1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua bốn thập niên, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành là một trong
những phẫu thuật được xem là thành tựu lớn của nền y học. phẫu thuật bắc
cầu động mạch vành cho phép điều trị dứt điểm các cơn đau thắt ngực, cải
thiện khả năng gắng sức và kéo dài tuổi thọ của nhiều người bệnh mạch vành
do xơ vữa động mạch . Cùng với sự hiểu biết và cải tiến không ngừng về kỹ
thuật và dụng cụ, để khẳng định chỗ đứng vững chắc trong điều trị chung về
bệnh mạch vành, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cần đạt kết quả phẫu
thuật tốt hơn, tỉ lệ tử vong và biến chứng thấp hơn, thời gian nằm viện ngắn
hơn, chi phí ít tốn kém hơn. Đặc biệt phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên
những bệnh nhân có phân suất tống máu thấp ≤ 40%.
Hiện nay, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành đã được thực hiện ở một
số bệnh viện trung ương và cũng đã có những công trình nghiên cứu về kết
quả phẫu thuật này . Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu
nào đánh giá kết quả phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có
phân suất tống máu thất trái giảm, mà hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều
nhấn mạnh rằng đây chính là yếu tố gây tử vong hàng đầu trong phẫu thuật.
Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành
trên những bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm, chúng tiến hành
đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên
bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm” với 2 mục tiêu:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố tiên lượng
và chỉ định phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có phân suất
tống máu thất trái giảm.
2. Đánh giá kết quả sớm trên bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu động mạch
vành với phân suất tống máu thất trái giảm.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
tế bào cơ tim bị thiếu máu [131], các kỹ thuật liệt tim được áp dụng như: liệt
tim thuận dòng ( anterograde) qua gốc ÐMC , ngược dòng ( retrograde) qua
xoang TM vành, liệt tim chọn lọc ( selective) qua cầu nối (graft). Ở bệnh nhân
hẹp nặng thân chung hoặc 3 nhánh kỹ thuật liệt tim ngược dòng và liệt tim
chọn lọc giúp đưa dung dịch liệt tim đến tế bào cơ tim hiệu quả hơn. Thời
gian của 1 lần liệt tim nên từ 10-20 phút, phụ thuộc vào các thao tác tìm ĐMV
đích, bộc lộ, kỹ thuật khâu nối Do vậy cải thiện kỹ năng khâu nối mạch máu
giúp giảm đáng kể thời gian giữa 2 lần liệt tim.
+ Tái tưới máu cơ tim : Hầu như tất cả các tác giả đều thống nhất rằng
việc tái tưới máu qua phẫu thuật bắc cầu là biện pháp tốt nhất giúp cải thiện
tưới máu vành đặc biệt trên nhóm bệnh nhân hẹp nặng thân chung ĐMV, hẹp
nặng nhiều nhánh, hẹp lan tỏa và bệnh nhân ĐTĐ . Các cầu nối chủ vành
được thực hiện ở tất cả các nhánh ĐMV chính trên 2 mm bị hẹp có ý nghĩa,
các miệng nối phải đủ rộng và trên nền ĐMV đích với thành mạch còn tốt
không bị vôi hóa [27] [60]. Các cầu nối ĐM được sử dung tối đa để đảm bảo
hiệu quả lâu dài .
+ Sự kết hợp chặt chẽ của cả ê - kíp nội khoa, ngoại khoa, gây mê hồi
sức và tim phổi nhân tạo dưới một qui trình chung , hoàn chỉnh là yếu tố giúp
phẫu thuật thành công [87] [93].
1.6.1.2. Kết quả PTBCĐMV của cục thống kê Mỹ :
Topkara và Cs tổng kết dữ liệu 55.515 bệnh nhân được PTBCĐMV với:
- Nhóm EF≤ 40% chiếm 35,5% : (EF≤ 20% chiếm 4,4%, EF: 21% - 30%
chiếm 10,4%, EF: 31% - 40% chiếm 20,5%).
- Nhóm EF>40% chiếm 64,7% .
4
Bảng 1.3. Đặc điểm của bệnh nhân trước PTBCĐMV
Biến số
EF≤20% 21%-30% 31%-40% EF≤40% EF>40%
Tuổi trung bình 66.2 66.9 66.7 66.7 65.6
Giới nữ 21.8% 25.9% 27.4% 26.1% 30.1%
37.2%
49.5%
6.5%
11.2%
42.8%
39.5%
MNCT
<6h
6-23h
>24h
2.8%
1.6%
78.6%
1.5%
1.5%
77.7%
1.0%
1.1%
68.6%
1.4%
1.3%
72.5%
0.5%
0.6%
43.7%
Suy tim trước đó 23.8% 18.3% 10.1% 14.2% 4.6%
Bệnh ĐM cảnh 15.3% 15.3% 14.8% 15.0% 14.1%
Tác giả đánh giá tỷ lệ tử vong phụ thuộc rất nhiều vào phân suất tống máu của
thất trái:
+ Tử vong chung 2,2% cho PTBCĐMV đơn thuần.
+ Tỉ lệ hết triệu chứng đau ngực của nhóm phẫu thuật là 65% , đặt stent 55%
và nhóm điều trị thuốc đơn thuần là 36%.
6
1.6.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Tác giả Nguyễn Hoàng Định nghiên cứu 455 bệnh nhân PTBCĐMV
với tỉ lệ tử vong 4,5%.
Bảng 1.6: Tỉ lệ các biến chứng sau mổ
Biến chứng Số lượng:
455
Tỷ lệ %
Mổ lại 25 6,0
Chảy máu 22 4,9
Kết hợp xương ức 2 0,4
Chèn ép tim cấp 3 0,7
NMCT sau mổ 26 5,7
Ngưng tim sau mổ 10 2,2
Rung nhĩ thoáng qua sau mổ 103 22,6
Loạn nhịp thất sau mổ 10 2,2
Suy thận cấp sau mổ 57 12,5
Điều trị nội 51 11,2
Lọc thận 6 1,3
Viêm xương ức hoặc viêm trung thất 6 1,3
Biến chứng thần kinh 36 7,9
Rối loạn nhận thức 23 5,1
Đột quỵ 6 1,3
Hôn mê 7 1,5
Suy đa cơ quan 13 2,9
Nhiễm trùng huyết sau mổ 7 1,6
Các biến chứng quan trọng như: Mổ lại 6,0%, nhồi máu cơ tim sau mổ
5,7%, ngưng tim sau mổ 2,2%, loạn nhịp thất sau mổ 2,2%, viêm xương ức
theo: Sửa hoặc thay van, bệnh tim bẩm sinh người lớn cũng được đưa vào
nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các trường hợp bệnh nhân được PTBCĐMV không có chức năng phân suất
tống máu thất trái giảm.
8
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắnt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức như sau:
- n: Số lượng cỡ mẫu
- α: Sai sót loại I, β: Sai sót loại II (tức I – β là power).
- Z
α/2
và Z
β
: Hằng số (độ lệch chuẩn).
- ES: Hệ số ảnh hưởng.
Từ công thức trên ta tính được n = 70 bệnh nhân.
2.2.4.7. Đánh giá kết quả ngắn hạn sau mổ:
- Kết quả ngắn hạn (trung bình 6 tháng) (Phụ lục 3):
+ Đánh giá tình trạng vết mổ: vùng trước ngực-xương ức, nơi lấy ĐM quay ở
cẳng tay , nơi lấy TM hiển ở cẳng chân .
+ Rối loạn cảm giác về thần kinh và tình trạng thiếu máu sau lấy mảnh ghép,
đặc biệt là thần kinh quay ở cẳng tay .
+ Cải thiện chức năng co bóp cơ tim.
+ Đánh giá thay đổi chức năng tim EF:
. Tăng: Khi EF tăng > 10% so với trước mổ.
Rất đau hoặc rất khó chịu 3
Lo lắng,
chán nản
Không lo lắng 1
Lo lắng vừa 2
Rất lo lắng 3
Đánh giá điểm:
+ Chất lượng cuộc sống tốt: 5-8 điểm.
+ Chất lượng cuộc sống trung bình: 9-11 điểm.
+ Chất lượng cuộc sống xấu: 12-15 điểm.
10
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
3.1.1. Đặc điểm lâm sàng:
3.1.1.1. Tuổi (năm): Tuổi trung bình ± độ lệch chuẩn = 63,71 ± 9,81 tuổi.
Tuổi trung vị là 65 tuổi, tuổi thấp nhất là 38 tuổi và tuổi cao nhất là 80 tuổi.
Biểu đồ 3.1. Phân bố tần suất và tỉ lệ bệnh nhân theo nhóm tuổi.
3.1.1.4. Các bệnh nội khoa và yếu tố nguy cơ kèm theo:
Bảng 3.1. Bệnh nội khoa và yếu tố nguy cơ.
Bệnh nội khoa (yếu tố nguy cơ) Số trường hợp (n) Tỉ lệ (%)
THA
76 85,4
Rối loạn Lipid máu 66 74,2
Bệnh mạch máu ngoại biên 2 2,2
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 3 3,4
Bệnh thận mạn 3 3,4
Tiền sử nhồi máu cơ tim 53 59,6
Tiền sử tai biến mạch máu não 10 11,2
3.1.2.4. Bệnh mạch vành kết hợp bệnh van tim:
- Bệnh mạch vành kết hợp bệnh van tim: 15 trường hợp (16,8%):
+ Bệnh van 2 lá đơn thuần: 10 trường hợp (11,2%)
+ Bệnh van ĐMC đơn thuần: 3 trường hợp (3,3%)
+ Bệnh van tim kết hợp: 2 trường hợp (2,2%)
+ Tổn thương 2 nhánh mạch vành kèm theo bệnh van tim chiếm đa số.
12
3.3. KẾT QUẢ SỚM SAU PHẪU THUẠT
3.3.5. Tử vong:
Số trường hợp tử vong = 4 (4,5%). Tuổi trung bình ± ĐLC = 68,75 ±
6,55 tuổi. Trung vị là 69,5 tuổi, thấp nhất là 59 tuổi và cao nhất là 73 tuổi.
3.3.6. Các nguyên nhân tử vong:
Bảng 3.19. Nguyên nhân tử vong.
Nguyên nhân Số trường hợp (n) Tỉ lệ (%)
- Do tim
¾
75
- Không do tim
+ Sốc nhiễm trùng
¼
25
3.3.2. Các biến chứng khác sau phẫu thuật:
Bảng 3.15. Các biến chứng
Số trường hợp (n) Tỉ lệ (%)
Đột quị 2 2,2
Suy thận cấp
Suy thận cần lọc thận
14
5
15,7
Tổng số
Không Có
IABP
Không 77 1 78
χ² = 15,17
P = 0,000
Có 8 3 11
Tổng số 85 4 89
Nhận xét: Phân tích thống kê cho thấy liên quan có ý giữa IABP và tử vong
sau phẫu thuật với p = 0,000.
3.3.7.8. Mối liên quan giữa thời gian đặt BĐXNĐMC (trước và sau khi đến
hồi sức) và tử vong sau phẫu thuật.
Bảng 3.30. Mối liên quan giữa thời gian đặt BĐXNĐMC (trước và sau khi
đến hồi sức) và tử vong sau phẫu thuật.
Tử vong
Tổng số
Không Có
BĐXNĐMC
Trước 6 0 6
χ² = 4,95
P = 0,026
Sau 2 3 5
Tổng số 8 3 11
Phân tích thống kê cho thấy liên quan có ý giữa thời gian đặt BĐXNĐMC
(trước và sau khi đến hồi sức) và tử vong sau phẫu thuật với p = 0,026.
3.3.7.9. Mối liên quan giữa sốc nhiễm trùng và tử vong sau phẫu thuật:
Bảng 3.31. Mối liên quan giữa sốc nhiễm trùng và tử vong sau phẫu thuật.
Tử vong
Tổng số
Không Có
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
4.1.1. Tuổi:
15
Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi thấp nhất là 38 và cao
nhất là 80 tuổi, trung bình là 63,7 ± 9,8 tuổi. Nhóm bệnh nhân có tuổi trên 60
chiếm tỉ lệ 56,1%.
Nghiên cứu của chúng tôi có 3 trường hợp tử vong tuổi ≥70, 1 trường
hợp phẫu thuật cấp cứu, 3 trường hợp có phân suất tống máu trước phẫu thuật
giảm nặng (EF ≤ 35%), 1 trường hợp tử vong do biến chứng sau phẫu thuật và
hầu hết đều có kèm theo bệnh lý mạn tính. Như vậy, theo y văn mặc dù tuổi là
một trong những yếu tố nguy cơ dự báo tử vong nhưng tình trạng nặng trước
phẫu thuật cũng như chăm sóc hồi sức cũng góp phần làm tăng tỉ lệ tử vong
sau phẫu thuật.
Ngày nay, tuổi thọ trung bình của dân số trên thế giới ngày càng tăng,
cùng sự phát triển về kỹ thuật phẫu thuật và gây mê hồi sức nên tuổi trung
bình của bệnh nhân được PTBCĐMV cũng cao hơn so với những thập niên
trước đây.
4.1.2. Giới tính:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ nam/nữ = 71/18 (3,9/1), nam giới
chiếm đa số 79,8% (biểu đồ 3.1)
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt về giới tính
đối với tử vong trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật, kết quả này tương tự như
nghiên cứu và Kilo J .
4.2. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG
Diễn tiến thay đổi nồng độ các men tim qua các thời điểm khác nhau sau
mổ (G0, G6, G12, G24, G48, N4 và N5) (bảng 3.11) chúng tôi nhận thấy có 3
vấn đề lớn:
- Nồng độ đỉnh cao nhất của CK-MB xảy ra sớm hơn, vào G0 tương ứng
trước trái (MCC: B)
Trong nghiên cứu của chúng tôi có bệnh thân chung ĐMV là 41 trường
hợp chiếm 46,1%. Trong đó:
17
+ Hẹp 50%-90%: 25 trường hợp (28%)
+ Hẹp > 90%: 16 trường hợp (18%)
Bệnh 3 nhánh ĐMV hẹp có ý nghĩa chiếm 78 trường hợp (87,6%).
Những trường hợp: Bệnh 1 nhánh ĐMV: 6 trường hợp (6,7%), bệnh 2
nhánh ĐMV: 10 trường hợp (11,2%) đều là kết hợp hẹp thân chung hay hẹp
có ý nghĩa đoạn gần của ĐM xuống trước trái hoặc kết hợp bệnh lý van tim.
Bệnh mạch vành kết hợp bệnh van tim có 15 trường hợp (16,8%) ( Bệnh van
2 lá đơn thuần: 10 trường hợp (11,2%), bệnh van ĐMC đơn thuần: 3 trường
hợp (3,3%), bệnh van tim kết hợp: 2 trường hợp (2,2%) ).
Như vậy, chỉ định của nghiên cứu chúng tôi chiếm 100% là nhóm I, là
nhóm nên phẫu thuật vì có lợi cho bệnh nhân.
4.3.2. Kỹ thuật chọn cầu nối:
Trong PTBCĐMV vật liệu sử dụng làm cầu nối là các mạch máu tự thân
(ĐM, TM). Các vật liệu khác như mạch nhân tạo thậm chí cả mạch máu
nguồn gốc động vật cũng không được sử dụng do tắc sớm. Trong 2 vật liệu
ĐM và TM được sử dụng các nghiên cứu đều chỉ ra là ĐM là vật liệu làm cầu
nối tốt nhất (ĐM ngực trong, ĐM quay) ,,. Xu hướng sử dụng càng nhiều cầu
nối ĐM càng tốt.
Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng 89 lần ĐM ngực trong trái, 84
lần ĐM quay và 82 lần TM hiển.
4.3.2.4. Số lượng cầu nối, thời gian kẹp ĐMC và thời gian chạy máy tuần
hoàn ngoài cơ thể:
Về số lượng cầu nối, nghiên cứu của chúng tôi có số cầu nối trung
bình/bệnh nhân = 3,6 ± 0,7 trung vị = 4 (1–5). Nghiên cứu của Tavilla G số
cầu nối trung bình/bệnh nhân là 3,7 ± 0,7 (3–6). Nghiên cứu của Quaini E có
số cầu nối trung bình/bệnh nhân là 2,6 ± 0,8 (1–5).
19
siêu lọc và thuốc chống loạn nhịp. Khi so sánh với các trung tâm, chúng tôi
nhận thấy chỉ định này cũng khá tương đồng với các tác giả khác (nằm trong
khoảng 14,3 - 28,2%).
4.3.3.1. Thời điểm đặt BĐXNĐMC:
Tác giả Creswell, Osama và Tochiana cho rằng việc đặt bóng trước mổ
cho kết quả tốt hơn là đặt bóng trong hay sau mổ, tỷ lệ sống của những bệnh
nhân này cũng khá cao (từ 74% - 90%) ,,. Vì vậy việc chỉ định đặt
BĐXNĐMC một cách rộng rãi hơn trong giai đoạn trước mổ như dự phòng
cho những bệnh nhân PTBCĐMV có nguy cơ cao và tình trạng sốc tim cần ổn
định huyết động trước mổ. Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, có 02 trường
hợp (2,2%) bị sốc tim được đặt bóng tại phòng thông tim can thiệp và tại khoa
ngoại để ổn định huyết động trước khi chuyển sang phòng mổ để phẫu thuật.
Kết quả cai được bóng vào ngày thứ 03 sau mổ và chức năng tim hồi phục
khá tốt.
4.3.3.2. Hiệu quả của BĐXNĐMC trên chức năng co bóp của tim:
Các tác giả Akyurekli, Gabauer , đã ghi nhận BĐXNĐMC giúp tăng cung
lượng tim từ 0,5 - 1 lít/phút, tức là khoảng 30% cung lượng tim của người
bình thường. Nghiên cứu của tác giả Maddoux và Pappas cũng kết luận
BĐXNĐMC có tác dụng làm tăng chức năng tâm thu thất trái. Nichols và Cs
còn chứng minh được đường cong trong biểu đồ tương quan giữa áp lực và
thể tích (Frank - Starling) lệch sang trái. Điều này cho thấy có một sự cải
thiện trong chức năng tống máu của thất trái.
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, việc theo dõi và đánh giá chức năng
tâm thu thất trái bằng siêu âm 2D là thường qui trong giai đoạn hồi sức. Phân
tích cho thấy chức năng tâm thu thất trái bắt đầu được cải thiện từ giờ thứ 72
trở đi sau khi đặt bóng. Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả khác về
hiệu quả của BĐXNĐMC trong việc cải thiện chức năng co bóp của tim.
4.3.3.3 Thời gian rút BĐXNĐMC:
20
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 22/89 trường hợp rối loạn nhịp sau phẫu
thuật (tỉ lệ 24,7%), trong đó 17 trường hợp (tỉ lệ 19,1%) rung nhĩ; 5 trường
hợp (tỉ lệ 5,6%) rối loạn nhịp thất gồm 3 trường hợp nhịp nhanh thất và 2
trường hợp rung thất cần phải sốc điện chuyển nhịp.
4.4.3.2. Các biến chứng không do tim:
- Chảy máu phải phẫu thuật lại:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chảy máu cần phải phẫu thuật lại có 6
trường hợp (tỉ lệ 6,7%). Trong đó 4 trường hợp chảy máu từ các mạch máu
nhỏ của xương ức, 2 trường hợp chảy máu từ mạch máu làm cầu nối.
- Đột quị:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 2 trường hợp đột quị sau phẫu
thuật, chiếm tỷ lệ 2,2%. Không trường hợp hôn mê sâu và cả 2 trường hợp
này đều cải thiện tri giác vận động dần dần về sau.
- Suy thận cấp và lọc thận sau phẫu thuật:
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 14 trường hợp bệnh nhân (tỉ lệ
15,7%) suy thận cấp sau phẫu thuật. Có 5 trường hợp (tỉ lệ 5,6%) cần phải lọc
thận, trong đó có 3 trường hợp tử vong chiếm 60%.
Trong nghiên cứu của tác giả Al-Ruzzch S tỉ lệ suy thận cấp sau phẫu
thuật là 31/199 trường hợp chiếm 15,6%. Trong một nghiên cứu đa trung tâm
với cỡ mẫu 55515 của tác giả Topkara V.K , suy thận cấp cần lọc thận sau
PTBCĐMV là 294 trường hợp (tỉ lệ 1,5%). Tác giả Filsoufi F là 7/424 trường
hợp chiếm 2%, đối với nghiên cứu của Hirose H là 0,8% (1/131). Kết quả
chúng tôi tương đương tác giả Ascione R là 5,1% (9/176). Tỷ lệ tử vong rất
cao (63%) ở những trường hợp suy thận cần phải lọc thận.
So với các nghiên cứu trên, tỉ lệ suy thận cấp cần lọc thận sau phẫu
thuật của chúng tôi khá cao. Tất cả 5 trường hợp suy thận cần phải lọc thận
đều có bệnh căn bản và bệnh kèm theo khá nặng. Có 3 trường hợp chức năng
tim trước mổ kém: 1 trường hợp EF: 20%, 1 trường hợp EF: 25% và 1 trường
22
hợp EF: 35% và có 2 trường hợp kèm theo bệnh lý van tim. Có tới 4/5 trường
Cải thiện chức năng co bóp cơ tim thất trái: 50,22% ± 13,57% so với
trước mổ (33,08 % ± 5,52%) một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,000), cũng
như triệu chứng lâm sàng: mức độ suy tim theo NYHA và tình trạng đau
ngực. Kết quả này tương đồng hầu hết các nghiên cứu trên thế giới về
PTBCĐMV có rối loạn chức năng thất trái.
Nghiên cứu Bouchart và một số tác giả khác cho thấy không những
cải thiện EF (từ 22,2% lên đến 33,5%) mà còn cải thiện rõ rệt tình trạng đau
ngực và mức độ suy tim theo NYHA. Sự cải thiện các rối loạn do thiếu máu
cơ tim so với trước mổ là mấu chốt của việc tái tưới máu cơ tim sau
PTBCMV .
4.5.3. Chất lượng cuộc sống:
Chất lượng cuộc sống sau PTBCĐMV trong nghiên cứu đạt kết quả tốt
gần 100%, tương đồng với các nghiên cứu khác . Phẫu thuật đã giúp bệnh
nhân hạn chế nguy cơ đột tử do nhồi máu cơ tim, hạn chế tình trạng lệ thuộc
vào thuốc đặc biệt là thuốc giãn mạch vành.
KẾT LUẬN
- Để đảm bảo kết quả PT tốt nhất cần thiết làm việc tập thể ( Team work) phối
hợp chặc chẽ giữa nội khoa , ngoại khoa, gây mê hồi sức, tim phổi nhân tạo.
- Kết quả 30 ngày sau phẫu thuật:
+ Kết quả phẫu thuật là khá tốt với tỉ lệ bệnh nhân xuất viện chiếm đến
95,5%.
+ Thời gian nằm hồi sức trung bình 5 ngày, nằm viện trung bình 17 ngày.
+ Các biến chứng sau phẫu thuật: Rối loạn nhịp thất (5,6%), nhồi máu cơ tim
(3,3%), suy tim cung lượng thấp (79,%), chảy máu phải phẫu thuật lại (6,7%),
24
đột quị (2,2%), nhiễm trùng trung thất (chiếm tỉ lệ 1,1%) , suy thận cấp cần
lọc thận (5,6%). Kết quả này tương tự các nghiên cứu khác trên thế giới, chỉ
riêng suy thận cấp cần lọc thận thì tỷ lệ cao hơn.
+ Các yếu tố liên quan đơn biến với tử vong :
. Tuổi > 70 tuổi.