3% dân số,
thường gặp ở lứa tuôi 30 – 50, nam mắc nhiều hơn nư[4], Ơ Anh, ước tính
khoảng 13% dân số trong độ tuôi lao động phải nghỉ việc vì đau thắt lưng do
thoát vị đĩa đệm trong khoảng 1 tháng hoặc nhiều hơn [5].
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là tình trạng dịch chuyển chỗ của nhân nhầy
đĩa đệm vượt quá giới hạn sinh lý của vòng xơ, gây nên sự chèn ép các thành
phần lân cận (tủy sống, các rễ thần kinh…), biểu hiện chính là đau thắt lưng
và hạn chế vận động vùng cột sống với các biểu hiện chèn ép vùng các rễ thần
kinh tương ứng [6] [7]. Đây là một vấn đề sức khỏe lớn của cộng đồng, tác
động đến rất nhiều người, ở mọi giới và mọi lứa tuôi, làm ảnh hưởng đến khả
năng lao động và tôn phí rất nhiều tiền bạc cho việc khám và điều trị.
2
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nói chung và lĩnh vực y học
Mỗi đốt có 3 phần chính: thân, cung sau và các mỏm. Giưa cung và thân
có lỗ đốt sống, tạo nên ống tủy khi các đốt sống chồng lên nhau, trong đó
chứa đựng tủy sống. Các đốt sống nằm chồng lên nhau và đệm giưa các đốt
sống là các đĩa đệm gian đốt sống, bình thường cột sống có 23 đĩa đệm (5 cô,
11 lưng, 4 thắt lưng và 3 chuyển đoạn: cô - lưng, lưng - thắt lưng, thắt lưng cùng) [6][9].
1.1.1. Giải phẫu cột sống thắt lưng
Mỗi đốt sống thắt lưng có cấu trúc gồm các phần chính là thân đốt sống,
cung đốt sống, mỏm đốt sống và lỗ đốt sống.
Hình 1.1. Các thanh phần đốt sống va đĩa đệm CSTL [10]
4
1.1.1.1. Thân đốt sống
Hình trụ dẹt, có hai mặt gian đốt sống và một vành chung quanh. Thân
đốt sống có kích thước tăng dần từ trên xuống dưới phù hợp với sự tăng dần
của trọng lượng từng phần cơ thể và lực tác dụng lên các đốt phía dưới
1.1.1.2. Cung đốt sống
Cung đốt sống gồm hai phần: Phần trước dính với thân đốt sống gọi là
cuống, phần sau gọi là mảnh đốt sống.
- Cuống cung đốt sống là hai cột xương, ở bên phải và bên trái. Bờ trên
và bờ dưới của cuống lõm vào gọi là khuyết đốt sống. Khớp dưới của một đốt
sống hợp với khuyết trên của đốt sống ngay dưới nó thành một lỗ gọi là lỗ
gian đốt, nơi đi qua của các dây thần kinh sống và các mạch máu.
- Mảnh cung đốt sống là hai mảnh xương nối từ hai cuống đến mỏm gai
tạo nên thành sau của lỗ đốt sống. Mảnh hình dẹt bốn cạnh, có hai mặt trước
và sau, hai bờ trên và dưới. Ơ mặt trước mảnh có một chỗ gồ ghề là nơi bám
của dây chằng vàng. Mặt sau liên quan với khối cơ chung.
1.1.1.3. Các mỏm đốt sống
Phủ phần sau của ống sống, bám từ cung đốt này đến cung đốt khác và
tạo nên một bức vách thẳng ở phía sau ống để che chở cho tuỷ sống và các rễ
thần kinh. Dây chằng vàng có tính đàn hồi, khi cột sống cử động nó có tác
dụng kéo cột sống trở về nguyên vị trí.
6
Hình 1.2. Dây chằng cột sống thắt lưng [10]
- Dây chằng trên gai và dây chằng liên gai:
Có tác dụng nối các mỏm gai với nhau. Dây chằng trên gai là dây mỏng
chạy qua đỉnh các gai sống, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động
CSTL khi đứng thẳng nghiêng và khi gấp cột sống tối đa [6] [11].
1.1.1.6. Thần kinh chi phối:
Đều tách từ đám rối thần kinh thắt lưng và đám rối thần kinh cùng. Đám
rối thần kinh thắt lưng chủ yếu chi phối cảm giác và vận động vùng đùi, bẹn,
bộ phận sinh dục. Các nhánh tận của đám rối thần kinh chi phối cho các cơ
vùng hậu môn, đùi, bẹn.
1.1.2. Cấu trúc đĩa đệm va sinh bệnh học
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
1.1.2.1. Cấu trúc đĩa đệm cột sống thắt lưng
Đĩa đệm nằm trong khoang gian đốt bao gồm: Mâm sụn, vòng sợi và
nhân nhầy.
- Mâm sụn: là cấu trúc thuộc về thân đốt sống, nhưng có liên quan đến
chức năng dinh dưỡng trực tiếp với đĩa đệm. Nó đảm bảo dinh dưỡng cho
khoang gian đốt sống
- Vòng sợi: Gồm nhiều vòng xơ sụn đồng tâm, được cấu tạo bằng nhưng
sợi sụn rất chắc và đàn hồi, đan ngược với nhau kiểu xoắn ốc. Các bó của vòng
sau bên. Các chấn thương nhẹ tái đi tái lại nhiều lần gây rách vòng xơ sẽ dẫn
đến phì đại cà tạo thành các rách xuyên tâm. Đĩa đệm thoái hoá đã hình thành
một tình trạng dễ tôn thương bất cứ lúc nào. Sau một tác động đột ngột của
các động tác sai tư thế, một chấn thương bất kỳ có thể gây đứt rách vòng sợi
đĩa đệm, nhân nhầy chuyển dịch ra khỏi giới hạn giải phẫu của nó hình thành
TVĐĐ. Nhân nhầy có thể thoát vị vào trong thân đốt sống phía trên và phía
dưới hoặc vào bên trong ống sống. Các chấn thương hơn nưa sẽ dẫn đến rối
loạn bên trong đĩa đệm, giảm chiều cao đĩa đệm hoặc đôi khi là mất hầu như
hoàn toàn đĩa đệm.
1.2. THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG THEO Y HỌC
HIỆN ĐẠI
Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra
khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần
kinh sống.
Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng gây nên hội
chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh [2][6][14][15].
1.2.1. Lâm sang
1.2.1.1. Hội chứng cột sống
- Đau cột sống thắt lưng: Khởi phát sau một chấn thương hoặc vận
động cột sống quá mức. Đau cấp tính tiến triển giảm dần sau đó đau tái phát
trở lại thành mạn tính. Đau có tính chất cơ học (tăng lên khi ho, hắt hơi, thay
đôi tư thế, đau nửa đêm về sáng, nghỉ ngơi đau giảm)
9
- Biến dạng cột sống:
+ Mất ưỡn thắt lưng (mất đường cong sinh lý)
+ Vẹo cột sống thắt lưng
+ Dấu hiệu gập góc: bệnh nhân có tư thế chống đau do TVĐĐ
gối giư chân bn thẳng, thao tác khám theo hai thì.
Thì 1: Nâng cao chân bệnh nhân (luôn ở tư thế duỗi thẳng) lên khỏi mặt
giường (hướng tới 90o), tới khi bệnh nhân kêu đau, căng dọc mặt sau chân thì
dừng lại. Xác định góc giưa chân bệnh nhân và mặt giường (ví dụ nâng chân
lên một góc 45o bn kêu đau thì Lasègue (+) 45o.
Thì 2: Giư nguyên góc đó (theo ví dụ trên là 45o) và gấp chân bệnh nhân
lại tại khớp gối. Bệnh nhân không còn đau dọc mặt sau chân nưa. Khám lần
lượt 2 chân của Bn.
+ Dấu hiệu Lasègue chéo: Khi thao tác khám tìm dấu hiệu Lasègue bên
lành chân bên bị bệnh đau tăng.
+ Dấu hiệu “bấm chuông”
Bn nằm hoặc đứng tư thế thoải mái. Thầy thuốc ấn trên đường cạnh
sống (cách trục cột sống khoảng 2cm về hai phía phải và trái) ngang mức
điểm giưa khoảng cách liên gai. Xuất hiện đau lan dọc theo rễ thần kinh
tương ứng.
+ Hệ thống các điểm Valleix:
Đây là nhưng điểm mà dây thần kinh hông to đi qua, thường xác định ở
năm vị trí:
* Điểm giưa ụ ngồi và mấu chuyển
* Điểm giưa nếp lằn mông
* Điểm giưa mặt sau đùi
* Điểm giưa nếp khoeo chân
* Điểm giưa cung cơ dép cẳng chân
11
- Có thể gặp các dấu hiệu tôn thương rễ
+ Rối loạn cảm giác: Giảm hoặc mất cảm giác kiểu rễ hoặc dị cảm (kiến
bò, tê bì, dị cảm…) ở da theo khu vực rễ thần kinh chi phối
khối lớn, trên một thoái hoá đĩa đệm…) và chẩn đoán phân biệt đối với một số
bệnh lý khác nhau như: hẹp ống sống, u tuỷ…với độ chính xác cao [18] [19].
1.2.2.4. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân: (MRI)
Đây là phương pháp rất tốt để chẩn đoán TVĐĐ vì cho hình ảnh trực tiếp
của đĩa đệm cũng như rễ thần kinh trong ống sống và ngoại vi [20] Phương
pháp này cho phép chẩn đoán chính xác TVĐĐ CSTL từ 95-100%. Tuy nhiên
đây vẫn là phương pháp chẩn đoán đắt tiền.
Trên phim: Hình ảnh đĩa đệm là tô chức đồng nhất tín hiệu ở các thân đốt
sống với mật độ khá đồng đều, xu hướng tăng cân đối từ trên xuống dưới và hơi
lồi ở phía sau. Đĩa đệm là tô chức giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2
Hình 1.3. Hình ảnh thoát vị đĩa đệm trên phim MRI [21].
- Thoát vị đĩa đệm trên phim MRI được chia thành:
+ Phình lồi đĩa đệm: bờ phẳng, phình nhẹ ra sau, không lồi khu trú,
không tôn thương bao xơ.
13
+ Thoát vị đĩa đệm: lồi khu trú của thành phần đĩa đệm, tôn thương
bao xơ. Có thể thoát vị ra trước hoặc sau, đặc biệt thoát vị ra sau hay gặp nhất.
+ Thoát vị đĩa đệm tự do: mảnh rời thoát ra và không liên tục với khoang
đĩa đệm, có khả năng di chuyển lên xuống, tôn thương dây chằng dọc sau
thường ở vị trí sau bên. Ngoài ra còn quan sát được tất cả các hình ảnh của
các tô chức lân cận như: thân đốt sống, các sừng trước và sừng sau, và một số
cấu trúc như: khối da, cơ và tô chức dưới da …[20],[22].
1.2.3. Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
1.2.3.1. Chẩn đoán xác định
- Lâm sàng: Theo tiêu chuẩn của Saporta 1980, trên lâm sàng bệnh nhân
có từ 4/6 triệu chứng sau đây có thể chẩn đoán là TVĐĐ.
thường hay gặp trong thoát vị ở vị trí bên
+ Trường hợp đau hai hay nhiều rễ:
* Trường hợp đau hai rễ cùng tầng đĩa đệm đa số do thoát vị ở giưa sau
hoặc ra sau ở hai bên. Triệu chứng đau tăng giảm không đều nhau ở hai bên.
* Trường hợp đau hai rễ kế cận cùng bên, thường gặp là rễ L 4 L5 hoặc rễ
L5 hoặc rễ S1 khi đó chẩn đoán định khu cần cân nhắc kỹ vì có mấy khả năng.
Có thể là thoát vị ở một tầng mà chèn ép cả hai rễ. Thoát vị ở một tầng có
kèm theo phản ứng viêm ngoài màng cứng gây nên viêm cả rễ thần kinh kế
cận ở phía trên hoặc phía dưới.
* Trường hợp đau nhiều rễ: ít gặp, ít có giá trị chẩn đoán định khu nhưng
quan trọng vì thường là khởi đầu của hội chứng đuôi ngựa do khối thoát vị
lớn chèn ép đuôi ngựa.
Thoát vị đĩa đệm ra trước:
- Khởi phát đột ngột sau chấn thương cột sống hoặc vận động mạnh đột
ngột khi cột sống thắt lưng đang ở tư thế ưỡn quá mức. Tuy nhiên cũng có thể
xảy ra từ từ do cột sống luôn ở tư thế ưỡn kéo dài của nghề nghiệp trên cơ sở
thoái hoá đĩa đệm.
15
- Giai đoạn đầu thì đau thắt lưng cấp sau đó chuyển sang đau thắt lưng
mạn tính tái phát.
- Đau tăng khi vận động cột sống.
- Có hội chứng cột sống
- Không có hội chứng rễ
- Chẩn đoán xác định dựa vào MIR hoặc chụp đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm vào phần xốp thân đốt (Kiểu Schmorl)
Là biểu hiện điển hình của thoái hoá đĩa đệm, ở người cao tuôi có thể
gặp thoát vị đĩa đệm kiểu Schmorl ở các đĩa đệm liên tiếp nhau, nhất là các
thắt lưng bao gồm: điện trị liệu, nhiệt trị liệu, ánh sáng trị liệu, xoa bóp trị
liệu, kéo giãn cột sống thắt lưng và sử dụng áo nẹp cột sống. Mục đích của
các phương pháp này là làm tăng lưu lượng máu, giảm phù nề, giảm bớt sự
kết dính, tăng độ linh hoạt của cột sống thắt lưng
Trong đó kéo giãn cột sống được áp dụng phô biến, là phương pháp điều
trị giải quyết được một phần bệnh sinh cuả TVĐĐ [24].
1.2.4.2. Phương pháp điều trị phẫu thuật
- Mục đích:
Lấy bỏ nhân nhầy thoát vị chèn ép vào tủy hoặc rễ thần kinh mà không
gây tôn thương cấu trúc thần kinh và đảm bảo sự vưng chắc của cột sống
Sau khi có chẩn đoán xác định, bệnh nhân được điều trị nội khoa một
cách hệ thống cơ bản mà không khỏi sẽ được chỉ định phẫu thuật trong
trường hợp
- Chỉ định tuyệt đối: TVĐĐ có hội chứng đuôi ngựa hoặc hội chứng
chèn ép rễ thần kinh một hoặc hai bên gây liệt và đau nhiều.
- Chỉ định tương đối: Sau điều trị nội 3 tháng không hiệu quả với các
biểu hiện đau rễ hoặc TVĐĐ mạn tính tái phát kèm đau rễ [7],[25].
17
1.3. THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG THEO Y HỌC CỔ
TRUYÊN
1.3.1. Bệnh danh
Thoát vị đĩa đệm được YHCT mô tả trong phạm vi chứng tý với bệnh
danh là “Yêu thống” hay “Yêu cước thống”. Chứng tý theo y học cô truyền là
một chứng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ khớp ở tay chân do khí
huyết không lưu thông tốt gây bế tắc kinh lạc. Nhưng chứng bệnh phong
thấp, thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp, viêm cơ, đau thần kinh toạ,
bệnh gút... đều có thể qui vào chứng tý ".
Do lao động, sinh hoạt không điều độ gây ra chấn thương làm khí trệ
huyết ứ. Khí huyết ngưng trệ ở cơ xương khớp gây đau tức, cự án [26].
1.3.3. Các thể lâm sang
Theo YHCT, Yêu thống được phân thành bốn thể với các biểu hiện khác
nhau là: Thể hàn thấp, thể phong thấp nhiệt, thể can thận âm hư và thể huyết
ứ. Với các đặc điểm lâm sàng của thoát vị đĩa đệm CSTL thì các thể Huyết ứ
và thể Huyết ứ trên can thận hư là phù hợp nhất.
1.3.3.1. Thế huyết ứ
- Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Thường xuất hiện đột ngột do các tai nạn trong sinh hoạt, tai nạn lao
động, tai nạn giao thông… gây ra. Các nguyên nhân trên làm cho khí huyết bị
ngưng trệ gây bế tắc kinh lạc, khí huyết không điều hoà gây đau và hạn chế
vận động.
- Triệu chứng:
Đau dư dội vùng cột sống thắt lưng, có thể lan xuống mông và chân, đi
lại vận động khó khăn. Bệnh nhân nằm bất động, co chân thì đỡ đau. Đau tăng
khi ho, hắt hơi, đại tiện hoặc vận động. Ăn ngủ kém, mạch nhu sáp.
- Chẩn đoán bát cương: Biểu thực
19
- Điều trị:
+ Pháp điều trị: Hoạt huyết hoá ứ, thông kinh hoạt lạc, chỉ thống
+ Phương dược: Tứ vật đào hồng gia giảm
+ Châm cứu: Châm các huyệt Thận du, đại trường du, giáp tích, A thị
huyệt, bát liêu (2 bên) nếu có lan xuống chân thì châm thêm: Thừa phù, vân
môn, uỷ trung, thừa sơn, côn lôn bên bệnh
+ Xoa bóp: Thực hiện mức độ vừa phải, dùng các thủ thuật như lăn,
day, vờn, bóp, bấm huyệt, vận động cột sống.
Là phương pháp chưa bệnh không dùng thuốc độc đáo của YHCT, là tên
gọi kép của hai phương pháp châm và cứu. Châm cứu được ứng dụng trong
điều trị bệnh ở nhiều nước trên thế giới, các hình thức châm cứu cũng không
ngừng phát triển với nhiều hình thức mới như điện châm, thuỷ châm, nhĩ
châm, đầu châm, diện châm, thủ châm, túc châm, châm tê…
- Cơ chế của châm cứu theo YHCT:
+ Điều hoà âm dương.
Bệnh tật phát sinh do mất cân bằng âm dương gây ra bởi các tác nhân
gây bệnh bên ngoài (tà khí lục dâm) hoặc do cơ thể suy nhược, công năng
tạng phủ giảm sút, tình chí không điều hoà, cũng có thể gây ra bởi lao động,
ăn uống… Trên lâm sàng, bệnh lý hoặc hàn hoặc nhiệt, hoặc hư, hoặc thực.
Nhiều khi bệnh tật rất phức tạp, các dấu hiệu về hàn nhiệt rất khó phân biệt.
Nguyên tắc chung là lập lại mối cân bằng âm dương, cụ thể trong điều trị
bằng châm cứu muốn đánh đuôi được tà khí, nâng cao chính khí phải tuỳ
thuộc vào sự nông sâu của bệnh, trạng thái hàn nhiệt của người bệnh để vận
dụng dùng châm hay cứu, dùng phép bô hay phép tả.
+ Điều chỉnh cơ năng hoạt động của hệ kinh lạc.
Hệ kinh lạc bao gồm các đường ngang và thẳng tạo thành một hệ thống
chằng chịt, thông suốt mọi chỗ làm cho cơ thể thành một khối thống nhất.
Trong kinh lạc có kinh khí vận hành để điều hoà khí huyết, giúp cơ thể khoẻ
mạnh, chống đỡ được tác nhân gây bệnh. Hệ kinh lạc cũng là nơi biểu hiện
21
của các trạng thái bệnh lý của cơ thể, đồng thời cũng là nơi tiếp nhận các hình
thức kích thích (châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, giác…) thông qua các huyệt
để chưa bệnh. Khi điều trị bằng châm cứu là tác động vào các huyệt trên các
kinh mạch nhằm làm lưu thông khí huyêt, giải quyết vấn đề kinh mạch bị bế
tắc, làm cho sự vận hành của kinh khí được thông suốt [28].
1.4.1.2. Điện châm.
Điện châm là phương pháp chưa bệnh phối hợp giưa tác dụng châm kim
của châm cứu với kích thích điện của các dòng điện: một chiều, cảm ứng
xung một pha hay hai pha, xung đều hay không đều v.v…tác dụng của xung
điện phát ra từ máy điện châm.
Kích thích của dòng xung điện có tác dụng làm dịu đau, ức chế cơn đau,
kích thích hoạt động của các cơ, các tô chức, tăng cường dinh dưỡng ở tô
chức, làm giảm viêm, giảm xung huyết, giảm phù nề tại chỗ
- Chỉ định:
+ Giảm đau trong các bệnh lý cơ xương khớp, đau răng, đau thần kinh
toạ, đau vai gáy…[27][31].
1.4.1.3. Điện trường châm.
Trường châm phát triển từ cơ sở lý luận của Cửu châm mà người xưa có
ghi trong sách Linh khu (770 – 221 trước Công nguyên)
Châm tức là điều khí điều huyết, khi châm kim vào các huyệt vị sẽ khai
thông sự tuần hành của khí huyết.
Nhưng loại kim người xưa dùng có 9 loại (cửu châm) trong đó hay dùng
là loại kim số 7, dài từ 2 đến 8 cm, đường kính 0,2 – 0,3 mm gọi là Hào châm.
Tuy nhiên tác dụng điều khí của Hào châm còn hạn chế.
Trường châm là loại kim số 8, ứng với bát phong, phong trong thiên
nhiên từ 8 phương tới tác động lên 8 khớp lớn trong cơ thể gây chứng tý.
Muốn chưa phải châm sâu, châm xuyên huyệt, nên dùng loại kim dài 10 – 30
cm, đường kính từ 0,1 – 0,5mm, có tác dụng điều khí nhanh và mạnh
23
Kết hợp với kích thích điện thay cho kích thích vê kim nên được gọi là
Điện trường châm.
Các nghiên cứu về dòng điện trên cơ thể đã đưa ra nhưng kết luận là:
- Tăng tầm vận động của đoạn đốt sống bị hạn chế, tạo thuận lợi trong
sinh hoạt.
- Khôi phục vị trí đĩa đệm (lồi, thoát vị) đặc biệt thoát vị mới ở độ I, II.
- Giảm các triệu chứng và di chứng như: mất đường cong sinh lý cột
sống, lệch vẹo cột sống do tư thế bù, dáng đi “người đau lưng”, tê bì hai chi
dưới [25] [32].
1.4.2.3. Một sô vấn đề cần chú ý khi Kéo dãn cột sống
- Chọn chế độ kéo:
Kéo liên tục
Kéo nghỉ
- Chọn lực kéo: - Đoạn cột sống cô:
Kéo ngắt quãng
Không quá 15kg (tư thế nằm)
- Đoạn cột sống thắt lưng:
+ F1 = lực tối đa ≤ 2/3 trọng lượng cơ thể
+ F2 = lực tối thiểu < F1 10, 15, 20 kg
- Định vị trí lực kéo:
Với nhưng trang thiết bị mới có điều kiện để đặt lực kéo cho từng đoạn
vận động để tập trung. Định vị lực kéo bằng tư thế kéo, phương kéo và đặc
biệt là đai kéo đặt đúng vị trí.
- Thời gian kéo:
Mỗi lần 15→ 30 phút x 1→ 2 lần/ngày và cách nhau khoảng 6 giờ, mỗi
đợt trung bình 15 - 25 ngày.
25