Lời mở đầu
Hơn mời năm qua, công cuộc cải cách và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở
Việt Nam đã diễn ra sôi động, toàn diện, tạo thế và lực cho đất nớc phát triển đi
lên. Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, công cuộc cải cách hành chính cũng đã
đợc triển khai, vai trò quản lý nhà nớc về chính trị, kinh tế, xã hội đã đợc khẳng
định và đợc tăng cờng trong khuôn khổ pháp lý... Tuy nhiên, cho đến nay, nhìn
chung bộ máy quản lý vẫn cồng kềnh, trùng lắp, chồng chéo về chức năng,
nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các cơ quan. Thực trạng biên chế ở các cơ quan có
tình hình vừa thừa, vừa thiếu, cơ cấu các loại công chức còn bất hợp lý, vừa gây
lãng phí lao động, tiền của vừa hạn chế hiệu quả công tác. Về tiền lơng, sau hơn
7 năm thực hiện Nghị định 25-CP ngày 23/5/1993, trong thực tiễn đã và đang
phát sinh một số diễn biến phức tạp, nhiều yếu tố bất hợp lý nảy sinh đòi hỏi
phải đợc giải quyết kịp thời. Chế độ tiền lơng đối với cán bộ, công chức hiện nay
đã và đang gây khó khăn cho việc thu hút ngời có năng lực vào làm việc ở các cơ
quan nhà nớc. Tiền lơng và thu nhập không còn là động lực để phát huy tính tích
cực, sáng tạo của cán bộ, công chức. Phơng thức cấp phát kinh phí hành chính,
sự nghiệp dựa trên cơ sở dự toán chi tiết theo mục lục NSNN, trong khi chất lợng
dự toán của nhiều đơn vị cha cao, cha kịp thời, nhiều khoản chi đợc dự toán và
cấp phát trên cơ sở biên chế hoặc quỹ lơng đã làm giảm động lực tiết kiệm,
không khuyến khích tinh giản biên chế...
Thực tế bức xúc trên đây đặt ra đòi hỏi phải tìm và lựa chọn các giải pháp
để nâng cao hiệu lực của Bộ máy quản lý nhà nớc, nâng cao chất lợng các dịch
vụ công. Đồng thời, cải thiện đời sống cho cán bộ, công chức trên cơ sở sử dụng
kinh phí ngân sách một cách tiết kiệm, hiệu quả. Trong lĩnh vực tài chính, Nhà
nớc hiện nay đã và đang tiến hành hàng loạt biện pháp để góp phần lành mạnh
hoá nền tài chính quốc gia, nâng cao chất lợng quản lý, sử dụng tiết kiệm và có
hiệu quả nguồn lực của đất nớc kể cả việc khẩn trơng xúc tiến cải tiến chế độ
tiền lơng và thực thi các biện pháp đảm bảo xã hội, trong đó thực hiện khoán chi
hành chính và cơ chế tự trang trải là giải pháp cần thiết, có hiệu quả để tạo bớc
đột phá mới.
Mục tiêu của đề tài đặt ra là trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về
một số vấn đề cơ bản về việc thực hiện
2
khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải
I. Khái niệm về khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải.
Để nghiên cứu về khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải trớc hết cần
thống nhất cách hiểu về khái niệm này. Tuy nhiên, sẽ rất khó khăn nếu nh muốn
đa ra những khái niệm hoàn chỉnh. Trong phạm vi Đề tài này, chúng tôi chỉ có ý
định đa ra khái niệm nhằm mục đích thống nhất cách hiểu và qua đó có thể thấy
rõ đợc những điểm cơ bản của những cơ chế này trong số rất nhiều cơ chế quản
lý tài chính đã, đang và sẽ có trong thực tế.
trr Để thống nhất cách hiểu và quan niệm về khoán chi hành chính và cơ chế
tự trang trải, trớc hết cần phân loại các cơ quan, đơn vị mà lâu nay vẫn đợc gọi
chung là đơn vị hành chính sự nghiệp. Các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp
hiện nay có thể phân thành 4 loại nh sau:
I + Cơ quan hành chính thuần tuý;
+ Cơ quan hành chính có thu (chủ yếu do cơ chế, do quy định của nhà n-
ớc cho phép đợc để lại một phần phí, lệ phí, ví dụ nh Kho Bạc Nhà nớc, cơ quan
thuế, Hải quan...);
+ Đơn vị sự nghiệp không có thu, hoặc có nguồn thu rất nhỏ so với nhu
cầu chi (trong thực tế, hầu hết các đơn vị sự nghiệp đều có thu).
+ Đơn vị sự nghiệp có thu, loại này có thể phân thành nhiều loại theo khả
năng cân đối giữa nguồn thu và nhu cầu chi cho hoạt động của đơn vị.
Từ cách phân loại nh trên, cùng với các khái niệm đợc trình bày dới đây,
sẽ cho phép xác định cơ chế quản lý phù hợp với từng loại hình hoạt động của
đơn vị.
1/ Khoán chi hành chính.
Cho đến nay cha từng có ai đa ra khái niệm này một cách chính thức, điều
đó cũng dễ hiểu vì bản thân cụm từ khoán chi cũng đã nói lên những nội dung
cơ bản của nó.
Khoán chi hành chính là một phơng pháp quản lý trong đó Nhà nớc (mà
nh tiền lơng chẳng hạn hoặc có thể tự trang trải một phần các chi phí (tính theo
tổng thể). Nh vậy, theo nghĩa rộng thì hầu hết các đơn vị sự nghiệp có thu đều có
thể thực hiện cơ chế tự trang trải một phần kinh phí, phần tự trang trải đó coi nh
khoán cho đơn vị. Với cách hiểu này, chúng ta có thể xây dựng một cơ chế tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có phân loại các đơn vị theo
mức độ và khả năng tự trang trải.
Tuy vậy, dù hiểu theo cách nào đi nữa thì cơ chế tự trang trải cũng là việc
Nhà nớc (mà trực tiếp là đơn vị có thẩm quyền duyệt dự toán ngân sách) giao
cho các đơn vị sự nghiệp có thu (trừ những đơn vị có nguồn thu nhỏ) đợc dùng
nguồn thu để trang trải toàn bộ hoặc một số chi phí hoạt động của đơn vị ổn định
trong một thời kỳ( một năm hoặc một số năm) để đơn vị có thể chủ động sử dụng
một cách tiết kiệm, hiệu quả nguồn thu trên cơ sở hoàn thành đợc chức năng,
4
nhiệm vụ đợc giao. Phần kinh phí tiết kiệm đợc đơn vị có thể sử dụng vào các
mục đích theo quy định, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ.
Nh vậy, với khái niệm này, phạm vi áp dụng của cơ chế đã đợc xác định
rõ là các đơn vị sự nghiệp có thu và với nguồn thu không quá nhỏ.
Tóm lại, thực chất của khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải là việc
thực hiện chuyển đổi phơng thức quản lý, cấp phát và thanh, quyết toán kinh phí
ngân sách nhà nớc đối với một số cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp.
II/ Sự cần thiết của việc thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự
trang trải.
Thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải có ý nghĩa quan
trọng trên nhiều mặt, cụ thể:
Về vấn đề biên chế, tổ chức bộ máy và hiệu quả công việc của cơ quan:
Với cơ chế khoán chi hành chính, cơ chế tự trang trải, các đơn vị thực hiện sẽ
tích cực sắp xếp lại biên chế, tổ chức và phân công lao động trong cơ quan hợp lý
hơn, xoá bỏ tâm lý muốn tăng biên chế khi cha thực sự cần thiết... từ đó sẽ làm
cho biên chế của cơ quan, đơn vị đợc gọn nhẹ, nâng cao hiệu quả và chất lợng
công việc của đơn vị.
cách thức chi tiêu là do mỗi đơn vị tự quyết định để đạt đợc mục tiêu hoàn thành
nhiệm vụ đợc giao theo chức năng, nhiệm vụ đã đợc quy định. Các cơ quan sẽ
phải tự tổ chức, phân công lại các vị trí công tác để đảm bảo cho việc sử dụng
tiết kiệm và quản lý cán bộ có chất lợng cao nhất.
- Để thực hiện đợc việc cải cách tiền lơng, tăng thu nhập đối với khu vực
hành chính sự nghiệp trong điều kiện ngân sách nhà nớc không phải cấp phát
thêm thì thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải sẽ có tác dụng
mạnh mẽ thúc đẩy các cơ quan đổi mới, rà soát lại để có sự phân định rõ nhiệm
vụ chức năng của từng bộ phận, sắp xếp lại biên chế và điều hành quản lý. Chỉ có
trên cơ sở tổ chức lại lao động hợp lý, quản lý chi tiêu chặt chẽ thì đơn vị mới có
điều kiện để tăng thu nhập cho cán bộ trong đơn vị.
- Thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải là biện pháp hữu
hiệu để hạn chế việc xin tăng biên chế hàng năm, mở rộng quyền tự chủ, quyền
tự quản của đơn vị trong việc điều hành chi tiêu tài chính, nâng cao ý thức tiết
kiệm và tinh thần đấu tranh chống lãng phí của các cán bộ trong đơn vị hành
chính sự nghiệp.
- Tạo điều kiện cho cơ quan, đơn vị có thể thực hiện khuyến khích vật chất
xứng đáng đối với những ngời làm việc có năng lực, có hiệu quả, tạo ra phong
trào thi đua thực sự trong đơn vị, thu hút đợc ngời tài, góp phần hạn chế tình
trạng chảy máu chất xám. Hợp pháp hoá đợc các khoản thu nhập chính đáng của
cán bộ, hạn chế các hiện tợng tiêu cực trong quản lý và lãng phí trong chi tiêu tài
chính. Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi ngời và của tập thể cán bộ, công
chức trong việc thực hiện tốt công việc đợc giao.
6
- Là biện pháp quan trọng thúc đẩy các cơ quan phải thờng xuyên xem xét
lại về tổ chức, về chức năng nhiệm vụ của từng ngời, từng bộ phận cũng nh tự
điều chỉnh các định mức chi tiêu của đơn vị mình sao cho hợp lý, phù hợp với
khả năng tài chính hiện có.
Lợi ích đem lại từ việc khoán quỹ lơng và ngân sách hoạt động là: tăng c-
ờng chủ động cho đn vị hành chính sự nghiệp, xoá bỏ cơ chế "xin-cho", giảm
quan, tổ
chức)
Đầu ra
(sản
phẩm,
dịch vụ,
kết quả
công)
tác)
Đối tợng
đợc h-
ởng,
hoặc
chịu tác
động
Hiệu quả hoạt động của hệ thống:
tơng quan giữa đầu vào và đầu ra (3)
Thông tin phản hồi để đánh giá và điều chỉnh
đầu vào hoặc đầu ra (2)
Hiệu quả: gồm hiệu quả hoạt động của hệ thống và hiệu quả của
chính sách so với mục tiêu đề ra (1)
Sơ đồ trên có thể giải thích đối với mọi lĩnh vực sản xuất, cung ứng dịch
vụ và các hoạt động quản lý của các tổ chức. Tuy nhiên, trong phạm vi Đề tài
này, chúng tôi chỉ trình bày đối với hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ công
của Nhà nớc. Để thực hiện chức năng quản lý và bảo đảm xã hội, Nhà nớc đặt ra
các mục tiêu về quản lý và cung cấp dịch vụ công, đồng thời tổ chức ra hệ thống
các cơ quan, đơn vị để thực hiện (khu vực hành chính sự nghiệp). Để hệ thống đó
có thể hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đợc giao, Nhà nớc phải cung cấp đầu
vào bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực cho các cơ quan, đơn vị. Hoạt động của
hệ thống sẽ tạo ra các sản phẩm đầu ra, những sản phẩm đó đối với khu vực hành
Việc vận dụng lý thuyết quản lý đầu ra:
Theo cách quản lý ngân sách truyền thống thì chi tiêu đợc phân loại bởi
hình thức tổ chức và theo các mục chi cụ thể (mục lục ngân sách), ví dụ nh chi l-
ơng, chi công tác phí, chi vật liệu văn phòng... Để kiểm soát các nguồn lực, các
mục chi đợc phân loại rất chi tiết và ở một số nớc có đến hàng trăm mục chi.
Cách phân chia các khoản chi theo Mục lục ngân sách phù hợp với việc kiểm
soát đầu vào, theo những nguyên tắc cứng, không đợc chuyển từ mục chi này
sang mục chi khác. ở một số nớc, hệ thống kiểm soát đợc thành lập chỉ với mục
đích không cho phép chuyển từ mục chi cho con ngời sang mục chi khác. Nhợc
điểm của cách quản lý ngân sách truyền thống này là quá cứng nhắc, không linh
hoạt trong việc giải quyết những mục tiêu của chính phủ, những vấn đề liên quan
đến ngân sách. Vì vậy, ngay từ đầu những năm 1950 đến nay, hàng loạt các cải
cách về chơng trình ngân sách đợc thực hiện ở cả những nớc phát triển và những
nớc đang trong quá trình công nghiệp hoá để nhằm giải quyết những vấn đề này.
Một trong những cải cách có kết quả đáng kể đó là quản lý chi tiêu công
cộng kiểu mới. Mặc dù đến nay phơng pháp quản lý chi tiêu công kiểu mới đã
trở nên rất quen thuộc ở các nớc phát triển nhng ở nhiều nớc đang phát triển và
một số nớc phát triển ở Đông á thì phơng pháp quản lý công cộng kiểu mới vẫn
còn là vấn đề khá mới mẻ. Phơng pháp quản lý chi tiêu công kiểu mới đợc áp
9
dụng ở các nớc nh úc, Canada, New Zealand, Anh, Mỹ và Singapore... Theo ph-
ơng pháp này, thay vì kiểm soát đầu vào, ngời ta tập trung vào kiểm soát kết quả
đầu ra. Nhiều quốc gia hiện nay rất coi trọng các chỉ số thực hiện ở đầu ra. Trong
các báo cáo hàng năm cũng nh báo cáo ngân sách đều cho thấy rất rõ các thông
tin về hoạt động. Các hợp đồng đợc sử dụng nh một công cụ để cho thấy kết quả
mong đợi và phân chia trách nhiệm trong khu vực công cộng. Quan niệm truyền
thống về hợp đồng giữa ngời mua và ngời cung cấp dịch vụ công đang đợc sử
dụng rộng rãi đặc biệt trong lĩnh vực ngân sách giữa cấp ngân sách trung ơng và
các bộ, ngành, thậm chí trong nội bộ của một cơ quan. ở Anh và úc, ngời ta đã
sử dụng rộng rãi các hợp đồng ký kết về thực hiện dịch vụ công giữa Sở tài chính
Với việc áp dụng lý thuyết quản lý theo đầu ra trong quá trình cải cách, từ
năm 1985, Thuỵ Điển đã thực hiện cấp kinh phí ngân sách cho các cơ quan, đơn
vị theo hớng ổn định, dự toán kinh phí ngân sách đợc lập và thực hiện ổn định
cho 3 năm. Cùng với quá trình cải cách, hệ thống báo cáo kết quả công tác hàng
năm của các cơ quan, đơn vị đã đợc ban hành và thực hiện đều đặn. Các đơn vị
đợc tự xác định và trả lơng cho từng công chức (lơng ngạch, bậc đợc xoá bỏ từ
đầu những năm 90). Các nghĩa vụ của cơ quan, đơn vị và ngời đứng đầu cơ quan
về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đợc thiết lập và coi đó là cơ sở cho việc
quản lý chất lợng công tác.
Sau một loạt những cải cách, ngày nay ở Thuỵ Điển, Chính phủ chỉ ấn
định khối lợng và chất lợng đầu ra của các sản phẩm do các cơ quan hành chính
sự nghiệp cung cấp. Kinh phí ngân sách của từng đơn vị bao gồm lơng và các chi
phí hành chính khác đợc cấp phát một cách ổn định.
Canada:
Lơng đợc trả dựa trên kết quả đàm phán với các tổ chức công đoàn, tiền l-
ơng của công chức tại các địa phơng phụ thuộc vào kết quả đàm phán, khả năng
ngân sách địa phơng...
Kinh phí ngân sách cấp ổn định cho các đơn vị hành chính sự nghiệp,
chuyển từ việc cấp theo mục chi tiết sang những mục tổng hợp, một số đơn vị đ-
ợc cấp phát kinh phí theo hình thức trọn gói (giao trọn gói kinh phí cho việc thực
hiện một số nhiệm vụ cụ thể nào đó đã đợc xác định trớc).
Cộng hoà Pháp:
Hệ thống thang bảng lơng thực hiện theo chức năng của mỗi nghề nghiệp
và thống nhất toàn quốc (do đặc điểm của nền hành chính tản quyền), kinh phí
hành chính đợc giao ổn định, việc dự toán hàng năm (kể cả việc quyết định ngân
sách của Quốc hội chỉ biểu quyết những khoản kinh phí mới, những kinh phí
thực hiện ổn định đợc quyết định chuyển nguyên vẹn sang năm mới). Việc lập và
duyệt dự toán cho các cơ quan hành chính cũng thực hiện nh vậy, những cơ quan
đã hoạt động ổn định thì kinh phí ngân sách hầu nh không thay đổi. Quản lý
kinh phí ngân sách cũng đợc chuyển từ những mục chi rất chi tiết sang những
cho quá trình phi tập trung hoá nhằm tăng cờng khả năng của chính quyền địa
phơng về lực lợng lao động, vốn và công nghệ, khả năng và hiệu quả quản lý của
các xã, các cộng đồng.
Cùng với lý thuyết về quản lý theo đầu ra, cơ sở khoa học cho việc đề xuất
giải pháp thực hiện cơ chế khoán chi hành chính và tự trang trải còn xuất phát từ
cách tiếp cận mới về hiệu quả. Cách tiếp cận mới về hiệu quả đợc áp dụng cho
12
cả khu vực dịch vụ quản lý hành chính. Hiệu quả là mối quan hệ giữa đầu vào và
số lợng, chất lợng đầu ra. Khi các cơ quan HCSN hoàn thành công việc (đầu ra
quy định trớc) thì nâng cao hiệu quả là giảm chi phí đầu vào. Biện pháp để quản
lý chi phí đầu vào trong hoạt động của cơ quan HCSN chính là biện pháp khoán
quỹ lơng, khoán kinh phí ngân sách hoạt động.
4/ Những bài học kinh nghiệm:
Qua kinh nghiệm áp dụng lý thuyết quản lý theo đầu ra trong thực tế của
một số nớc, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam nh sau:
- Trong quản lý tài chính, khi kinh phí đợc giao cho một cộng đồng, một tập
thể tự quản và quyết định thì nó thờng đợc sử dụng hợp lý, sát nhu cầu thực tiễn
và đạt đợc hiệu quả cao hơn.
- Đối với một số cơ quan, tổ chức có quy trình hoạt động phức tạp thì việc
ấn định chi phí đầu vào và quản lý, kiểm soát các sản phẩm đầu ra sẽ buộc tổ
chức đó tự sắp xếp, cải tiến quy trình và sử dụng kinh phí hiệu quả hơn. Đồng
thời, với quy trình đợc cải tiến một cách thờng xuyên, trong điều kiện kiểm soát
chặt chẽ về chất lợng sản phẩm, dịch vụ, các sản phẩm đầu ra của tổ chức đó
cũng luôn đợc nâng cao chất lợng.
- Đối với các cơ quan hành chính nhà nớc và các đơn vị sự nghiệp có thu,
việc thực hiện cơ chế khoán chi và tự trang trải là có thể thực hiện và đem lại
hiệu quả vì: việc phân bổ ngân sách trọn gói, giao đơn vị chủ động về cách thức
chi tiêu sẽ thúc đẩy các cơ quan, đơn vị phải tự tiết kiệm chi tiêu trên nguyên tắc
hạn chế việc tuyển thêm ngời, tổ chức, phân công lại lao động có hiệu quả hơn vì
không ai hiểu hơn chính họ về những vấn đề đó.
ơng, phụ cấp lơng theo quy định nh đối với đơn vị hành chính thuần tuý còn có
thêm một số nguồn thu nhập nh: tiền ăn tra, tiền thởng khá ổn định.
3/ Đơn vị sự nghiệp có thu, có thể tự trang trải một phần hoặc toàn bộ
nhu cầu chi tiêu.
Theo thống kê sơ bộ, cả nớc có khoảng 106.500 đơn vị hành chính sự
nghiệp, trong đó đơn vị sự nghiệp có thu chiếm khoảng 40% (41.400 đơn vị).
Các đơn vị sự nghiệp đợc Nhà nớc đầu t cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí hoạt
động thờng xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đợc giao. Ngoài
ra, đơn vị đợc phép thực hiện một số khoản thu nh: thu các loại phí, lệ phí theo
quy định của Nhà nớc, thu từ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ rất đa
dạng và ở hầu hết các lĩnh vực.
3.1/ Về số thu:
Qua thống kê sơ bộ số thu tại một số khu vực và địa phơng nh sau:
Số thu của một số đơn vị sự nghiệp do Trung ơng quản lý đạt tỷ lệ tơng
đối cao so với kinh phí ngân sách nhà nớc cấp; Năm 1999, số thu của 56 trờng
14
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đạt 304,946 tỷ đồng, bằng 68,43%
kinh phí NSNN cấp; Số thu của 36 bệnh viện đạt 346,811 tỷ đồng, bằng 143,4%
kinh phí NSNN cấp; Số thu của 21 đơn vị thuộc Bộ KHCN&MT, Trung tâm
khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia đạt 6,373 tỷ đồng, bằng 16,4% kinh phí
NSNN cấp.
Số thu của một số đơn vị sự nghiệp do địa phơng quản lý nh sau:
Tỉnh Thanh Hoá, số thu sự nghiệp năm 1999 đạt 121,053 tỷ đồng,
bằng 12,15% kinh phí NSNN cấp. Trong đó lĩnh vực sự nghiệp kinh tế thu sự
nghiệp bằng 12,79% kinh phí NSNN cấp; lĩnh vực giáo dục đào tạo bằng
14,5%; Sự nghiệp y tế bằng 21,68%; văn hoá thông tin là 5,68%, phát thanh
truyền hình: 23%; thể dục thể thao: 0,45%.
Tỉnh Hà Tây: Số thu sự nghiệp đào tạo của 5 trờng đạt 3,414 tỷ đồng
bằng 18,22% kinh phí NSNN cấp; Sự nghiệp giáo dục đạt 30,226 tỷ đồng bằng
14,66%; Sự nghiệp y tế đạt 8,695 tỷ đồng bằng 34,23%; Sự nghiệp văn hoá đạt
ờng đại học kiến trúc 0,025 tỷ đồng, Trờng đại học ngoại ngữ 0,456 tỷ đồng, Tr-
ờng Đại học Mỏ - Địa chất 0,115 tỷ đồng). Trờng Đại học Thuỷ lợi - Bộ
NN&PTNT năm 1997 cha báo cáo quyết toán với Nhà nớc về thu sản xuất dịch
vụ 36,887 tỷ đồng và cha làm nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN.
Về thu nhập của cán bộ: Thu nhập bình quân năm 1999 của một số đơn
vị nh sau: Đài Truyền hình Việt Nam 1,8 triệu đồng/ngời/tháng; Đài tiếng nói
Việt Nam 1,7 triệu đồng/ngời/tháng; Trờng Đại học Kiến trúc 1 triệu đồng/ng-
ời/tháng; Trờng Đại học Mỏ - Địa chất 1,5 triệu đồng/ngời/tháng.
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh: Năm 1999 riêng chi khen thởng từ
nguồn thu 30% viện phí của khám chữa bệnh Bộ Y tế là 80,566 tỷ đồng, bình
quân 6,387 triệu đồng/ngời/năm (cha kể số lao động hợp đồng), trong đó cao
nhất là bệnh viện Chợ Rẫy bình quân 16,28 triệu đồng/ngời/năm, thấp nhất là
bệnh viện tâm thần TW bình quân 2,79 triệu đồng/ngời/năm; Nếu tính cho cả lao
động hợp đồng thì thu nhập bình quân thấp hơn.
II/ Thực trạng về cơ chế quản lý kinh phí ngân sách đối với các đơn vị
hành chính sự nghiệp.
1/ Về phân bổ kinh phí ngân sách:
Theo quy định hiện hành, các đơn vị dự toán ngân sách nhà nớc đều phải
xây dựng dự toán để làm căn cứ phân bổ kinh phí. Dự toán đợc duyệt là cơ sở để
quản lý, cấp phát, thanh quyết toán kinh phí ngân sách cấp cho đơn vị. Tuy
nhiên, việc phân bổ kinh phí thờng dựa trên các định mức tổng hợp để bố trí kinh
phí chi thờng xuyên ở các đơn vị hành chính sự nghiệp, các định mức này thờng
đợc tính theo biên chế, hoặc quỹ lơng của đơn vị. Có những khoản chi thờng
xuyên do không có hoặc nếu có thì định mức, chế độ chi tiêu đa ra không phù
hợp với thực tế nên đã dẫn đến nhiều hiện tợng lãng phí.
Nhiều tiêu chuẩn định mức chi tiêu đã lạc hậu, thiếu cụ thể và không còn
phù hợp. Dự toán nhiều khoản chi thờng xuyên ở các đơn vị hành chính sự
16
nghiệp thờng đợc tính theo đầu ngời, theo quỹ lơng, dẫn đến không thực hiện đ-
ợc việc giảm biên chế, mà còn có tác dụng ngợc lại, ngầm khuyến khích tăng
và sau đó xin điều chỉnh dự toán cho phù hợp với thực tế đã chi để đợc chấp nhận
thanh, quyết toán, nổi bật nhất là các khoản chi tiếp khách, hội nghị; tổng kết;
điện thoại,... Điều này làm nảy sinh cơ chế xin - cho rất tiêu cực.
17
3/ Về quản lý các nguồn thu và sử dụng nguồn thu của các đơn
vị sự nghiệp:
Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, phần kinh phí đợc ngân sách nhà nớc
cấp (ngoài phần thu đợc để lại cho đơn vị và trừ vào tổng dự toán kinh phí hoạt
động của đơn vị) đợc quản lý nh phần kinh phí ngân sách cấp cho các cơ quan
hành chính thuần tuý (không có thu). Với phần thu đợc để lại để chi cho các hoạt
động thờng xuyên của đơn vị, sau khi trang trải hết các khoản chi theo quy định
(cùng với phần kinh phí đợc cấp), nếu còn thừa thì đơn vị đợc trích quỹ khen th-
ởng và quỹ phúc lợi nhng tối đa không quá 3 tháng lơng bình quân. Các khoản
chi của đơn vị kể cả khoản chi từ nguồn thu sự nghiệp đợc để lại đơn vị phải thực
hiện đúng dự toán đợc duyệt (dự toán chi chung cho toàn bộ phần kinh phí đợc
cấp và kinh phí đợc để lại), đúng tiêu chuẩn và định mức hiện hành. Chính vì vậy
mà nhiều đơn vị có nguồn thu đợc để lại nhng cơ chế không cho phép nên không
chi đợc và phải nộp lại ngân sách nhà nớc dẫn đến tình trạng đơn vị không tích
cực, chủ động trong việc khai thác tăng nguồn thu, không có động lực khuyến
khích sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đối với kinh phí đợc cấp và cả đối với nguồn
thu đợc để lại (với những lý do tơng tự nh đối với các cơ quan hành chính thuần
tuý).
Cơ chế quản lý tài chính và sử dụng nguồn thu:
Trong thực tế, hầu hết các đơn vị sự nghiệp, trên cơ sở chức năng, nhiệm
vụ đợc giao đã tận dụng cơ sở vật chất sẵn có tổ chức hoạt động sản xuất, dịch
vụ, làm ngoài kế hoạch nhằm mục đích tạo thêm nguồn thu để tăng thu nhập, cải
thiện đời sống cho cán bộ, công chức. Một số đơn vị đã thực hiện theo các quy
định của Nhà nớc cho riêng lĩnh vực của mình về mức thu phí, lệ phí và các quy
định khác (ví dụ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế đã có các quy định về học
phí, viện phí...), song cũng có nhiều đơn vị vẫn còn tuỳ tiện trong tổ chức hoạt
27/8/994 về việc thu một phần viện phí, Nghị định số 33/CP ngày 23/5/1995 sửa
đổi điểm 1, điều 6 Nghị định số 95/CP; Thông t số 14/TTLB ngày 30/9/1995 của
Liên bộ Tài chính - Bộ Lao động TBXH -Ban vật giá Chính phủ hớng dẫn thực
hiện việc thu một phần viện phí.
Ngoài học phí và viện phí, các đơn vị có thu phí, lệ phí nh: phí, lệ phí
kiểm dịch thực vật; phí, lệ phí kiểm dịch thú y; lệ phí kiểm tra chất lợng và vệ
sinh thuỷ sản thực hiện theo Nghị định số 04/1999/NĐ-CP ngày 30/1/1999 của
Chính phủ về phí, lệ phí thuộc NSNN; Thông t số 54/1999/TT/BTC ngày
10/5/1999 của Bộ tài chính hớng dẫn thực hiện Nghị định số 04 và các Thông t
quy định chế độ thu, sử dụng đối với từng loại phí, lệ phí.
4/ Về tiền lơng và thu nhập:
Về cơ chế quản lý quỹ tiền lơng, cho đến nay, biên chế của các đơn vị hành chính
sự nghiệp đang thực hiện theo chế độ định biên và tổng quỹ lơng của các đơn vị
phụ thuộc vào biên chế đợc duyệt và hệ số lơng ngạch, bậc; những khoản chi có
tính chất lơng cũng đợc bố trí tăng theo mức tăng của tổng lơng ngạch, bậc. Cơ
19
chế đó đã không khuyến khích các đơn vị tổ chức công việc của mình một cách
hiệu quả, tiết kiệm lao động. Mặt khác, việc bố trí khoản kinh phí chi khác lại lấy
tổng mục chi lơng làm căn cứ tính toán càng làm cho thủ trởng các đơn vị có tâm
lý muốn đợc tăng biên chế cho đơn vị mình mà không căn cứ vào nhu cầu công
việc. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chia nhỏ công việc
để bố trí đủ việc cho cán bộ, công chức trong đơn vị làm cho tổ chức công việc
theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị bị chia cắt, bộ máy cồng kềnh và điều quan
trọng hơn là làm giảm hiệu quả hoạt động của đơn vị, đội ngũ cán bộ, công chức
cũng vì vậy mà không phát huy đợc hết năng lực, chất lợng bị ảnh hởng.
Thực trạng về tiền lơng và thu nhập của cán bộ, công chức hiện nay có khá
nhiều bất cập đòi hỏi phải có cơ chế cải thiện thu nhập cho cán bộ công chức
trong điều kiện ngân sách nhà nớc không phải tăng chi và cha có điều kiện để thực
hiện cải cách cơ bản về tiền lơng. Một trong những mục đích của khoán chi và cơ
chế tự trang trải là tạo điều kiện cải thiện thu nhập trên cơ sở sử dụng tiết kiệm
chức của nớc ngoài tại Việt Nam.
5/ Những tồn tại và nguyên nhân:
Từ các phân tích trên đây cho thấy những vấn đề tồn tại chủ yếu trong quản lý
tài chính nhà nớc nói chung và quản lý trong khu vực hành chính sự nghiệp nói
riêng đợc thể hiện qua các nội dung sau:
Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung:
- Hiệu quả hoạt động thấp, hiệu lực của cơ quan quản lý nhà nớc và chất l-
ợng dịch vụ công do các đơn vị sự nghiệp cung cấp bị giảm sút, cha đáp ứng đợc
yêu cầu của xã hội.
- Năng suất và hiệu quả lao động trong khu vực này thấp, bộ máy cồng
kềnh, nặng nề, nhiều tầng nấc và đầu mối, thủ tục hành chính chậm đợc cải tiến.
- Biên chế của khu vực tăng nhanh, đội ngũ cán bộ công chức đông đảo
nhng không mạnh, tình trạng vừa thừa vừa thiếu cán bộ khá phổ biến do thu nhập
của ngời lao động trong khu vực thấp nên không thu hút đợc ngời có năng lực,
không khuyến khích những ngời đã đợc tuyển dụng tích cực học tập nâng cao
năng lực.
- Tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực tài chính (kinh phí ngân sách
và các nguồn thu theo quy định), lao động và tài sản khá phổ biến do thiếu
khuyến khích vật chất dể thúc đẩy tiết kiệm.
Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng:
- Các đơn vị sự nghiệp trong thực tiễn đã giải quyết tăng một phần thu
nhập từ hoạt động có thu ngoài lơng cấp bậc, chức vụ hiện hành, nhng cha có văn
bản pháp quy về việc tăng thu nhập, nên có tình trạng khá phổ biến hiện nay là
các đơn vị dấu nguồn thu, báo cáo không đầy đủ đối với nhà nớc. Điều này khó
kiểm tra, kiểm soát.
- Các hoạt động có thu thực hiện theo Thông t số 01TC/HCVX ngày
4/1/1994 và Thông t số 25TC/TCT ngày 25/3/1994 của Bộ Tài chính, nhng đến
21
nay các quy định không còn phù hợp do loại hình hoạt động của các đơn vị ngày
càng đa dạng.
kiệm trong sử dụng kinh phí giảm, tình trạng lãng phí công quỹ tăng.
- Là một trong các nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng lao động xã
hội, tăng tình trạng lãng phí trong xã hội.
22
Chơng III
các giải pháp tài chính để thực hiện
khoán chi hành chính và cơ chế tự trang trải
I. Một số quan điểm về thực hiện khoán chi hành chính và cơ chế tự
trang trải.
Khoán chi hành chính đối với các cơ quan hành chính thuần tuý và thực
hiện cơ chế tự trang trải đối với các đơn vị sự nghiệp có thu cần phải thực hiện
một cách thận trọng trên cơ sở quán triệt các quan điểm cơ bản sau:
Một là: Không khoán trắng, giao khoán hoặc cho phép tự trang trải đối
với tất cả các khoản chi, chỉ thực hiện đối với những khoản chi có liên quan trực
tiếp tới khả năng, chất lợng quản lý, ý thức tiết kiệm và ảnh hởng trực tiếp tới
hoạt động của đơn vị (không thực hiện đối với chi đầu t).
Các khoản chi của các đơn vị hành chính sự nghiệp có rất nhiều, trong đó
có những khoản chi không thể thực hiện khoán hoặc giao cho đơn vị tự trang trải
vì nó ít ảnh hởng tới hoạt động của đơn vị trong ngắn hạn nhng về lâu dài thì lại
có ảnh hởng lớn. Với những khoản chi đó, nếu khoán thì có thể dẫn đến tình
trạng đơn vị vì lợi ích trớc mắt (tăng thu nhập) mà hạn chế chi, ảnh hởng tới khả
năng hoạt động của đơn vị trong trung và dài hạn hoặc làm xuống cấp các tài sản
mà đơn vị đợc giao quản lý và sử dụng (các bất động sản). Mặt khác, một trong
những mục đích của các cơ chế này là nhằm tạo động lực khuyến khích tiết
kiệm, vì vậy cũng chỉ nên khoán với những khoản chi mà việc sử dụng nó có liên
quan nhiều tới ý thức tiết kiệm.
Hai là: Thực hiện khoán chi và cơ chế tự trang trải phải đảm bảo đạt đợc
các mục tiêu đề ra một cách đồng bộ, tránh thiên lệch về một mục tiêu nào, nhất
là chỉ vì mục tiêu tăng thu nhập và tránh xu hớng thơng mại hoá các hoạt động
sự nghiệp.
một vấn đề mới và phức tạp, nhạy cảm. Vì vậy, cần phải đợc nghiên cứu kỹ lỡng,
có bớc đi thận trọng và thích hợp mà trớc hết là phải thực hiện thí điểm để từ đó
tổng kết, đánh giá , rút kinh nghiệm để làm cơ sở cho việc triển khai mở rộng.
Quá trình triển khai mở rộng cũng cần làm từng bớc, mở rộng dần cả về phạm vi,
đối tợng và nội dung các khoản chi đợc áp dụng.
Năm là: Khoán chi và tự trang trải phải đảm bảo nguyên tắc công khai,
dân chủ trên cơ sở tự quản.
Thực hiện khoán chi và tự trang trải, quyền chủ động và quyết định việc
sử dụng kinh phí của đơn vị đợc nâng lên đáng kể, việc sử dụng kinh phí tiết
kiệm đợc gần nh hoàn toàn thuộc quyền của đơn vị (Nhà nớc chỉ khống chế một
số mục đích và mức chi nhng với một khung rất rộng). Trong điều kiện nh vậy,
24
nếu không thực hiện tốt việc công khai tài chính và thực hiện cơ chế dân chủ
trong đơn vị thì rất có thể dẫn đến tình trạng chuyên quyền, độc đoán của thủ tr-
ởng đơn vị, tình trạng phân phối không công bằng và dẫn đến nghi ngờ, mất
đoàn kết, ảnh hởng tới chất lợng và hiệu quả hoạt động.
Sáu là: Khoán chi và tự trang trải phải đi đôi với việc tăng cờng quản lý
chất lợng công việc và dịch vụ công của các cơ quan, đơn vị thực hiện. Đảm bảo
đợc chức năng, nhiệm vụ của đơn vị đã đợc cấp có thẩm quyền quyết định với
chất lợng không đợc thấp hơn.
Đây cũng là một trong những đòi hỏi và là nội dung của lý thuyết quản lý
theo đầu ra, khi kinh phí đợc giao ổn định và đơn vị có quyền chủ động sử dụng
thì mục tiêu quản lý phải tập trung vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan hành chính (cả về lợng và chất) và quản lý về số lợng, chất lợng dịch
vụ công mà các đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm cung cấp.
Bảy là: Thực hiện khoán chi và cơ chế tự trang trải vẫn phải bảo đảm
quyền lợi hợp pháp cho cán bộ, công chức và ngời lao động trong đơn vị.
Đơn vị thực hiện khoán chi và cơ chế tự trang trải đợc quyền chủ động
trong việc sắp xếp lại tổ chức, phân công lại lao động để thực hiện tinh giản biên
chế và có quyền chủ động sử dụng nguồn thu đợc để lại, quyết định việc phân