Làm rõ mô hình hành vi mua của các khách hàng hiện có tiềm năng của sản phẩm rau sạch - Pdf 30

Đề án môn học
Trần Quốc Vương
Lời nói đầu
Đối với mỗi con người sức khoẻ là một phần của cuộc sống, là yếu tố tạo
nên hạnh phúc cho mỗi chúng ta.thế nhưng hàng ngày sức khoẻ con người đang
phải đối mặt với vấn đề về an toàn thực phẩm_ảnh hưởng trực tiếp nhất đến sức
khoẻ con người.
Rau là món ăn không thể thiếu trong mỗi gia đình. Ông bà ta nói “Cơm
không rau như đau không thuốc”. Êy vậy mà tình hình ngộ độc “ Cái gọi là
thuốc” ngày nay càng gia tăng, đã đến mức báo động.
Hơn nữa cùng với sự phát triển của đời sống con ngưòi, nhu cầu đòi hỏi ăn
ngon_ mặc đẹp_ được tiêu dùng các sản phẩm an toàn. Đòi hỏi phải sản xuất các
loại rau an toàn_ rau sạch phục vụ người tiêu dùng .
Hà nội là thành phố đông dân thứ hai cả nước với 1,4 triệu dân nội thành &
khoảng 1,2 triệu dân ngoại thành cùng hàng nghìn người nước ngoài đang sinh
sống & làm việc ở đó. Vậy mà lượng rau tiêu sạch tiêu thụ trên thị trường rau
Hà nội mới chỉ chiếm khoảng 10%_15% mét con sổ rất nhỏ.
Như vậy đặt ra một vấn đề là: nhu cầu về rau sạch đã có, nguồn cung cấp
cũng sẵn sàng. Vậy tại sao rau sạch vẫn chưa được tiêu dùng rộng rãi. Giải pháp
gì cho vấn đề phát triển rau sạch? Đề tài đặt ra nhằm tìm hiểu rõ mô hình hành vi
mua của các khách hàng hiện có & tiềm năng của sản phẩm rau sạch. Từ đó đưa
ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh và phổ biến tiêu dùng rau sạch trên thành
phố.
Đề tài được thực hiện nhờ sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Nguyễn Ngọc
Quang
Em xin trân thành cảm ơn thầy!
Sinh viên thực hiện
Trần Quốc Vương
Líp: Marketing42A
1
Đề án môn học

- Các yếu tố tâm lý
- ý thức vấn đề
- Tìm kiếm thông tin
- Đánh giá các phương án
- Lựa chọn phương án tối ưu
- Phản ứng sau khi mua
- Lựa chọn
nhãn hiệu
- Lựa chọn
cửa hàng
- lựa chọn
người sản
xuất
Việc đặt ra mô hình hành vi mua nhằm giúp những người làm marketing tìm
hiểu xem các khách hàng của mình là ai, các đặc tính cá nhân, văn hoá của họ ra
sao, họ mua như thế nào, mua khi nào, ở đâu, tại sao họ mua Hơn thế,
marketing ra đời là góp sức cho hoạt động tiêu thụ. Do vậy, chức năng của nó
không chỉ hiểu nắm bắt nhu cầu khách hàng mà còn sử dụng các thủ thuật để
kích thích đến người tiêu dùng nhằm kích thích họ mua sản phẩm, từ mua Ýt
thành mua nhiều, từ mua và sử dụng sản phẩm cạnh tranh sang mua sản phẩm
Líp: Marketing42A
2
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
của công ty. Bởi thế, nghiên cứu mô hình này còn giúp trả lời câu hỏi: người tiêu
dùng phản ứng như thế nào với những thủ thuật kích thích của marketing mà
công ty có thể sử dụng.
Về cơ bản, mô hình hành vi gồm ba bộ phận: các yếu tố kích thích, hộp đen ý
thức người mua, những phản ứng đáp lại của người mua.
Nguyên lý hoạt động của mô hình như sau: các nhà hoạt động marketing đưa

Là nguyên nhân đầu tiên, cơ bản quyết định nhu cầu và hành vi của con người.
Hành vi của con người là một sự vật chủ yếu được tiếp thu từ bên ngoài. Văn hoá
bao gồm toàn bộ các yếu tố vật thể và phi vật thể nó hình thành nên các giá trị
chuẩn mực, con người dựa vào đó để điều chỉnh hành vi của mình.
Con người ta sinh ra không thể có những hành vi của tự riêng mình ngay được.
Mà phải qua một quá trình tiếp thu, học hỏi, thừa hưởng những giá trị văn hoá
truyền thống đÓ lại. Những giá trị văn hoá thấm dần vào mỗi con người, tuỳ từng
hoàn cảnh của mỗi người mà nó được “ chiết suất” thành những hành vi khác
nhau có đặc trưng của cá nhân họ.
Nhánh văn hoá
Bất kỳ một nền văn hoá nào cũng bao gồm những bộ phận cấu thành nhỏ hơn
hay nhánh văn hoá đem lại cho các thành viên của mình khả năng hoà đồng và
giao tiếp cụ thể hơn với những người giống mình. Các nhánh văn hoá khác nhau
có những lối sống đặc thù, kiểu tính cách và hành vi đặc trưng. Bởi những nhánh
khác nhau họ có khu vực địa lý, điều kiện khí hậu ảnh hưởng là khác nhau. Do
vậy sự nhìn nhận các vấn đề cũng không giống nhau.
Cùng trên đất nước Việt Nam, cùng được gọi với tên chung là dân tộc Việt
Nam với nền văn hoá nông nghiệp lúa nước lâu đời song các dân tộc khác nhau
có những nét văn hoá khác nhau. Hơn nữa, cùng là một dân tộc song ở những
miền khác nhau thãi quen tiêu dùng cách ứng xử có nét riêng khác biệt. Những
người Hà Nội có thói quen khác người ở thành phố Hồ Chí Minh Chính nhánh
Líp: Marketing42A
4
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
văn hoá nó quy định và ảnh hưởng rõ nét hơn đến hành vi mua của người tiêu
dùng.
Địa vị xã hội
Hầu như trong mọi xã hội đều tồn tại những giai tầng xã hội khác nhau, đó là
những nhóm tương đối ổn định trong khuôn khổ xã hội, được sắp xếp theo thứ

khuôn khổ xã hội nên đã được nghiên cứu một cách toàn diện. Những người khác
nhau trong gia đình có vai trò khác nhau trong việc ra quyết định mua đối với các
hàng hoá khác nhau. Đối với những hàng hoá thực phẩm, đồ dùng lặt vặt những
thứ mà tiêu dùng hàng ngày thường do người vợ quyết định mua. Do vậy nghiên
cứu gia đình và chu kì sống gia đình giúp nắm bắt được mô hình mua của họ và
biết được đôí với những hàng hoá nào thì ai có vai trò quyết định mua.
2.3. Các yếu tố mang tính chất cá nhân
Những nét đặc trưng bề ngoài của con người, tuổi tác, chu kì sống gia đình,
nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, kiểu nhân cách và ý niệm về bản thân cũng ảnh
hưởng đến hành vi và quyết định của người mua.
Tuổi tác và giai đoạn của chu kì đời sống gia đình
Cùng với sự thay đổi của tuổi tác con người, nhu cầu về sản phẩm, danh mục
hàng hoá cũng thay đổi theo. Sù thay đổi đó không chỉ về sinh lý mà cả thị hiếu
tiêu dùng, hành vi cũng thay đổi theo.
Tính chất tiêu dùng cũng phụ thuộc vào giai đoạn của chu kì đời sống gia đình.
Chu kì đời sống gia đình trải qua sáu giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm hành
vi và thói quen mua hàng khác nhau hay nói cách khác là có mô hình khác nhau.
Nghề nghiệp
Nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến tính chất của hàng hoá và dịch vụ
được chọn mua. Mỗi một số loại hàng hoá phù hợp với một số nghề nghiệp nhất
định, đôi khi chính qua các hàng hoá mà người ta mua có thể thấy được nghề
nghiệp của họ làm.
Líp: Marketing42A
6
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
Tình trạng kinh tế
Tình trạng kinh tế của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến cách lựa chọn hàng
hoá của họ. Nó được xác định căn cứ vào phần chi trong thu nhập, phần tiết
kiệm Tình trạng kinh tế ảnh hưởng đến cầu có khả năng thanh toán của con

thể sử dụng hình ảnh làm bật lên kiểu nhân cách.
2.4. Các yếu tố có tính chất tâm lý
Hành vi của con người cũng chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố cơ bản có tính
chất tâm lý: động cơ, tri giác, lĩnh hội, niềm tin và thái độ.
Động cơ
Động cơ là nhu cầu đã trở thành khẩn thiết đến mức buộc con người phải tìm
cách và phương thức thoả mãn nó.
Tại bất kỳ một thời điểm nào con người đều cảm thấy có rất nhiều nhu cầu
khác nhau. Trong đó có một số có nguồn gốc sinh học, một số khác có nguồn gốc
tâm lý. Đa số nhu cầu này không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động. Chỉ
khi nhu cầu đạt tới cường độ đủ mạnh sẽ trở thành động cơ, từ đó thôi thúc con
người hành động. Có hai học thuyết nổi bật ra đời để cố gắng giải thích động cơ
của con người. Đó là học thuyết của Zigmund Freud và học thuyết của Maslow.
Tri giác
Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Tính chất của hành động tuỳ
thuộc vào việc cá nhân nhận thức tình huống như thế nào. Tất cả chúng ta đều
nhận biết các kích thích thông qua cảm giác, nhưng mỗi người lại tổ chức và giải
thích thông tin cảm giác đó theo cách riêng của mình. Bởi thế, con người ta mới
nhận thức khác nhau về cùng một tình huống.
Tri giác không chỉ phụ thuộc vào tính chất của các tác nhân kích thích vật lý
mà còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các tác nhân kích thích với môi trường
xung quanh và với cá thể.
Líp: Marketing42A
8
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
Con người có thể có những phản ứng khác nhau với cùng một tác nhân kích
thích do sù tri giác có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lọc và sự ghi nhớ có chọn
lọc.
Hàng ngày con người tiếp xúc với hàng ngàn các thông tin khác nhau, họ

gần gũi nó hay xa cách nó. Thái độ của con người là rất khó thay đổi.
Có thể nói qua một loạt các phần trên, bây giờ chúng ta đã đủ sức đánh giá vô
số những lực lượng có ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng. Sự lựa chọn
của cá nhân là kết quả của sự tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố có tính
chất văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý. Trong đó có rất nhiều yếu tố không chịu
sự kiểm soát của nhà hoạt động thị trường. Tuy nhiên chúng có Ých lợi cho việc
phát hiện những người mua hàng có quan tâm nhiều đến hàng hoá. Những yếu tố
khác chịu sự tác động từ phía nhà hoạt động thị trường và gợi ý cho họ phải sản
xuất và đánh giá hàng hoá, tổ chức lưu thông phân phối và tiêu thụ chúng như thế
nào để được sự hưởng ứng mạnh mẽ nhất của người tiêu dùng.
3. Quá trình thông qua quyết định mua hàng
Ở đây, xem xét đến những giai đoạn mà người mua hàng phải trải qua trên
đường đi đến quyết định mua và thực hiện mua hàng.
Quá trình thông qua quyết định mua hàng gồm năm giai đoạn mà người tiêu
dùng phải trải qua: ý thức vÊn đề, tìm hiểu thông tin, đánh giá các phương án,
quyết định mua hàng, phản ứng với việc mua hàng.

Ý thức vấn đề Tìm kiếm
thông tin
Đánh giá các
phương án
Quyết định
mua hàng
Phản ứng với
việc mua hàng
H2. Quá trình thông qua quyết định mua hàng

Líp: Marketing42A
10
Đề án môn học

Trần Quốc Vương
Những người trong giai đoạn tìm kiếm thông tin rất nhạy cảm với người thông
tin về hàng hoá đang tìm. Họ có thể sử dụng những nguồn thông tin: nguồn thông
tin cá nhân, thông tin thương mại, thông tin phổ thông, thông tin kinh nghiệm
thực tế.
Nhờ thu thập thông tin, người tiêu dùng có thể hiểu biết hơn về các đặc tính sản
phẩm, các loại nhãn hiệu khác nhau. Họ sẽ lập thành bộ nhãn hiệu đã biết. Các
nhà hoạt động thị trường cần xây dựng hệ thống marketing-mix sao cho nó đưa
được nhãn hiệu của mình vào bộ nhãn hiệu đã biết và bộ nhãn hiệu lựa chọn.
Đánh giá các phương án
Người tiêu dùng sử dụng thông tin để lập cho mình bộ nhãn hiệu phục vụ cho
việc lựa chọn cuối cùng. Vấn đề ở chỗ lựa chọn một nhãn hiệu cụ thể trong số đó
được thực hiện như thế nào, người tiêu dùng đánh giá thông tin ra sao, thuộc tính
nào của sản phẩm được người tiêu dùng cho là quan trọng nhất. Chính điều đó có
ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhãn hiệu hàng hoá.
Quyết định mua hàng
Sau khi đánh giá các phương án, người tiêu dùng sẽ xếp hạng các đối tượng
trong bộ nhãn hiệu lựa chọn. Trong đầu người tiêu dùng hình thành ý định mua
hàng, thứ hàng mà họ ưa thích nhất. Tuy nhiên, giữa việc ý định mua hàng và
chỗ quyết định mua còn chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: thái độ của người khác
và các yếu tố ngoài dự kiến tình huống. Mức độ phản đối của người khác và mức
độ người tiêu dùng sẵn sàng tiếp nhận ý kiến ảnh hưởng đến việc có nên lựa chọn
nhãn hiệu ưa thích không, có nên mua sản phẩm không và cả khối lượng mua
Cả những yếu tố ngoài dự kiến, cái mà marketing có thể tác động cũng gây ảnh
hưởng đến quyết định mua hàng.
Phản ứng với hàng đã mua
Sau khi mua hàng người tiêu dùng có thể hài lòng hoặc không hài lòng về
chúng. Những phản ứng của người làm marketing không kết thúc ở hành vi mua
Líp: Marketing42A
12

13
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
khi hiểu rõ những người mua hàng, những gì có ảnh hưởng đến hành vi mua
hàng của họ, nhà hoạt động thị trường có thể soạn thảo một chương trình
marketing có hiệu quả nhằm duy trì mức cung ứng lớn cho thị trường mục tiêu.
Líp: Marketing42A
14
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
Chương II
MÔ HÌNH HÀNH VI MUA ĐỐI VỚI SẢN PHẨM RAU SẠCH
1. Đặc điểm của người tiêu dùng Hà Nội
Ở các quận nội thành Hà Nội, đời sống nhân dân khấm khá hơn các khu vực
khác bởi thu nhập cao hơn và các điều kiện cơ sở vật chất cũng cao hơn. Đa phần
các gia đình Hà Nội thường gồm 2 vợ chồng và 1, 2 hoặc có thể là 3 đứa con.
Các gia đình ở đây bố mẹ thường đi làm và các con cái hầu như còn đi học, chưa
hoặc Ýt có đóng góp vào thu nhập gia đình. Đa phần người vợ vừa phải đi làm
vừa phải đảm nhận công việc nội trợ, là người phụ trách mua sắm hàng ngày,
quyết định đến việc sử dụng các thực phẩm của gia đình.
Thời buổi kinh tế phát triển nhà nhà lo làm giàu, các gia đình thường bận rộn
trong các công việc xã hội, do đó các yếu tố thời gian sự tiện lợi luôn được đề
cao. Việc mua sắm tín dụng cũng rất cần tính tiện lợi. Tuy thế do văn hoá người
Việt Nam trọng tính gia đình bởi vậy họ coi gia đình là rất quan trọng. Mọi người
trong gia đình luôn bận rộn cả ngày, do vậy có bữa ăn là lúc cả gia đình quây
quần đoàn tụ, là lúc mọi người gặp nhau, kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra
ở công sở trờng lớp, cùng trao đổi những vấn đề xã hội …Vì thế mà một bữa ăn
ngon có thể được coi là chất keo gắn mọi ngqười trong gia đình, giúp gia đình
hạnh phúc hơn.
Những người dân Hà thành nơi được coi là văn minh của đất nước đa số có

tháng.
Còn lại 80% tức là 40 người được hỏi thường xuyên mua rau sạch ở các chợ tiện
đường họ đi làm về, mua của ngời bán rong. H ọ cho rằng, mua ở đây tiện hơn,
rau xanh non hơn & giá trị rẻ hơn. Những người này có mức thu nhập thấp hơn &
thường là công nhân viên chức là chính.
*/ Về mức độ hiểu biết của người tiêu dùng về rau sạch:
Líp: Marketing42A
16
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
Đa số người tiêu dùng chưa hiểu biết rõ về Ých lợi của rau sạch. Khi mua rau họ
lo sợ lượng thuốc trừ sâu đợc phun cho rau là ngắn ngày &độc hại ảnh hưởng cho
sức khoẻ & tính mạng.
100% những người được hỏi, là cả những ngời sử dụng rau sạch thờng xuyên
cũng không biết rằng bón đạm cho rau nhiều sẽ giúp rau xanh, non hơn nhưng lư-
ợng nitrat (NO3) cao vượt mức cho phép làm tăng nguy cơ ung thư cho người
tiêu dùng. Hay lượng vi khuẩn gây bệnh cao do người sản xuất tưới phân chưa ủ,
phân tơi , những vi khuẩn này là mầm bệnh các bệnh về đường tiêu hoá.
*/ Về tâm lý,lòng tin của ngưười tiêu dùng với sản phẩm rau sạch:
100% những ngời chưa từng mua & sử dụng rau sạch nói rằng họ rất sợ ngộ độc
khi mua rau bởi khi mua rau về họ phải rưả kĩ và ngâm bằng nước sôi .Song họ
chưa mua rau sạch vì chưa tin nó là rau sạch thật .Thứ nữa là họ không có nhiều
thời gian để đi chợ, mà mua rau sạch không tiện lợi, phải ra siêu thị hoặc các
quầy chính, họ rất ngại.
Tất cả những người chưa từng mua rau sạch nhưng không thường xuyên (10 ng-
ười ) giải thích lý do của họ cũng không vì chưa tin đó là rau sạch, rau sạch nhìn
không được xanh non như rau thường, làm cho bát canh trông mất ngon Những
người tiêu dùng này còn cho rằng: không làm thế nào mà phân biệt đợc rau sạch
với rau thờng, để hơi héo, ngắt tỉa vài lá, cho vào túi bóng là thành rau sạch, đánh
lừa ngời tiêu dùng. Có ngời còn bảo “chính mắt tôi trông thấy nhân viên siêu thị

về nó hay không là chuyện khác. Bởi họ còn phải thu thập các thông tin liên quan
đến mua &sử dụng .
Vói hoàn cảnh hiện nay khi không có thông tin đến ngời tiêu dùng về rau sạch
còn Ýt, còn thiếu & cha có sự đánh giá đáng tin cậy.Ngời tiêu dùng phải cân
nhắc gữa việc chấp nhận chi tiêu tiền cho rau trong bữa ăn để có thể có đợc chất
lợng rau an toàn hơn song lại phải bỏ thêm thời gian mua hàng vì rau sạch không
sẵn & thuận tiện như rau thường.Mà họ chưa chắc chắn (lấy gì làm đảm bảo ) đó
thực sự là rau sạch. Với việc tiếp tục mua rau bình thờng, non hơn, ngon hơn, giá
Líp: Marketing42A
18
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
rẻ hơn & hết sức thuận tiện & dễ dàng mua. Cái mà rất nhiều người tiêu dùng
khác xung quanh họ & khắp thành phố Hà nội đang sử dụng mà chẳng sao.
Những ngời tiêu dùng đánh giá lợi Ých giữa hai phơng án với việc họ đã cảm
thấy cấp thiết (nhu cầu thành động cơ ) phải sử dụng rau sạch cha mà đi đến
quyết định mua & sử dụng rau sạch. Nhiều khi cho dù họ đã hình thành ý định
mua rau sạch thì cũng cha chắc họ sẽ mua. Bởi nó còn phụ thuộc vào cái gọi là
“ý kiến ngời khác & các yếu tố xảy ra ngẫu nhiên”. Nếu khi người phụ nữ nội trợ
thấy rằng thu nhập của mình đủ chi & muốn an toàn cho sức khoẻ ngời thân & họ
quyết định sẽ mua rau sạch nhng chồng hoặc con, hoặc những ngời hàng xóm lại
bảo ăn rau sạch chắc gì đã sạch thật, mà lại đắt lắm, có thể họ sẽ có quyết định
ngược lại. Hơn thế nữa các yếu tố ngẫu nhiên bên ngoài như việc chính mắt ng-
ười này nhìn thấy nhân viên siêu thị mua rau ở ngoài vào làm thành rau sạch (như
đã nói ở trên ) Cũng gây phản ứng trái ngược cho ngời tiêu dùng. Tuy nhiên
các yếu tố này những nhà sản xuất hay các cơ quan chức năng có thể kiểm soát
hay Ýt nhất cũng gây ảnh hưởng bởi việc tuyên truyền cung cấp thông tin cho
ngời dân. Có sự chứng nhận cho các cơ sở sản xuất rau sạch hay cửa hàng nơi
bán rau sạch.
Giai đoạn quyết định mua đối với sản phẩm rau sạch. Người tiêu dùng sẽ

rau quả, Viện bảo vệ thực vật , Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn , Sở khoa
học công nghệ môi trường nghiên cứu và đÒ ra giải pháp kỹ thuật để sản xuất
rau sạch Thì đến năm 1995 rau sạch được sản xuất trên diện tích 160 ha, chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng diện tích rau ở Hà nội. Lượng rau này chủ yếu là “ để” cho
khách sạn, nhà hàng và siêu thị.
Đến năm 1997, trên địa bàn Hà nội có hai mơi sáu cửa hàng rau sạch toàn thành
phố.
Năm 1999, số cửa hàng & lượng bán rau sạch lại giảm hẳn do ngời mua không
tin vào rau sạch. Thực tế năm2001 lượng rau tiêu thụ ở nội thành Hà nội là 25tấn
một ngày. Trong khi đó lợng rau sạch chỉ tiêu thụ đợc 2,5_ 3 tấn một ngày, chiếm
Líp: Marketing42A
20
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
10%-_15% lượng rau tiêu thụ trên địa bàn Hà nội(theo tạp chí người tiêu
dùng).Điều này có thể thầy tằng, rau sạch được tiêu thụ rất chậm. Hệ thống
phân phối & tiếp thị của rau sạch rất mỏng , lại thiếu sức thuyết phục. Có nghĩa
là hai yếu tố sự tiện lợi và lòng tin chưa có phương pháp tiếp thị phù hợp cho
rau sạch. Còn khâu tiếp thị của rau thường lại rất mạnh, từ các chợ cóc đến các
ngõ hẻm với đủ cácloại rau của những ngời bán rong. Về phía ngời sản xuất rau,
sự khác biệt hẳn trong quy trình sản xuất là cái khó cho họ. Nếu bệnh thì mua
thuốc cực độ trên thị trường tù do để diệt sâu, muốn củ to thì bón nhiều đạm, bón
gÈn thời gian thu hoạch. Nhờ vậy sản phẩm xanh mớt, trông đẹp mắt dễ bán thu
lợi nhuận cao. Nó đáp ứng tâm lý thích rẻ & rau xanh non của ngời tiêu dùng.
Trong khi đó việc sản xuất rau sạch phải bỏ nhiều công lao động, phải học chơng
trình IPM, thăm đồng ruộng rau, cơ sở sản xuất thường xuyên để phát hiện mầm
bệnh, bón phân đã ủ 1-2 tháng, lượng phân đạm giảm, Bởi vậy năng xuất rau
giảm khoảng 5% so với rau thờng. Như vậy việc sản xuất rau sạch khó hơn, tốn
nhiều công sức hơn song năng xuất lại thấp hơn, thêm nữa một yếu tố quan trọng
là đầu ra của sản phẩm khó hơn bởi giá đắt ,chưa phổ biến cũng như chưa tạo

chất. Thêm nữa, việc chăm sóc cho rau cần nhiều công hơn và phải làm thủ công:
từ nhổ cỏ đến bắt sâu Quá trình sản xuất nhất thiết không sử dụng phân hoá học
mà chỉ dùng phân tươi được ủ 1-2 tháng để tiêu diệt các vi khuẩn độc hại, chuyển
dạng đạm khó tiêu thành các chất hữu cơ dễ hấp thụ cho cây. Rau được sản xuất
theo công nghệ sạch sẽ đảm bảo những chất lượng an toàn cho người tiêu dùng.
Lượng NO
3
( Nitrat) trong rau ở mức cho phép không gây nguy cơ ung thư cho
người tiêu dùng, rất Ýt lượng thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo không gây ảnh
hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Sản xuất theo công nghệ sạch còn tránh
Líp: Marketing42A
23
Đề án môn học
Trần Quốc Vương
hoặc hạn chế tối đa lượng vi khuẩn gây bệnh nhờ phân bón bằng phân tươi được
ủ kỹ đúng tiêu chuẩn.
2. Những kiến nghị về quy trình sản xuất và sản phẩm
Rau sạch được sản xuất với quy trình tương đối phức tạp và tốn nhiều công
sức. Do vậy, nó có giá bán cao hơn các loại rau thường. Tuy nhiên, vẫn có thể
làm giảm giá thành bằng cách tập huấn, giảng dạy cho những người nông dân về
quy trình sản xuất theo phương pháp IPM, hướng dân sử dụng các loại thuốc để
có cách thức sử dụng hợp lý, tránh lãng phí.
Hơn nữa, các loại rau sạch do không được chăm sóc bằng các loại thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc trừ sâu nên có mẫu mã xấu hơn, thường không tươi non như
rau thường. Bởi thế, các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp, bộ công nghệ- môi
trường cố gắng nghiên cứu sản xuất loại thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ sâu
sinh họcđể tăng tính hấp dẫn của rau lại bảo đảm độ an toàn cho rau.
Thêm vào đó, để bảo đảm cho sù an toàn của rau sạch, các cơ quan giám sát
về an toàn vệ sinh thực phẩm nên thường xuyên có các chương trình kiểm tra,
kiểm định các sản phẩm của sơ sở rau sạch. Hơn nữa, các cơ sở rau sạch nên chủ

riêng biệt để lo vấn đề này. Bởi lẽ, rau sạch không chỉ là nghành sản xuất thực
phẩm bình thường, nó ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân từng ngày, ảnh hưởng
đến chất lượng cuộc sống. Hơn nữa, đây là một nghành mới, tương lai sẽ đóng
góp nhiều cho xuất khẩu thực phẩm- rau sạch. Đồng thời, giúp đơn giản hoá việc
xin cấp giấy phép song cách thức lại phải rất đúng khoa học và chuyên nghiệp.
3. Những kiến nghị về chương trình giá
Vẫn biết rằng sản xuất rau sạch là tốn công lao động, chi phí cao hơn rau
thường. Song không phải đó là khó khăn lớn, bởi nhiều người nông dân rất tâm
huyết, và đây là một ngành triển vọng, là sự phát triển theo xu thế. Do vậy, rau
sạch cần được cả xã hội quan tâm. Hiện nay, giá của rau sạch thường đắt hơn của
các loại rau thường trong khi đó mẫu mã không đẹp bằng cùng với hệ thống phân
phối nhỏ lẻ. Do vậy, rau sạch không được tiêu thụ nhiều. Chính vì thế nên chăng
Líp: Marketing42A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status