HNTS 2012 09 NGHIÊN cứu một số đặc điểm HÌNH THÁI DINH DƯỠNG và SINH sản cá dày channa lucius cuvier 1831 - Pdf 30

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI DINH DƯỠNG VÀ SINH SẢN CÁ
DÀY Channa lucius Cuvier 1831
Tiền Hải Lý
1
và Bùi Minh Tâm
2
1
Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Bạc Liêu
2
Khoa Thủy sản, Trường Đại học cần Thơ
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 03 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011 tại huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân loại, đặc điểm sinh học dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản
cá Dày. Phân tích dinh dưỡng cho thấy cá ăn các loại động vật là cá nhỏ (58,994%), giáp xác (15,53%), giun
(15,32%), nhuyễn thể (7,60%), mùn bã hữu cơ (6,5%) là những loại thức ăn chủ yếutìm thấy trong dạ dày cá. Có sự
tương quan giữa chiều dài và trọng cá cái đã cho ra phương trình là W= 5E-05L
2.8045
, với hệ số tương quan R
2
=
0,9182 (với y = W) và cá cái đã cho ra phương trình là W= 0,0001L
2.6443
với hệ số tương quan R2 = 0,81229182
(với y = W). Hệ số thành thục trung bình của cá Dày cao nhất vào tháng 5 đạt 1,7±0,02%, tiếp đến là tháng 4 đạt
1,4±0,01%, tháng 6 đạt 1,5±0,02% và thấp nhất vào tháng 11 đạt 0,65±0,01%. Kết quả nghiên cứu này rất quan
trọng để tiến đến nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi loài cá này trong tương lai ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long.
Từ khóa: Hình thái, phân loại, dinh dưỡng, sức sinh sản, cá Dày, Channa lucius
1. GIỚI THIỆU
Cá Dày (Channa lucius) là loài cá có kích thước tương đối lớn 40cm (Rainboth, 1996).
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá Dày là một trong những loài cá lóc

hoá như: miệng, răng, lược mang, thực quản, dạ dày, ruột. Dựa vào hình thái cấu tạo của bộ máy
tiêu hoá kết hợp với phân tích thức ăn trong dạ dày theo phương pháp tần số xuất hiện (TSXH)
và phương pháp khối lượng của Biswas (1993) để xác định tính ăn của cá.
* Xác định tính ăn của cá
Dựa vào hình thái cấu tạo của bộ máy tiêu hoá kết hợp với phân tích thức ăn trong dạ dày và ruột
theo phương pháp khối lượng của Biswas (1993)
- Phương pháp tần số xuất hiện (occurrence method): Trong phương pháp này số lượng dạ dày
(ruột) cá hiện diện từng loại thức ăn riêng biệt được qui đổi ra phần trăm (%) trên tổng số dạ dày
ruột cá được quan sát. Phương pháp này được tiến hành theo 2 bước:
Bước 1: tất cả các loại thức ăn hiện diện trong các mẫu quan sát sẽ được liệt kê ra thành một
danh sách, sau đó sự hiện diện hay không có mặt của mỗi loại thức ăn trong từng dạ dày sẽ được
ghi nhận lại. Bước 2: Số lượng dạ dày (ruột) trong đó có sự hiện diện của mỗi loại thức ăn sẽ
được cộng lại và cách tính tương tự cho tất cả các loại thức ăn còn lại, sau đó sẽ được tính ra %
trên tổng số quan sát.
- Phương pháp đếm điểm: Mỗi loại thức ăn sẽ được xác định, xác định cỡ mẫu thức ăn. Thức ăn
có kích cở mẫu lớn sẽ có điểm sỗ cao và ngược lịa. Sau đó tính ra % trên tổng trọng điểm mẫu
quan sát.
- Phương pháp khối lượng thể hiện kết hợp cánh tính tính tần số xuất hiện và cách tính đếm điểm
để xác định tính ăn của loài. Giá trị RLG (reletive length of gut) được tính bằng tỷ lệ giữa chiều
dài ruột và chiều dài tổng (AL – Hussainy – 1949).
Chiều dài ruột (L
r
)
RLG =
Chiều dài tổng (L
t
)
Thức ăn được tách ra khỏi ruột, dạ dày của từng cá thể và được quan sát dưới kính hiển vi
hoặc kính lúp để quan sát và định loại. Sử dụng khóa định loại thực vật bậc thấp, khóa định loại
động vật không xương sống thủy sinh của Đặng Ngọc Thanh và Phạm Văn Miên (1981). Đếm số

L
o
3
: chiều dài chuẩn được tính từ đầu mút cá đến phần cuống đuôi (mm).
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng
Xác định tương quan chiều dài và khối lượng cá thông qua công thức dựa vào các số đo chiều dài và
khối lượng để tính tương quan của cá theo phương trình của R.J.H.Beverton-S.J.Holt (1969).
W
o
= aL
o
b
Trong đó: W
o
: là khối lượng toàn thân (g).
L
o
: chiều dài tổng cộng thân (mm).
a, b: các hệ tương quan tăng trưởng.
- Nghiên cứu đặc điểm thành thục sinh dục
* Hệ số thành thục (maturity index or gonadosamatic index - GSI):
Khối lượng tuyến sinh dục (gam)
GSI (%) = x 100 %
Tổng khối lượng cá (gam)
- Xử lý số liệu: Tất cả các số liệu sẽ được thu thập, phân tích và đánh giá thôn qua phần mềm
Excel 6.0.
3. KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hình thái (n = 186 ) Tổng số mẫu 186 con, kích thước mẫu : 163 – 405mm.
Hình 3.1: Hình thái giải phẩu của cá Dầy (Channa lucius,Cuvier 1931)
Kết quả quan sát các chỉ tiêu hình thái phân loại (HTPL) của 187 mẫu cá Dày trưởng

Khoảng cách 2 mắt/ dài chuẩn 0,064 0,112 0,07±0,0062
Cao thân/ dài chuẩn 0,128 0,234 0,18±0,0154
Cao thân/ cao cuống đuôi 1,234 2,059 1,7±0,1110
3.2 Đặc điểm dinh dưỡng
3.2.1 Hình thái giải phẫu cơ quan tiêu hóa của cá Dày
Kết quả quan sát cơ quan tiêu hóa của cá Dầy cho thấy: Cá Dày có miệng giữa, rộng, có
thể co duỗi được, rạch miệng nằm ngang, rạch miệng kéo dài chạm đến đường thẳng đứng kẻ từ
bờ sau của mắt. Răng nhọn chắc và bén, răng hàm dưới và răng vòm miệng có dạng răng chó có
thể dự đoán cá Dày thuộc nhóm cá ăn động vật.
Thực quản ngắn, có vách dầy, mặt trong thực quản có nhiều nếp gắp nên co giản được, do đó nó
có thể nuốt được mồi to. Dạ dày có hình chữ J, to chứng tỏ cá Dày là loài cá dữ, vách dạ dày dầy
mặt trong có nhiều nếp gắp nên có thể giản nở và lực co bóp rất lớn. Ruột cá Dày gấp khúc,
ngắn, vách tương đối dày. Manh tràng có dạng hình ống một đầu bịt kính gắn vào ống tiêu hóa
nơi tiếp giáp giữa dạ dày và ruột. Lược mang xếp thành hai hàng trên xương cung mang và lược
mang biến thành những núm có nhiều gai bén chứng tỏ đây là loài cá ăn động vật có kích thước
lớn. Ở cung mang thứ nhất có trung bình là 16.6±0,18 và dao độngtừ 11-24 lược mang (Hình
3.2). Từ những đặc điểm về hình dạng, răng, miệng, lược mang, kích thước và cấu tạo của ống
tiêu hóa có thể dự đoán được tính ăn của một loài cá. Cá Dày có miệng rộng có thể ăn được mồi
lớn, răng nhọn và bén chứng tỏ đây là loài ăn động vật sống vì răng nhọn có thể giữ và giết chết
con mồi, thực quản ngắn, có vách dầy, mặt trong có nhiều nếp gắp nên có thể nuốt được mồi to.
Dạ dày to, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp nên có lực co bóp lớn nên có thể tiêu hóa được
những con mồi có kích thước lớn. Ruột ngắn, vách tương đối dầy. Đặc biệt có một đôi manh
tràng và lược mang biến thành nhiều núm gai bén là đặc điểm chỉ có ở cơ quan tiêu hóa của Chỉ
số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài chuẩn (RLG) của cá Dày có giá trị trung bình
là 0,65±0,01. Theo Nikolxki (1963), những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có tỉ lệ chiều
dài ruột so với chiều dài chuẩn ≤ 1.Chiều dài ruột của các loài cá thì phụ thuộc vào loại thức ăn
tự nhiên mà chúng tiêu thụ, chiều dài ruột tăng theo sự gia tăng tỉ lệ các loại thức ăn thực vật
trong khẩu phần ăn. Từ kết quả giá trị trung bình của giá trị RLG = 0,65 ±0,01 < 1 cho thấy cá
Dày thuộc nhóm cá ăn động vật. Theo Nikolxki (1963), những loài cá có tính ăn thiên về động
vật sẽ có tỉ lệ chiều dài ruột so với chiều dài chuẩn ≤1. Từ những đặc điểm về hình dạng, răng,

Giáp xác 11,57 15,32
Giun 11,53 15,53
Nhuyễn thể 5,7 7,62
Mùn bã hữu cơ 4,9 6,50
Qua Bảng 3.3 cho thấy thức ăn trong dạ dày của cá Dày gồm có các loại thức ăn sau: cá
con, giáp xác, giun, nhuyễn thể, mùn bã hữu cơ. Trong các loại thức ăn trên, mùn bã hữu cơ TSXH
cao nhất (57,23 %), kế đến là cá con (16,11 %), tiếp đến là giáp xác (9,8 %), giun (5,2%) và
nhuyễn thể (3,2%). Tuy nhiên, thực tế khi quan sát đặc điểm cơ quan tiêu hóa và chỉ số tương quan
giữa chiều dài ruột và chiều dài tổng (RLG) của cá Dày cho thấy mùn bã hữu cơ không phải là
thức ăn thích hợp, có thể mùn bã hữu cơ có trong ống tiêu hoá của cá là do cá ăn vào cùng với các
loại thức ăn khác ở nền đáy thủy vực như giun, nhuyễn thể. Các loại thức ăn như cá con, giáp xác
xuất hiện với tần số cao hơn là 16,11 % cho thấy các loại thức ăn này được cá ưa thích hơn cả.
Những loại thức ăn này thường thấy ở trạng thái tương đối nguyên vẹn, một số ít thấy xương, vảy
cá, chân và râu giáp xác, trong dạ dày của cá Dày còn phát hiện cả những cá thể nhỏ cùng loài
chứng tỏ cá Dày là loài có tập tính ăn thịt lẫn nhau.
Kết hợp hai phương pháp tần số xuất hiện và phương pháp đếm điểm để phân tích thức
ăn của cá Dày đã cho thấy loại thức ăn là cá con tỉ lệ cao là 54,4%,các thức ăn còn lại chiếm tỉ lệ
thấp hơn. Kết hợp kết quả phân tích thức ăn và hình thái giải phẫu có thể nhận định cá Dày là
loài cá ăn động vật. Cá con được coi là loại thức ăn quan trọng của cá Dày.
3.3. Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Sinh trưởng của cá là quá trình gia tăng về kích thước và tích lũy thêm về khối lượng cơ thể. Quá
trình này đặc trưng cho từng loài cá và thể hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng
của cá (Nikolxki,1963; Nguyễn Bạch Loan, 1998).
Hình 3.3: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Từ tổng số mẫu thu được là (n = 281 cá đực) sau khi phân tích và lập mối tương qua giữa chiều
dài và khối lượng cá cái đã cho ra phương trình là W= 5E-05L
2.8045
, với hệ số tương quan R2 =
0.9182 (với y = W) và phân tích và lập mối tương quan với n = 287 cá cái giữa chiều dài và khối
lượng cá cái đã cho ra phương trình là W= 0.0001L

Phần trăm %
Hình 3.4: Biến động hệ số thành thục cá dày qua các tháng
Hình 3.4 cho thấy hệ số thành thục trung bình của cá Dày cao nhất vào tháng 5 đạt 1.7±0,02%,
tiếp đến là tháng 4 đạt 1.4±0,01%, tháng 6 đạt 1.5±0,02% và thấp nhất vào tháng 11 đạt
0.65±0,01% Như vậy, qua các kết quả nghiên cứu ta có thể thấy được mùa vụ sinh sản của cá
Dầy là vào khoảng tháng 5 đến tháng 7. Kết quả phân tích hệ số thành thục là tương đối phù hợp
với độ béo của các tháng. Hệ số thành thục của tháng 6 là 0.742% chỉ cao hơn hệ số thành thục
của tháng 4 (0.583%) trong khi độ béo của tháng 6 lại cao nhất (0.015% đối với độ béo Fulton và
0,01% đối với độ béo Clark) là tương đối phù hợp đối với sự phát triển và thành thục của tuyến
sinh dục. Nguyên nhân có thể là do số lượng mẫu còn ít nên chưa đại diện được cho quần thể cá
Dày trong tự nhiên. Ngược lại hệ số thành thục của tháng 3 là cao nhất (1.487%) tương đương
với nó là hệ số béo lại thấp(0,0019% đối với hệ số béo Clark và 0,002 đối với hệ số béo
Fulton).Điều này chứng tỏ cá thành thục sinh dục và tham gia sinh sản thì hệ số béo thấp.
3.5. Sự biến đổi độ béo Fulton và Clark
Độ béo Fulton và Clark của cá Dày thu được ngoài tự nhiên biến đổi theo sự thành thục và thời
gian không lớn trong 3 tháng 3-4-5 (Hình 3.5) và thay đổi từ 0,0019%-0,0015%-0,0020% (độ
béo Clark) và từ 0,0020%-0,0016%-0,0020% (độ béo Fulton). Tuy nhiên, độ béo của cá Dầy đột
ngột tăng cao trong tháng 6 lên 0,015% đối với độ béo Fulton và 0,01% đối với độ béo Clark.
Hình 3.5: Biến động độ béo của cá theo thời gian
Kết quả trên có được là do ở giai đoạn từ tháng 3-5 là giai đoạn cá thành thục sinh dục và
sinh sản nên ở thời kỳ này cá huy động toàn bộ chất dinh dưỡng cho sự thành thục sinh dục và
sinh sản dẫn đến đon béo ở những tháng này thấp. Thấp nhất là tháng 4 Fulton là 15,6x10
4

Clark là 14,9x10
4
. Sang tháng 6 đến tháng 11 các độ béo của cá không tăng thêm và cho đến
tháng 12 độ béo Fulton là 117,05x10
4
và Clark là 16,5x10

- Cá Dày là loài cá dữ điển hình, ăn động vật, có tỷ lệ giữa chiều dài ruột và chiều dài thân RLG
là 0,653. Tỉ lệ cá con và giáp xác chiếm tỉ lệ cao 42,1% và 30,8% có thể nói đây là 2 loại thức ăn
ưa thích của cá.
- Độ béo của cá cao nhất ở tháng 3 và thấp nhất ở tháng 5.
- Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá đực chặt chẽ và phương trình W= 5E-
05L
2.8045
, với hệ số R
2
= 0,9182. Còn tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá cái với
phương trình W = 0.0001L
2.6443
, với hệ số R
2
= 0,8122.
- Hệ số thành thục cao nhất ở tháng 5.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Biswas(1993). Manual of Methods in Fish Biology, South Asian Publishers Pvt Ltd., New Delhi.
Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (2006). Định loại động vật không xương
sống nước ngọt miền Bắc Việt Nam. Nxb Khoa Học Kỹ Thuật.
Dennis R.Lassuy(1984). Diet, intestinal morphology and nitrogen assimilation efficiency in the
damselfish Stegastes lividus, in Guam. Environmental Biology of Fishes, Vol 10(3).
Dương Nhựt Long (2003). Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt. Bộ môn kỹ thuật nuôi thủy sản
Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ.
Mai Đình Yên(1978). Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội.
Nguyễn Bạch Loan, Nguyễn Văn Kiểm, Nguyễn Hữu Lộc và Đặng Thị Thắm(2006). Đặc điểm
hình thái và sinh học sinh sản của cá Leo (Wallago attu Bloch & Schneider, 1801). Tạp chí
nghiên cứu khoa học Đại Học Cần Thơ 2006.
Nguyễn Văn Thường (2004). Tổng quan về thành phần loài và phân bố của cá họ Channidae.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status